|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 123/2025/HS-ST Ngày 28 - 10 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Danh.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Đình Chúc;
Ông Nguyễn Văn An;
Bà Đỗ Thị Kim Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bích Huệ – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Sơn – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2025 đối với bị cáo:
Bạch Xuân T, sinh ngày 03 tháng 7 năm 1995 tại xã N, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Khu E, xã V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạch Văn T1 và bà Nghiêm Thị H; có vợ là Phan Thị P và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/11/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an tỉnh P, “có mặt”.
- Người bào chữa cho bị cáo Bạch Xuân T: Ông Phùng Văn S– Luật sư Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh P, “có mặt”.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1992; nơi cư trú: Khu E, xã V, tỉnh Phú Thọ, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 8/2024, thông qua mạng xã hội Facebook, T2, Bạch Xuân T biết đến sàn giao dịch thương mại điện tử Binance để cho các cá nhân tham gia đầu tư thông qua các mã chứng khoán, tiền điện tử, giá vàng, tỷ giá đồng đô la..., lợi nhuận của nhà đầu tư được xác định lên xuống theo giá thị trường của các mã chứng khoán, tiền điện tử, giá vàng, tỷ giá đồng đô la... Qua tìm hiểu, T thấy có nhiều người tham gia đầu tư tiền điện tử trên sàn giao dịch này thu được lợi nhuận nên đã tham gia bằng cách tải ứng dụng Binance trên Googleplay về điện thoại di động của mình lập, đăng ký tài khoản trên sàn thương mại điện tử B lấy tên “Bachtruong95”. Sau đó T làm theo hướng dẫn nạp tiền vào các tài khoản, các mã tài khoản do sàn B chỉ định. Ngày 02/8/2024, T đăng nhập tài khoản làm theo hướng dẫn, sử dụng số tài khoản 8820138713 mở tại Ngân hàng B2 của T nạp tổng số tiền 290.000.000đ để đầu tư vào một số loại tiền điện tử như BTC, ETH...trên sàn theo tỷ giá lên, xuống (nếu giá trị của các loại tiền điện tử đầu tư lên thì lãi và ngược lại). Sau khi T nạp tiền đầu tư thì giá trị của các loại tiền điện tử đầu tư lên cao có lãi vì vậy T đã bán các loại tiền điện tử đã đầu tư trên sàn giao dịch. Hệ thống sàn giao dịch đã chuyển tổng số tiền 485.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng B2 của T. Số tiền còn lại khoảng 100.000.000 đồng T vẫn để lại trên sàn thương mại điện tử B3 tiếp tục đầu tư. Đến ngày 12/8/2024 qua theo dõi biến động của tiền điện tử thấy tỷ giá các loại tiền điện tử mà T đầu tư đang xuống thấp cần phải nạp thêm tiền để duy trì tài khoản nếu không tài khoản sẽ bị khoá, đồng nghĩa với việc T bị mất số tiền khoảng 100.000.000 đồng trong tài khoản trên sàn giao dịch B nhưng lúc này T không có tiền để nạp vào tài khoản theo yêu cầu của sàn thương mại điện tử B3. Do có mối quan hệ quen biết vợ chồng chị Nguyễn Thị P1, anh Trần Thái V nên T nảy sinh ý định đưa ra thông tin gian dối là cần tiền mua xe ô tô để vay tiền của chị P1 và hứa sẽ trả luôn. Do tin tưởng T nói thật nên trong ngày 12/8/2024 chị P1 đã chuyển cho T vay 05 lần với tổng số tiền 1.740.000.000 đồng. T đã sử dụng toàn bộ số tiền này vào việc đầu tư vào sàn giao dịch B và không trả lại tiền cho chị P1. Cụ thể:
