Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 – BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:123/2025/HS-ST

Ngày 30/10/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Đô
  2. Ông Nguyễn Xuân Trường

Thư ký phiên toà: Bà Chu Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện VKSND Khu vực 2 – Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng N – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 94/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Văn P, sinh năm 1999. Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: không.

Nơi đăng ký thường trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã Q, tỉnh Lạng Sơn).

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: không.

Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 6/12.

Con ông: Nông Văn N1.

Con bà: Đỗ Thị V.

Anh, chị em: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.

Vợ: Hoàng Thị H, sinh năm 2002.

Con: Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/6/2025 đến nay; hiện tạm giam tại Phân trại tạm giam V, Trại tạm giam số 02, Công an tỉnh B.

Bị hại: Chị Chu Thị Như Q, sinh năm 2002. Vắng mặt

Nơi thường trú: thôn G, xã T, tỉnh Lạng Sơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Nông Văn N1, sinh năm 1972. Vắng mặt

Nơi thường trú: thôn M, xã Q, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nông Văn P, sinh năm 1999, nơi thường trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã Q, tỉnh Lạng Sơn), nơi ở: Tổ dân phố S, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh), làm công nhân Công ty trách nhiệm hữu hạn C, ở Khu công nghiệp Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh). Khi làm việc, P đã quen và yêu chị Chu Thị Như Q, sinh năm 2002, trú tại: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã T, tỉnh Lạng Sơn) là người làm cùng Công ty. Do không có tiền chi tiêu, nên trong khoảng thời gian từ ngày 19/5/2025 đến ngày 13/6/2025, P đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản và 02 vụ sử dụng mạng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chị Q, cụ thể:

* Về tội trộm cắp tài sản:

Vụ thứ nhất: Buổi tối ngày 19/5/2025, sau khi tan làm tại Công ty C, chị Q điều khiển xe mô tô chở P ngồi sau đưa P về phòng trọ của P ở tổ dân phố S, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh). Khi lên xe, P phát hiện chị Q để điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng Gold, dung lượng 128GB, lắp 01 thẻ sim nhà mạng Viettel, đeo ốp lưng bằng nhựa cứng màu đen có chữ “Baby” ở túi quần phía sau bên phải đang mặc, nên nảy sinh ý định trộm cắp mang đi bán lấy tiền chi tiêu. Khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, khi đi đến đoạn đường Q, thuộc phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh), lợi dụng chị Q đang lái xe không để ý, P dùng tay phải lén lút rút trộm điện thoại nêu trên của chị Q rồi tắt nguồn và cất giấu cất vào túi quần phía sau bên trái P đang mặc. Khi chị Q đưa P về đến phòng trọ của P, chị Q kiểm tra và phát hiện mất điện thoại di động. Lúc này, P giả vờ không biết, chị Q nghĩ là điện thoại bị rơi nên điều khiển xe mô tô đi cùng P quay lại đường vừa đi để tìm nhưng không thấy. Chị Q đã mượn điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus của P vào tài khoản Messenger của P nhắn tin đến tài khoản Messenger của em gái chị Q là chị Chu Thị Quỳnh N2, sinh năm 2007, trú tại: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã T, tỉnh Lạng Sơn), bảo chị N2 gửi thông tin các mật khẩu tài khoản cá nhân chị Q lưu ở trên điện thoại chị N2. Sau khi được chị N2 gửi thông tin, chị Q trả lại điện thoại cho P, không xoá nội dung tin nhắn. P một mình về phòng trọ và kiểm tra tin nhắn giữa chị Q và em gái thì phát hiện nội dung tin nhắn có thông tin mật khẩu các tài khoản Ngân hàng của chị Q. Đối với điện thoại vừa trộm cắp được, Phú tự nhập ngẫu nhiên ngày tháng năm sinh của chị Q số “231002” thì mở được mật khẩu màn hình điện thoại di động của chị Q. Phú kiểm tra mục ghi chú trên điện thoại thì thấy chị Q lưu các mật khẩu đăng nhập Internet Banking Ngân hàng V1, mật khẩu tài khoản Ví Momo của chị Quỳnh T với thông tin mật khẩu xem được ở đoạn tin nhắn của chị Q và chị N2.

Ngày 23/5/2025, P tháo ốp điện thoại Iphone 12 Promax cất ở phòng trọ, tháo sim điện thoại vứt đi, rồi đi xe ôm của một người đàn ông không biết họ tên, địa chỉ đến thành phố B để bán điện thoại. Tại đây, P vào một cửa hàng điện thoại không nhớ tên, địa chỉ rồi bán điện thoại trộm cắp của chị Q cho một người đàn ông trong cửa hàng được số tiền 2.800.000 đồng. Khi bán điện thoại nói dối là tài sản của P. Số tiền bán điện thoại có được, P đã chi tiêu cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Tối ngày 31/5/2025, P đến phòng trọ của chị Q tại tổ dân phố Q, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) ngồi chơi. Khoảng 20 giờ cùng ngày, thấy chị Q đi tắm, P đã lục túi sách của chị Q để trong phòng rồi lấy cắp 01 thẻ ATM Ngân hàng V1 số thẻ 9704365521407191016 mang tên “CHU THỊ NHU QUYNH”, mang về phòng trọ của P cất giấu, đợi đến khi chị Q có lương thì P sẽ rút tiền trong tài khoản Ngân hàng của chị Q. Khoảng 17 giờ ngày 13/6/2025, biết chị Q đã được Công ty trả lương qua thẻ Ngân hàng, P đi đến cây rút tiền ATM của Ngân hàng V1, đặt ở Khu công nghiệp Q để rút tiền. P nhập mật khẩu số “180902” chị Q lưu trong điện thoại khi trộm cắp rồi lần lượt rút được số tiền 10.000.000 đồng, 2.000.000 đồng trong thẻ Ngân hàng của chị Q. Sau khi rút được số tiền nêu trên, P đã tự chi tiêu cá nhân hết.

* Về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản:

Vụ thứ nhất: Ngày 19/5/2025, sau khi trộm cắp điện thoại và biết các mật khẩu tài khoản cá nhân lưu trong máy của chị Q, P đăng nhập mở ứng dụng Internet Banking Ngân hàng V1 của chị Q, kiểm tra số dư tài khoản 3.000.000 đồng, đăng nhập ứng dụng Ví Momo liên kết với tài khoản Ngân hàng V1 chị Q, thấy số dư tài khoản 4.000.000 đồng nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền trong các tài khoản trên. Tối cùng ngày, P đến khu vực cạnh Công ty H1, ở Khu công nghiệp V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh), mua hoa quả của người bán hàng rong với số tiền 95.000 đồng. P sử dụng điện thoại trộm cắp của chị Q truy cập vào ứng dụng tài khoản Internet Banking Ngân hàng V1 số 1017311595 của chị Q, chuyển khoản số tiền 3.340.000 đồng vào số tài khoản 84952711117111 Ngân hàng cổ phần Q1 (M1) mang tên “Nguyễn Thị L” do chủ hàng cung cấp để mua hoa quả. Số tiền thừa 3.245.000 đồng còn lại P nhờ người bán hàng chuyển sang tiền mặt trả P. P nhận tiền rồi trở về phòng trọ.