- - Lần thứ nhất: Khoảng 05 giờ ngày 12/8/2024, T sử dụng tài khoản Facebook “Bạch Trường” nhắn tin M đến tài khoản Facebook “Phuong Phuong” của chị P1 để hỏi vay 300.000.000 đồng, T nói dối là vay để đi Thanh Hóa mua 02 xe ô tô, nội dung: “Giậy rồi à chị; Đ định gọi chị bảo cho e vay nóng 300; 5h e đi thanh hóa lấy se, 3 hôm thôi; vâng để e hỏi bố e thêm 30tr; thôi e vay thêm ông thuận cũng dc; tý e suống nếu có gì e alo về chị hỗ trợ nhá...vì có 2 con.1 con 500 và một con 850 e chưa chốt con nào suống đấy mấy chốt được”. Do tin là thật nên chị P1 đã đồng ý cho T vay tiền nhưng lúc này chị P1 không có đủ 300.000.000 đồng trong tài khoản nên chị P1 chỉ cho T vay 270.000.000 đồng, T đồng ý và bảo chị P1 chuyển cho T 270.000.000 đồng số tiền 30.000.000 đồng còn lại T sẽ vay của ông Bạch Văn T1 (là bố đẻ của T). Chị P1 sử dụng số tài khoản 109622011992 của mình mở tại Ngân hàng V2 chuyển 270.000.000 đồng vào số tài khoản 8820138713 mở tại Ngân hàng B2 của T. Ngay sau khi nhận được tiền, T không sử dụng để mua xe ô tô như đã nói với chị P1 mà truy cập vào tài khoản “Bachtruong95" trên sàn thương mại điện tử B3 để nhận mã số tài khoản nạp tiền, sau khi truy cập thành công thì sàn thương mại điện tử B cung cấp và yêu cầu T lần lượt chuyển tiền vào các số tài khoản gồm: Chuyển 120.000.000 đồng đến số tài khoản 8892603844 Ngân hàng B2 đứng tên Nguyễn Cao Thùy D, sinh năm 1993, địa chỉ I Hồ T, Phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh với nội dung chuyển tiền “Z8NMSHZ”; chuyển 150.000.000 đồng đến số tài khoản 8811824662 đứng tên Phan Văn N, sinh năm 2001, địa chỉ 9 đường A, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh với nội dung chuyển tiền “VONMXNK”.
- - Lần thứ hai: Khoảng 08 giờ cùng ngày, sau khi đã nạp tiền vào tài khoản trên sàn Binance nhưng tỷ giá các loại tiền điện tử mà T đầu tư trên sàn thương mại điện tử B tiếp tục xuống giá nên hệ thống chăm sóc khách hàng tiếp tục yêu cầu T phải nạp thêm tiền để duy trì tài khoản. Vì vậy, T tiếp tục nhắn tin Facebook cho chị P1 hỏi vay thêm 200.000.000 đồng, để chị P1 tin tưởng T đã nói dối với chị P1 rằng T mua xe ô tô bị thiếu tiền nên cần gấp để mua được xe, nội dung nhắn tin: “cứu e cứu e; con se 7 chỗ đẹp quá...mà mua dc thì cũng dc khá khá; bơm nóng cho e đi; e thiếu ít nữa thôi; 845tr; e cí đây hơn 600 rồi; chị sem cho e vay nóng 200 là e đủ; chiều về e gửi chỗ 200 chước; chỗ kia thì chốt se e gửi nốt; mang xe sang nhận cọc mà; tối mấy chốt hợp đồng mà chị; còn 200 3_4h chiều e gửi thôi; chắc chắn chị ạ”. Do tin là thật nên chị P1 đồng ý nhưng do không có tiền trong tài khoản nên chị P1 đã vay của anh trai là Nguyễn Văn T3, sinh năm 1990, trú tại xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã V, tỉnh Phú Thọ) số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi vay được tiền chị P1 sử dụng số tài khoản 109622011992 ngân hàng V2 đứng tên chị P1 chuyển 200.000.000 đồng vào số tài khoản 8820138713 ngân hàng B2 của T3. Ngay sau khi nhận được tiền, T3 không sử dụng số tiền này để mua xe ô tô như đã nói mà tiếp tục truy cập vào tài khoản “Bachtruong95” trên sàn thương mại điện tử B3 để nhận mã số tài khoản nạp tiền, T3 lần lượt chuyển tiền vào các số tài khoản gồm: Chuyển 50.000.000 đồng đến số tài khoản 8892293135 Ngân hàng B2 đứng tên Vũ Hoàng Anh D1, sinh năm 1988 địa chỉ khu phố C, T, B, Đồng Nai với nội dung chuyển tiền là “VONAPEN”; chuyển 150.000.000 đồng đến số tài khoản 8841332566 đứng tên Trương Thiện A, sinh năm 2002, địa chỉ Ấp C, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau với nội dung chuyển tiền là “VONNCTW”.