Vụ thứ hai: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 20/5/2025, P đến một hàng giày dép ở vỉa hè tại tổ dân phố M, thị trấn N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh) mua 01 đôi dép hết 65.000 đồng. P sử dụng điện thoại di động trộm cắp của chị Q truy cập vào tài khoản Ví Momo chuyển khoản số tiền 4.000.000 đồng trong tài khoản chị Q đến số tài khoản 1012734705 Ngân hàng V1 mang tên “Nguyễn Thị Ngọc T1” do chủ hàng cung cấp để mua dép. Số tiền thừa 3.935.000 đồng còn lại, P nhờ người bán hàng chuyển sang tiền mặt trả P. Số tiền chiếm đoạt từ tài khoản ngân hàng và Ví M chị Q, P đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 16/6/2025, chị Chu Thị Như Q phát hiện tài khoản Ngân hàng bị mất tiền nên làm đơn trình báo Đồn Công an Q2 sự việc và giao nộp 01 bản sao kê Ngân hàng V1 số tài khoản 1017311595 mang tên chị Q ngày 13/6/2025 thể hiện 2 mã rút tiền tại cây ATM Khu công nghiệp Q, Bắc Giang lần lượt số tiền 10.000.000 đồng và 2.000.000 đồng; 03 hình ảnh chụp thông tin cuộc nói chuyện nhắn tin trên ứng dụng Messenger khi chị Q mượn điện thoại của P nhắn tin cho em gái hỏi thông tin mật khẩu các tài khoản cá nhân.

Cùng ngày 16/6/2025, thấy hành vi phạm tội đã bị phát hiện, Nông Văn P đã đến Đồn Công an Q2 đầu thú và giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu xám đã qua sử dụng; 01 thẻ Ngân hàng V1 số 9704365521407191016 mang tên “CHU THỊ NHU QUYNH”; 01 ốp lưng điện thoại Iphone 12 Promax bằng nhựa cứng màu đen, trên ốp có chữ “Baby” màu trắng, đã qua sử dụng. Sau đó, Đồn Công an Q2 đã bàn giao P cùng vật chứng, tài liệu có liên quan đến Cơ quan điều tra Công an tỉnh B (nay là Công an tỉnh B) để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 19/6/2025, chị Q giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 bản sao kê tài khoản Ngân hàng V1 số tài khoản 1017311595 mang tên chị Q thể hiện: ngày 19/5/2025 số tài khoản Ngân hàng của chị Q bị trừ số tiền 3.340.000 đồng; 01 hình ảnh giao dịch chuyển số tiền 4.000.000 đồng từ tài khoản Ví Momo chị Q đến số tài khoản ngân hàng Thương mại cổ phần N3 số tài khoản 1012734705 mang tên “Nguyễn Thị Ngọc T1”.

Cơ quan điều tra đã yêu cầu Ngân hàng Thương mại cổ phần N3 cung cấp thông tin chủ số tài khoản, sao kê giao dịch từ ngày 12/6/2025 đến ngày 14/6/2025 của số tài khoản 0117311595 và hình ảnh đối tượng rút tiền số tài khoản trên ngày 13/6/2025; yêu cầu Công ty cổ phần D (Momo) cung cấp chủ tài khoản Ví Momo liên kết với Ngân hàng V1 số tài khoản 0117311595, sao kê giao dịch Ví Momo từ ngày 19/5/2025 đến ngày 21/5/2025. Tại kết quả trả lời của ngân hàng V1 và Công ty cổ phần D (Momo) đều thể hiện chủ tài khoản Ví Momo liên kết với tài khoản Ngân hàng V1 số 1017311595 là chị Chu Thị Như Q; kết quả sao kê giao dịch trong tài khoản Ngân hàng và Ví Momo các ngày liên quan trùng khớp với thông tin, hình ảnh sao kê chị Q đã giao nộp. Cơ quan điều tra đã cho Nông Văn P xem các sao kê giao dịch trên và hình ảnh đối tượng rút tiền tại cây ATM ngày 13/6/2025, P xác định là P thực hiện để chiếm đoạt tiền của chị Q.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 112 ngày 24/6/2025, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh) đã định giá và kết luận tổng trị giá tài sản chị Q bị trộm cắp nêu trên là 7.878.333 đồng, cụ thể: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu vàng gold, dung lượng 128GB đã qua sử dụng trị giá 7.833.333 đồng; 01 ốp lưng điện thoại di động Iphone 12 Promax bằng nhựa cứng, trên ốp có chữ Baby, đã qua sử dụng trị giá 10.000 đồng; chi phí cấp lại 01 sim số điện thoại nhà mạng Viettel trị giá 35.000 đồng.