- - Lần thứ ba: Khoảng hơn 12 giờ cùng ngày, do sau khi đã nạp tiền vào tài khoản trên sàn thương mại điện tử B nhưng tỷ giá các loại tiền điện tử mà T3 đang đầu tư vẫn tiếp tục xuống thấp nên T3 phải nạp thêm tiền để duy trì tài khoản. Vì vậy, T3 tiếp tục nhắn tin Facebook cho chị P1 hỏi vay thêm 300.000.000 đồng, để chị P1 tin tưởng T3 đã nói dối với chị P1 rằng việc T3 mua xe ô tô bị thiếu tiền nên cần gấp để mua được xe nếu không Trường sẽ bị mất tiền đặt cọc, nội dung nhắn tin: “chị bảo người ta dúp e với...k muộn mất...giúp e với...e cảm ơn ạ; ôi zời ơi...e xoay dc thì e k hỏi chị ý...chị gọi đi...sát giờ rồi...với giờ trưa này quán cầm xe đóng hết mất rồi; giúp e... để còn mang cho khách để lấy tiền về giả cho chị chứ; lúc nãy e gia mấy quán cầm tạm cái se e nhưng họ nghỉ rùi; e nhỡ chốt cọc cả 2 xe rồi...salong chỗ mua dồi k lấy lại dc cọc đâu; chết luôn ý; lãi cao chút cũng de ạ...giờ phải chấp nhận vậy thôi; còn 1 tiếng nữa...chị giữ giúp e toàn bộ giấy tờ sáng mai e đi e mang se lên cho chị e đi taxi đi trưa e về e gửi đủ hết cho chị...xong cho e xin lại giấy tờ và xe...công e dc 30tr e gửi chị xong chị gửi cho các a các chị hộ e...lần này e làm k công cũng cam chịu...chỉ mong sao cho tối nay nó yên ổn thôi”. Do tin là thật nên chị P1 đồng ý nhưng vì không có tiền trong tài khoản nên chị P1 đã vay của bạn là chị Lê Thị D2, sinh năm 1992, trú tại thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ) số tiền 300.000.000 đồng. Sau khi vay được tiền của chị D2 thì chị P1 sử dụng số tài khoản 109622011992 chuyển 300.000.000₫ vào số tài khoản 6800103071995 ngân hàng MB của T3 theo yêu cầu của T3. Ngay sau khi nhận được tiền, T3 không sử dụng để mua xe ô tô như đã nói với chị P1 mà T3 truy cập vào tài khoản “Bachtruong95” trên sàn thương mại điện tử B3 để nhận mã số tài khoản nạp tiền, T3 chuyển tiền đến số tài khoản 4508703516916 Ngân hàng MB đứng tên Đặng Thị Lan H1, sinh năm 1998, trú tại TDP I, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình, 02 lần mỗi lần 150.000.000 đồng.
- - Lần thứ tư: Khoảng 13 giờ cùng ngày, do sau khi đã nạp tiền vào tài khoản trên sàn thương mại điện tử B nhưng tỷ giá các loại tiền điện tử mà T3 đang đầu tư vẫn tiếp tục xuống thấp, do đã nạp vào tài khoản số lượng tiền lớn và T3 cho rằng sau khi nạp thêm tiền thì tỷ giá tiền điện tử mà T3 đang đầu tư sẽ lên cao nên T3 tiếp tục nạp thêm tiền để duy trì tài khoản. Vì vậy, T3 sử dụng tài khoản Zalo có tên “Bạch Trường” được đăng ký bằng số điện thoại 0814.583.xxx nhắn tin đến tài khoản Zalo của chị P1 (lưu trong danh bạ là “chị phương vk a vũ”) được đăng ký bằng số điện thoại 0966.572.xxx hỏi vay thêm chị P1 470.000.000đ. Để chị P1 tin tưởng T3 vẫn nói dối việc mua xe ô tô bị thiếu tiền nên cần gấp để mua được xe nếu không chuyển đủ tiền sẽ bị mất tiền đặt cọc, chị P1 đồng ý nhưng do không có tiền trong tài khoản nên chị P1 tiếp tục vay của chị D2 số tiền 500.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền của chị D2, chị P1 sử dụng số tài khoản 109622011992 ngân hàng V2 của mình chuyển 470.000.000đ vào số tài khoản 6800103071995 mở tại Ngân hàng M1 đứng tên Bạch Xuân T. Nhận được tiền, T không sử dụng để mua xe ô tô như đã nói với chị P1 mà truy cập vào tài khoản “Bachtruong95” trên sàn thương mại điện tử Binance lần lượt chuyển tiền đến các số tài khoản ngân hàng theo yêu cầu của sàn B gồm: Chuyển 150.000.000 đồng vào số tài khoản 4508703516916 Ngân hàng MB đứng tên Đặng Thị Lan H1 với nội dung chuyển tiền là “V0NC7FR”; chuyển 150.000.000 đồng vào số tài khoản 0747352430761 Ngân hàng MB đứng tên Trần Hữu T4, sinh năm 1968 trú tại ấp B, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh với nội dung chuyển tiền là “E1NCYV2” và chuyển 150.000.000 đồng vào số tài khoản 2812532845071 Ngân hàng MB đứng tên Đinh Văn T5, sinh năm 1955, trú tại ấp B, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh với nội dung chuyển tiền là “E1NCQ2E”. Số tiền 20.000.000đ còn lại T chuyển sang tài khoản ngân hàng B2 của T sau đó T sử dụng số tài khoản này chuyển 20.000.000đ vào số tài khoản 8862306314 ngân hàng B2 đứng tên Hoàng Trung Đ1, sinh năm 1998, trú tại xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái với nội dung chuyển tiền là “Z8NR6JT”.
- - Lần thứ năm: Khoảng 17 giờ cùng ngày, T tiếp tục nhắn tin Z hỏi vay thêm chị P1 500.000.000 đồng, để chị P1 tin tưởng T tiếp tục nói dối với chị P1 rằng T mua xe ô tô bị thiếu tiền nên cần gấp để mua được xe nếu không chuyển đủ tiền sẽ bị mất toàn bộ số tiền T đã đặt cọc. Do tin là thật nên chị P1 đồng ý nhưng vì lúc này trong tài khoản ngân hàng của chị P1 chỉ có 50.000.000 đồng nên chị P1 tiếp tục vay của chị D2 thêm 450.000.000 đồng. Sau khi vay được tiền của chị D2, chị P1 sử dụng số tài khoản 109622011992 ngân hàng V2 đứng tên chị P1 chuyển 500.000.000 đồng vào số tài khoản 6800103071995 Ngân hàng MB của T. Ngay sau khi nhận được tiền, T không sử dụng để mua xe ô tô như đã nói với chị P1 mà truy cập vào tài khoản “Bachtruong95” trên sàn thương mại điện tử Binance lần lượt chuyển tiền đến các số tài khoản ngân hàng theo yêu cầu của sàn B gồm: Chuyển 150.000.000 đồng vào số tài khoản 0706879227968 ngân hàng MB đứng tên Võ Quốc D3, sinh năm 1994 địa chỉ số F L, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh với nội dung chuyển tiền là “V0NZFHK”, T chuyển số tiền 350.000.000 đồng vào tài khoản B2 của T rồi sử dụng tài khoản này lần lượt chuyển 150.000.000 đồng vào số tài khoản 8842826386 ngân hàng B2 đứng tên Trần Ngọc Tiến V1, sinh năm 1988 địa chỉ Đ, P, L, An Giang với nội dung chuyển tiền là “VONFRJS”, chuyển 150.000.000 đồng vào số tài khoản 8852232494 ngân hàng B2 đứng tên Võ Quốc D3, sinh năm 1994 địa chỉ số F L, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh với nội dung chuyển tiền “E1NFR79” và chuyển 50.000.000 đồng vào số tài khoản 8832093182 ngân hàng B2 đứng tên Chung Đức B1, sinh năm 1998 địa chỉ Ấp C, P, Đ, Đồng Nai với nội dung chuyển tiền là “VONFZSG”.
Kết quả xác minh, sao kê các tài khoản ngân hàng:
Cơ quan điều tra tiến hành xác minh đối với tài khoản ngân hàng của Bạch Xuân T gồm số 6800103071995 mở tại Ngân hàng M1 Chi nhánh V3, tài khoản số 8820138713 mở tại Ngân hàng B2 Chi nhánh P3. Xác minh tài khoản của chị Nguyễn Thị Phương S1 109622011992 mở tại Ngân hàng V2 Chi nhánh V3. Đối soát với sao kê các tài khoản này các giao dịch chuyển và nhận tiền ngày 12/8/2024 đều phù hợp.
Đối với các tài khoản khác T chuyển tiền đến sau khi đã chiếm đoạt được của chị P1, T không quen biết với những chủ tài khoản này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh các chủ tài khoản, cụ thể:
- - Chuyển đến tài khoản số 4508703516916 mở tại Ngân hàng TMCP Q (M1) Chi nhánh N2 đứng tên Đặng Thị Lan H1, SN: 1998, địa chỉ: Tổ dân phố I, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình số tiền 450.000.000đ. Ngày 01/10/2024, Cơ quan điều tra đã ủy thác cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện M, tỉnh Quảng Bình xác minh. Kết quả Đặng Thị Lan H1, SN: 21/5/1998 có đăng ký HKTT tại Tổ dân phố I, thị trấn Q, huyện M, tỉnh Quảng Bình nhưng hiện tại không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu làm gì.
- - Chuyển đến tài khoản số 2812532845071 mở tại Ngân hàng TMCP Q (MB) Chi nhánh C đứng tên Đinh Văn T5, SN: 1955, địa chỉ: 4 L, ấp B, xã T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh số tiền 150.000.000đ. Ngày 01/10/2024, Cơ quan điều tra đã ủy thác cho Cơ quan CSĐT Công an Q1 và Cơ quan - CSĐT huyện C, thành phố Hồ Chí Minh xác minh. Kết quả ông Đinh Văn T5 trước đây có hộ khẩu và cư trú tại địa chỉ E, khu phố E, phường H, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện tại ông T5 đã chuyển hộ khẩu về địa chỉ ấp B, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh. Công an xã T xác định ông Đinh Văn T5, SN: 22/8/1955 có đăng ký HKTT tại địa chỉ số D đường L, ấp B, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện không sinh sống tại địa phương, không rõ đi đâu làm gì.
- - Chuyển đến tài khoản số 0747352430761 mở tại Ngân hàng TMCP Q (MB) Chi nhánh C đứng tên Trần Hữu T4, SN: 1968, địa chỉ: 1124/9/1 Lê Thị N1, tổ 1, ấp B, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh số tiền 150.000.000 đồng. Ngày 01/10/2024, Cơ quan điều tra đã ủy thác cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện C, thành phố Hồ Chí Minh xác minh. Kết quả anh Nguyễn Trần Anh T6, SN: 1990 là con ruột của bà T4 cho biết bà T4 đi từ thiện tại Lâm Đồng từ ngày 06/9/2024 đến nay chưa về nhà, anh T6 đã trực tiếp liên lạc với bà T4 qua số điện thoại 0907.923.xxx nhưng không liên lạc được.
- - Chuyển tới tài khoản số 8852232494 mở tại Ngân hàng TMCP Đ2 (B2) Chi nhánh T9 đứng tên Võ Quốc D3, SN: 1994, HKTT: Ấp A, thị trấn A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, chỗ ở hiện nay: F L, Phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh số tiền 150.000.000 đồng.
- Đối với số tài khoản 0706879227968 mở tại Ngân hàng TMCP Q (M1) Chi nhánh C1 đứng tên Võ Quốc D3, SN: 1994; địa chỉ: 2, T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ số tiền 150.000.000 đồng. Ngày 01/10/2024, Cơ quan điều tra đã ủy thác cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện K, tỉnh Sóc Trăng và Cơ quan CSĐT - Công an quận N, thành phố Cần Thơ tiến hành xác minh và làm việc trực tiếp với Công an Q1, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả qua rà soát tại địa chỉ 2, T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ không có ai có họ tên Võ Quốc D3, SN: 1994 sinh sống và cư trú. Tại địa chỉ số F L, Phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh có 03 phòng trọ cho thuê nhưng không ai có họ tên Võ Quốc D3, SN: 1994. Đối với nơi đăng ký hộ khẩu thường trú cảu Võ Quốc D3 đến nay chưa có kết quả trả lời của Cơ quan CSĐT - Công an huyện K, tỉnh Sóc Trăng và Công an thị trấn A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (đã có văn bản đôn đốc).
- - Chuyển đến tài khoản số 8892293135 mở tại Ngân hàng TMCP Đ2 (B2) Chi nhánh Đ3 đứng tên Vũ Hoàng Anh D1, SN: 19/10/1988, địa chỉ: 3, Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai số tiền 50.000.000 đồng. Ngày 25/10/2024, Cơ quan điều tra đã ủy thác cho Cơ quan CSĐT - Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai xác minh. Kết quả ông Vũ Anh D4, SN: 1961 trú tại tổ G, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là bố đẻ của Vũ Hoàng Anh D1 cho biết D1 đi làm công nhân tại công ty M2 ở thành phố Hồ Chí Minh (không rõ địa chỉ cụ thể) không có mặt ở nhà, ông D4 đã trực tiếp liên lạc với D1 qua số điện thoại 0937.865.xxx nhưng không liên lạc được.
- - Chuyển đến tài khoản số 8841332566 mở tại Ngân hàng TMCP Đ2 (B2) Chi nhánh C2 đứng tên Trương Thiện A, SN: 30/6/2002, địa chỉ: Ấp C, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau số tiền 150.000.000 đồng. Ngày 27/3/2025, Cơ quan điều tra đã có Công văn đề nghị Công an xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau xác minh. Kết quả anh Trương Thiện A, SN: 30/6/2002 có đăng ký HKTT: Ấp C, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau trong hộ gia đình do bà Trà Thị T7 (chủ hộ) nhưng nhà và đất của hộ bà T7 đã bán cho người khác cách đây khoảng 10 năm nên bà T7 và Trương Thiện A đã đi khỏi địa phương, không rõ đi đâu, làm gì.
- - Chuyển đến tài khoản số 8862306314 mở tại Ngân hàng TMCP Đ2 (B2) Chi nhánh T10 đứng tên Hoàng Trung Đ1, SN: 04/5/1998, địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái số tiền 20.000.000 đồng. Kết quả xác minh Hoàng Trung Đ1, SN: 04/5/1998, HKTT: Thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái. Hiện tại anh Đ1 đang sinh sống cùng mẹ kế là bà Hoàng Thị H2, SN: 1972 trú tại thôn Đ, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái nhưng anh Đ1 đã đi vào miền N làm ăn, sinh sống từ năm 2022 đến nay chưa về nhà, bà H2 không biết anh Đ1 làm gì, ở đâu và không liên lạc được với anh Đ1.
- - Chuyển đến tài khoản số 8832093182 mở tại Ngân hàng TMCP Đ2 (B2) Chi nhánh Đ3 đứng tên Chung Đức B1, SN: 08/02/1998, HKTT: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai số tiền 50.000.000 đồng. Ngày 24/12/2024, Cơ quan điều tra đã ủy thác điều tra cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ, tỉnh Đồng Nai tiến hành xác minh. Kết quả Chung Đức B1, SN: 08/02/1998; đăng ký HKTT: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Hiện tại B1 không có mặt tại địa phương, ông Chung Quang S2 là bố đẻ của B1 không biết B1 đi đâu, làm gì, không liên lạc được với B1.
- - Chuyển đến tài khoản số 8892603844 mở tại Ngân hàng TMCP Đ2 (B2) Chi nhánh thành phố H đứng tên Nguyễn Cao Thùy D, SN: 25/3/1993, địa chỉ: I Hồ T, Phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh số tiền 120.000.000 đồng. Ngày 24/12/2024, Cơ quan điều tra đã ủy thác điều tra đến Cơ quan CSĐT - Công an Q2, thành phố Hồ Chí Minh và ngày 27/3/2025 đã có Công văn đề nghị Công an P4, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh xác minh. Kết quả Nguyễn Cao Thùy D, SN: 25/3/1993; nơi đăng ký HKTT: Số 1 Hồ T, Phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Hiện tại D không có mặt tại địa phương, không xác định được đi đâu, làm gì.
- - Chuyển đến số tài khoản số 8811824662 mở tại Ngân hàng TMCP Đ2 (B2) Chi nhánh B4 đứng tên Phan Văn N, SN: 29/01/2001, địa chỉ: 9 đường A, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh số tiền 150.000.000 đồng. Ngày 24/12/2024, Cơ quan điều tra đã ủy thác điều tra đến Cơ quan CSĐT - Công an quận B, thành phố Hồ Chí Minh và ngày 27/3/2025 đã có Công văn đề nghị Công an P4, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh xác minh nhưng đến nay đều chưa có kết quả (đã có văn bản đôn đốc).
Kết quả xác minh về trang Web thương mại điện tử “Binace.com”:
- - Ngày 08/9/2024, Cơ quan điều tra có công văn số 3112/CSHS-Đ2 đề nghị Cục P5, Truyền hình và Thông tin điện tử thuộc Bộ T11 cung cấp thông tin địa chỉ trang web: http://binance.comNgày 03/10/2024, Cục P5, Truyền hình và Thông tin điện tử - Bộ T11 (nay là Bộ T11, Công nghệ và Truyền thông) có công văn số 2688/PTTH&TTĐT xác định: Cục P5, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ T11 không thẩm định, cấp bất cứ giấy phép hoạt động nào cho các phần mềm, ứng dụng liên quan đến Website: http://binance.com do vậy Cục P5, Truyền hình và Thông tin điện tử không có các thông tin liên quan đến tên miền nêu trên.
- - Ngày 08/9/2024, Cơ quan điều tra có công văn số 3114/CSHS-Đ2 đề nghị Trung tâm I - Bộ T11 (nay là Bộ T11) cung cấp thông tin liên quan địa chỉ trang web: http://binance.comTại công văn số 3384/VNNIC ngày 19/9/2024, Trung tâm I xác định: Trang Web: “http://binance.com” hoạt động dưới tên miền quốc tế binance.com dưới đuôi .com do Tổ chức quốc tế - V4 cấp và quản lý; tên miền trên đăng ký trực tiếp với tổ chức quốc tế ở nước ngoài và do tổ chức quốc tế quản lý. Hiện tại, website trên sử dụng địa chỉ IP quốc tế, không thuộc quản lý của Việt Nam, việc xác minh sử dụng địa chỉ IP phụ thuộc vào dữ liệu lưu trữ của doanh nghiệp N3 đang quản lý trực tiếp địa chỉ; do đó VNNIC không có thông tin để cung cấp. VNNIC là cơ quan có chức năng quản lý, cấp, phân bổ tài nguyên 11 (tên miền, địa chỉ IP/ASN Việt Nam). Các nội dung, thông tin khác không thuộc lĩnh vực chuyên môn do VNNIC phụ trách.
- - Ngày 08/9/2024, Cơ quan điều tra có công văn số 3113/CSHS-Đ2 đề nghị Ngân hàng N4 - Chi nhánh tỉnh V3 cung cấp thông tin liên quan việc mua bán tiền điện tử (tiền kỹ thuật số, tiền ảo). Tại công văn 872/VPH-THKT ngày 16/9/2024 của Ngân hàng N4 - Chi nhánh tỉnh V3 cung cấp: Tại khoản 2 Điều 17 Luật Ngân hàng N4 năm 2010 quy định: “Tiền giấy, tiền kim loại do Ngân hàng N4 phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Theo khoản 10 và khoản 11 Điều 03 Nghị định 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ quy định về thanh toán không dùng tiền mặt:
“10. Phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt (sau đây gọi là phương tiện thanh toán) là phương tiện do tổ chức cung ứng dịch vụ và thanh toán, công ty tài chính được phép phát hành thẻ tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán cung ứng dịch vụ ví điện tử phát hành và được khách hàng sử dụng nhằm thực hiện giao dịch thanh toán, bao gồm: séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng (bao gồm: thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước), ví điện tử và các phương tiện thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng N4.
11. Phương tiện thanh toán không hợp pháp là các phương tiện thanh toán không thuộc quy định tại Khoản 10 điều này”.
- - Khoản 6, Điều 8 Nghị định 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ quy định về thanh toán không dùng tiền mặt quy định về các hành vi bị cấm: “6. Phát hành, cung ứng và sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp”.
- - Điểm d Khoản 6 Điều 26 Nghị định 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tện và ngân hàng (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 143/2021/NĐ-Cp ngày 31/12/2021) quy định: “Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: d) Phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp và chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.”
Như vậy, theo các quy định của pháp luật và của Ngân hàng N4 nêu trên thì tiền ảo, tiền mã hóa và các loại tiền kỹ thuật số không phải là loại tiền do Ngân hàng N4 phát hành, không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam.
- Ngân hàng N4 chỉ quy định việc phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán hợp pháp, việc phát hành, cung ứng, sử dụng tiền ảo, tiền mã hóa và các loại tiền kỹ thuật số làm phương tiện thanh toán là hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định. Đối với hoạt động mua bán, trao đổi tiền ảo, tài sản ảo thì hiện nay Việt Nam chưa có quy định pháp lý điều chỉnh, do vậy Ngân hàng N4 chi nhánh tỉnh V3 không có cơ sở căn cứ để trả lời.
Kết quả xác minh tài khoản Facebook của Bạch Xuân T: Ngày 03/10/2024, Cơ quan điều tra có Công văn số 3731/CSHS-Đ2 đề nghị Phòng An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng Công nghệ cao – Công an tỉnh V cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản trên mạng xã hội Facebook của Bạch Xuân T. Ngày 11/10/2024, Phòng An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng Công nghệ cao – Công an tỉnh V có Công văn số 1251/PA05-Đ2 xác định: Số điện thoại 0931.651.xxx được sử dụng để đăng ký 01 tài khoản facebook có tên “Bạch Trường” (ID 1000758377165), trên trang cá nhân có thể hiện số điện thoại 0814.538.xxx. Hiện chưa xác định được thông tin cá nhân cụ thể của người sử dụng tài khoản này. Số điện thoại 0814.538.xxx chưa xác định được việc đăng ký tài khoản facebook hay không.
Kết quả trưng cầu giám định:
Ngày 17/9/2024, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh V đã ra Quyết định số 2397/QĐ-CSHS-Đ2 trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11 Pro của Bạch Xuân T. Tại kết luận giám định số 3041/KLGĐ-KTHS ngày 24/10/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V, kết luận:
- - Chụp được 20 (hai mươi) ảnh màn hình cuộc trò chuyện qua ứng dụng Zalo giữa tài khoản Zalo đăng nhập trên điện thoại gửi giám định với tài khoản Zalo có tên hiển thị: “chị phương vk a vũ” và 52 (năm mươi hai) ảnh màn hình cuộc trò chuyện với tài khoản Zalo có tên hiển thị: “vũ nhôm”. Chi tiết thể hiện trong phụ lục kèm theo.
- - Không tìm thấy tin nhắn M giữa tài khoản đăng nhập trong điện thoại gửi giám định với tài khoản Facebook có tên hiển thị “Phương P1”.
Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chiếu dữ liệu liên quan đến vụ án được lưu giữ trong điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax của chị Nguyễn Thị P1. Kết quả đã chụp 69 ảnh màn hình điện thoại có nội dung liên quan đến vụ án in ra giấy A4, phù hợp với dữ liệu trong kết luận giám định đối với chiếc điện thoại Redmi Note 11 P của Bạch Xuân T.
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11 Pro, màu đen bên trong lắp 02 thẻ sim có số thuê bao 0931651622 và 0814538456 cơ quan điều tra thu giữ của Bạch Xuân T ngày 05/9/2023. Quá trình điều tra vụ án xác định sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu, bán phát mại sung quỹ Nhà nước.
Vật chứng vụ án thu giữ được: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11 Pro, màu đen bên trong lắp 02 thẻ sim có số thuê bao 0931651622 và 0814538456 cơ quan điều tra thu giữ của Bạch Xuân T.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, bị cáo Bạch Xuân T đã tác động đến gia đình bồi thường cho chị Nguyễn Thị P1. Ngày 29/4/2025 chị P1 đã nhận đủ số tiền 1.740.000.000 đồng và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKS-P1 ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo Bạch Xuân T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Bạch Xuân T từ 08 năm đến 09 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 23/11/2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bạch Xuân T.
- Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo Bạch Xuân T đã bồi thường xong cho chị Nguyễn Thị P1.
- Về vật chứng vụ án: Đề nghị trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11 Pro, màu đen bên trong lắp 02 thẻ sim có số thuê bao 0931651622 và 0814538456 cho bị cáo Bạch Xuân T.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng:
Luật sư bào chữa cho bị cáo Bạch Xuân T trình bày bản bào chữa khẳng định Cáo trạng truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Người bào chữa cho bị cáo T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo mức án thấp nhất do pháp luật quy định.
Bị hại chị Phạm Thị P2 tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra thừa nhận việc bị cáo Bạch Xuân T đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị. Chị P2 xác nhận bị cáo T đã tác động gia đình khắc phục bồi thường cho chị tổng số tiền 1.740.000.000 đồng, chị đã nhận đủ và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Bạch Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ. Bị cáo khai nhận do không có tiền để đầu tư vào sàn thương mại điện tử Binance nên đã cố ý đưa ra thông tin gian dối với chị Nguyễn Thị P1 là T làm nghề mua bán xe ô tô cũ nên cần vay nóng tiền để mua xe ô tô và hứa sẽ trả đầy đủ tiền gốc và tiền lãi sau khi bán được xe. Do tin tưởng là T nói thật nên trong ngày 12/8/2024 chị P1 đã cho T vay tổng số tiền là 1.740.000.000 đồng (Một tỉ bảy trăm bốn mươi triệu đồng). Sau khi lấy được tiền thì T đầu tư vào sàn giao dịch B và không trả lại cho chị P1.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại; các Kết luận giám định; vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ để kết luận hành vi chiếm đoạt tổng số tiền 1.740.000.000 đồng của bị cáo Bạch Xuân T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
[4] Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng:
Bị cáo Bạch Xuân Trường được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị cáo có cụ nội là liệt sỹ hiện bố đẻ bị cáo đang thờ cúng và bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, đặc biệt là đã bồi thường xong cho bị hại và phạm tội lần đầu nên có đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng một mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo bị xét xử.
Thấy rằng, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa đề nghị là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11 Pro mà Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị P1 tổng số tiền 1.740.000.000 đồng. Chị P1 xác nhận đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử xác nhận bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại.
[8] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định được bị cáo Bạch Xuân T không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
[9] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Bạch Xuân T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Bạch Xuân T 08 (T8) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 23/11/2024.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự; Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xác nhận bị cáo Bạch Xuân T đã bồi thường xong cho chị Nguyễn Thị P1 tổng số tiền 1.740.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm bốn mươi triệu đồng).
Trả lại cho bị cáo Bạch Xuân T chiếc điện thoại di động có đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng do Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ lập ngày 18 tháng 9 năm 2025 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bạch Xuân T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
| THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Nguyễn Xuân Trọng | Nguyễn Thanh Danh | |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | ||
| Phùng Đình Chúc | Nguyễn Văn An | Đỗ Thị Kim Thúy |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Danh |
Bản án số 123/2025/HS-ST ngày 28/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 123/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bạch Xuân T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