Đối với số tài khoản 84952711117111 Ngân hàng cổ phần Q1 (M1) mang tên “Nguyễn Thị L” và số tài khoản 1012734705 Ngân hàng V1 mang tên “Nguyễn Thị Ngọc T1” do P sử dụng tài khoản chị Q để chuyển khoản trả tiền mua hàng sau đó rồi chiếm đoạt tiền trong các tài khoản Ngân hàng và tài khoản Ví M chị Q. Cơ quan điều tra đã yêu cầu Ngân hàng liên quan cung cấp thông tin chủ số tài khoản, sao kê giao dịch các ngày liên quan xác định chủ tài khoản số 84952711117111 Ngân hàng cổ phần Q1 (M1) là chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1997, địa chỉ: số I, tổ A, khu phố F, xã T, tỉnh Đồng Nai; chủ số tài khoản số 1012734705 Ngân hàng V1 là chị Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1995, địa chỉ: số C N, phường G, tỉnh Tây Ninh. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an xã T, tỉnh Đồng Nai cung cấp chị Nguyễn Thị L đã sinh sống tại Singapore từ lâu, hiện không còn ở địa phương; tiến hành lấy lời khai đối với chị Nguyễn Thị Ngọc T1 cho biết chị có đăng ký và sử dụng thông tin cá nhân đăng ký số tài khoản Ngân hàng V1 chi nhánh thành phố T, tỉnh Tây Ninh từ tháng 02/2020 để giao dịch tiền tuy nhiên đến đầu năm 2025 chị làm rơi mất thẻ ATM hiện không rõ ai đang quản lý, sử dụng.

Về vật chứng: tiền chiếm đoạt được bị can đã chi tiêu hết, sim điện thoại đã vứt đi, điện thoại bị can trộm cắp đã bán không nhớ chỗ bán nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Cơ quan điều tra đã trả lại 01 vỏ ốp điện thoại di động cùng thẻ ATM thu giữ được nêu trên cho bị hại và nhập kho vật chứng đối với điện thoại Iphone 6S Plus của bị can để xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động bố đẻ là ông Nông Văn N1 bồi thường cho chị Q số tiền 27.300.000 đồng; hiện tại chị Q không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự.

Tại phiên toà hôm nay các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát Khu vực 2 – Bắc Ninh trước phiên toà hôm nay vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố.

Sau khi đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự .

Xử phạt bị cáo Nông Văn P từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản.

Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nông Văn P từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Sử dụng mạng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Tổng hợp hình phạt buộc Nông Văn P phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/6/2025.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu, nên không xem xét.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus, màu xám imei 353331076686098 đã qua sử dụng thu giữ là tài sản của Nông Văn P, không sử dụng phạm tội nên cần trả lại cho P, nhưng tạm giữ để thi hành án.

* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận gì.

-Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và đề nghị trả cho bị cáo chiếc điện thoại của bị cáo giao nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh tụng, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác, nhận thấy:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B (nay là tỉnh Bắc Ninh), Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (nay là Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Bắc Ninh) Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, tuy nhiên đã có đầy đủ lời khai của họ trong hồ sơ được công bố tại phiên tòa, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt là phù hợp theo Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã hoàn toàn khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với hành vi phạm tội, kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; tang vật thu giữ và các tài liệu khác do Cơ quan điều tra, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Về hành vi trộm cắp tài sản:

Lần thứ nhất: Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 19/5/2025, tại đường Q thuộc phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (nay là phường T, tỉnh Bắc Ninh); lợi dụng chị Q điều khiển xe mô tô chở P ngồi sau, P đã lén lút trộm cắp được 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu vàng Gold, dung lượng 128GB, đeo ốp lưng bằng nhựa cứng màu đen, lắp 01 sim nhà mạng V2, có tổng trị giá 7.878.333 đồng là tài sản của chị Q đút ở túi quần phía sau.

Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 31/5/2025, tại phòng trọ của chị Q ở tổ dân phố Q, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh), P đã lén lút trộm cắp 01 thẻ ATM Ngân hàng V1 của chị Q. Sau đó, ngày 13/6/2025 P đã sử dụng thẻ ATM đi đến cây ATM rút trộm liên tiếp được tổng cộng 12.000.000 đồng (một lần 10.000.000 đồng, 2.000.000 đồng) trong tài khoản thẻ ATM của chị Q.

Tổng giá trị tài sản P trộm cắp được trong hai lần nêu trên là 19.878. 333 đồng.

* Về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản:

Sau khi trộm cắp được điện thoại di động chị Q và thấy các thông tin mật khẩu tài khoản Internet Banking Ngân hàng V1, mật khẩu V lưu trong điện thoại, P đã thực hiện 02 vụ truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Internet Banking và tài khoản Ví M của chị Q để chiếm đoạt tổng số tiền 7.340.000 đồng của chị Q, cụ thể:

Lần thứ nhất: Tối ngày ngày 19/5/2025, tại Khu công nghiệp V, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh); P đã sử dụng điện thoại trộm cắp của chị Q, truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Internet Banking Ngân hàng V1 số 1017311595 của chị Q, rồi chiếm đoạt số tiền 3.340.000 đồng trong tài khoản.

Lần thứ hai: Sáng ngày 20/5/2025, tại tổ dân phố M, thị trấn N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (nay là phường N, tỉnh Bắc Ninh); P tiếp tục P sử dụng điện thoại di động trộm cắp của chị Q, truy cập vào tài khoản Ví Momo của chị Q rồi chiếm đoạt 4.000.000 đồng trong tài khoản.

Như vậy, Cáo trạng số 93/CT-VKS ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh truy tố bị cáo Nông Văn P về tội “ Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, ngoài ra còn xâm phạm đến an toàn xã hội và an ninh mạng, gây lo lắng, hoang mang trong quần chúng

nhân dân. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt nghiêm khắc đối bị cáo mới đủ răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

[3]. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

Về nhân thân: Bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa bị đưa ra xét xử cũng như xử phạt vi phạm hành chính lần nào.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nông Văn P hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, các lần trộm cắp tài sản đều thỏa mãn cấu thành tội phạm, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là phạm tội hai lần từ lên đối với tội trộm cắp tài sản.

Về tội “sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” bị cáo đã chịu tình tiết tăng nặng định khung hình phạt theo điểm b khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự là phạm tội hai lần trở lên, do đó bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã tự nguyện vận động bố đẻ là ông Nông Văn N1 trả lại tài sản và đầu thú. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4]. Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với tội trộm cắp tài sản là phù hợp với hành vi bị cáo, nên cần chấp nhận mức hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên. Đối với tội “sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị chưa tương xứng với hành vi này, bởi trong giai đoạn hiện nay loại hình tội phạm này ngày càng ra tăng và có chiều hướng phức tạp do vậy Hội đồng xét xử cần xử bị cáo mức hình phạt cao hơn mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị mới đủ răn đe và phòng ngừa chung.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Chu Thị Như Q đã nhận lại tài sản và nhận bồi thường thiệt hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nông Văn N1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường thiệt hại cho chị Q thay bị cáo. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6]. Về xử lý vật chứng: Căn điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus, màu xám imei 353331076686098 đã qua sử dụng thu giữ là tài sản của Nông Văn P không sử dụng phạm tội nên cần trả lại cho P, nhưng tạm giữ để thi hành án là có căn cứ chấp nhận.

[7]. Về án phí: Bị cáo không thuộc đối tượng được miễn, giảm án phí do đó căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị

quyết số 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nông Văn P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ quy định điểm b khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nông Văn P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

Về tổng hợp hình phạt: Căn cứ Điều điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/6/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus, màu xám imei 353331076686098 đã qua sử dụng, nhưng tạm giữ để đảm bao thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nông Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người

phải thi hành án Dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Khu vực 2 – Bắc Ninh;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQĐT, CQTHAHS CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Công thông tin điện tử Tòa án;
  • - UBND xã Quốc Khánh, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2025/HS-ST ngày 30/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 123/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nông Văn Phú trộm cắp tài sản và sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger