Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 123/2025/HS-PT

Ngày: 11-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông

Các Thẩm phán: Ông Vũ Thế Phương

Bà Nguyễn Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung K - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 05 và 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm đối với vụ án hình sự thụ lý số: 448/2024/HSPT ngày 06-11-2024, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 492/2024/HS-ST ngày 16-9-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1986 tại Thanh Hóa; Căn cước công dân số: [...] cấp ngày 27-12-2021; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố A, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Số A, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Lê Thị T; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ tên Trịnh Thị T1 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 28-10-2023 đến ngày 06-11-2023; hiện bị cáo không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn; có mặt tại phiên tòa.

- Ngoài ra, vụ án còn có người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị liên quan đến họ nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H có giấy phép lái xe hạng C. Khoảng 04 giờ 17 phút ngày 27/10/2023, H điều khiển xe ôtô tải biển số 54Z-7719 lưu thông trên đường B theo hướng vòng xoay cầu H đi ngã ba C. Khi H điều khiển xe đi đến đoạn đường thuộc khu phố B, phường T, thành phố B. Do H điều khiển xe ô tô biển số 54Z-7719, không chú ý quan sát phía trước nên đã để cản trước bên phải đầu xe ô tô biển số 54Z-7719 đụng vào đuôi xe đạp do chị Huỳnh Thị T2 (sinh năm 1975, thường trú tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam) điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều làm chị T2 ngã xuống đường gây tai nạn. Sau khi gây tai nạn, H đã bế chị T2 vào lề đường bên phải. Cùng lúc này, có anh Nguyễn Văn T3 (sinh năm 1971, ngụ tại tổ A, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) điều khiển xe ba gác chở nước đá chạy đến chỗ chị T2 nằm để hỏi thăm. Do lo sợ bị phát hiện việc gây ra tai nạn, H lên xe điều khiển xe ô tô bỏ chạy khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm, không cứu giúp người bị nạn. Hậu quả chị Huỳnh Thị T2 được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện G nhưng đã tử vong. Ngày 28/10/2023, Nguyễn Văn H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đầu thú, thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

2. Kết luận giám định:

2.1. Tại biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản dựng hiện trường và sơ đồ hiện trường đã thu thập được các dấu vết như sau: Tất cả các dấu vết đều thu thập được đo vào mép đường bên phải, hướng vòng xoay cầu H đi ngã ba C làm chuẩn (gọi tắt là lề phải), trụ điện số 55 bên lề phải làm mốc.

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường B thuộc khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, được trải nhựa bằng phẳng có vạch sơn vàng đứt nét (vạch 1.1) ở giữa chia 02 chiều xe lưu thông. Chiều rộng làn đường hướng vòng xoay H đi ngã 3 Cây Keo tính từ bên phải qua lần lượt là 02m20 và 03m45.

Vị trí dấu vết được đánh số và mô tả như sau:

  • + Số 1 là xe đạp hiệu Martin @ ngã nghiêng bên phải trên đường, đầu xe quay hướng ngã ba cây keo, đuôi xe quay hướng vòng xoay H. Từ tâm trục bánh trước của xe đạp cách mốc là 13m20 và cách lề phải là 0m15. T4 trục bánh xe đạp phía sau cách lề phải là 0m30.
  • + Số 2 là vết cày bong tróc nhựa đứt quãng trên đường của xe đạp, chiều hướng từ vòng xoay H đi ngã ba C, chiều dài tính từ đầu vết đến tay lái của xe đạp là 06m60, đầu vết cách lề phải là 1m80.
  • + Số 3 là vết máu nạn nhân để lại trên mặt đường, tiết diện 12cm x16cm, tâm vết cách lề phải là 02m00, cách tâm trục của bánh trước xe đạp là 4m00.
  • + Số 4 là vị trí xe ô tô biển số 54Z-7719 dừng trên đường, đầu xe quay hướng ngã ba C đi vòng xoay H, đuôi xe quay hướng ngược lại. T4 trục bánh sau bên phải xe cách lề phải là 01m05, cách tâm trục bánh xe phía trước xe đạp là 17m66, cách mốc là 09m40. T4 trục bánh trước bên phải xe ô tô cách lề phải là 01m05.

2.2. Tại Bản kết luận giám định tử thi số 491/KLGĐTT-TTPYĐN ngày 24/11/2023 của Trung tâm P kết luận nguyên nhân tử vong của Huỳnh Thị T2 do đa chấn thương.

2.3. Tại Bản kết luận giám định số 2425/KL-KTHS ngày 29/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 50Z-7719 và xe đạp màu bạc như sau:

  • + Không phát hiện dấu vết va chạm của xe ô tô tải biển số: 54Z-7719 và xe đạp màu bạc có va chạm với phương tiện khác.
  • + Phía trước bên phải đầu xe ô tô biển số: 54Z-7719 (dấu vết trượt xước, rách, mất chất màu đen cản trước bên phải phía dưới, cản trước bên phải; dấu vết trượt xước, mài mòn, móp, bể vỡ, mất chất màu trắng cạnh trước phía dưới cửa bên phải, mặt trước ốp bảo vệ đèn chiếu sáng phía trước bên phải), có cùng chiều hướng từ trước ra sau; phù hợp va chạm phía sau bên trái xe đạp màu bạc (dấu vết trượt xước bám chất màu đen, màu trắng bên trái cung chắn bùn sau, giá đỡ bên trái cung chắn bùn sau; dấu vết trượt xước, cong vênh, bám chất màu đen mặt ngoài hộp phanh phía sau bên trái và mặt trên gắp sau bên trái, mặt sau giá đỡ bên trái yên xe sau; dấu vết trượt xước, bám chất màu trắng phía sau bên trái yên xe sau), có cùng chiều từ sau ra trước, từ trái qua phải.
  • + Dấu vết trượt xước, mài mòn tại các chi tiết bên phải: Đầu tay phanh, đầu tay cầm lái, đầu bàn đạp, gác chân sau, cạnh ngoài yên xe sau. Chiều từ phải qua trái, phù hợp va chạm mặt đường khi xe ngã.

2.4. Tại kết luận giám định số 334/KL-KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận:

Mảnh nhựa (Màu đen không rõ hình có kích thước 0,5x1cm) đứt, rách ra từ cản trước của xe ô tô biển số 54Z-7719.

  • - Vật chứng: 01 USB chứa đoạn video hình ảnh vụ tai nạn giao thông (Lưu giữ tại hồ sơ).
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ và giao trả:
    • + 01 xe ô tô biển số 54Z-7719, 01 giấy đăng ký xe số 027222, 01 giấy chứng nhận đăng kiểm số 6205535, 01 giấy phép lái xe hạng C cho Nguyễn Văn H là chủ sở hữu.
    • + 01 xe đạp màu bạc nhãn hiệu Martin cho anh Huỳnh Minh H1 (con của nạn nhân Huỳnh Thị T2).

3. Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn H đã bồi thường chi phí mai táng và các tổn thất khác cho gia đình bị hại Huỳnh Thị T2 với tổng số tiền là 250.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm và có đơn bãi nại.

4. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 492/2024/HSST ngày 16/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã tuyên xử:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Nguyễn Văn H 02 (H2) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 28/10/2023 đến ngày 06/11/2023.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

5. Kháng cáo:

Ngày 22/9/2024, bị cáo Nguyễn Văn H có Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

6. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H làm trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét nội dung Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, Hội đồng xét xử xác định:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã mô tả, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ; bị cáo Nguyễn Văn H không có ý kiến về tội danh mà chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Do đó, án sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ pháp luật.

[2.2] Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã đánh giá:

  • - Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, không chấp hành các quy tắc an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng làm một người chết, xâm phạm trật tự giao thông công cộng, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
  • - Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo; đầu thú; đã tự nguyện bồi thường trách nhiệm dân sự và được gia đình bị hại làm đơn bãi nại; là lao động chính trong gia đình, con còn nhỏ; có cha là ông Nguyễn Văn L được tặng huy hiệu 40 năm tuổi Đảng; đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật hình sự.

Do đó, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án 02 năm tù (mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt) là có căn cứ pháp luật (đã có xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo).

[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm

Bị cáo vẫn giữ nguyên Đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo và cung cấp tình tiết mới:

  • - Gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là động chính trong gia đình, Đơn có xác nhận của Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Tại Phiếu xác nhận thông tin về cư trú ngày 10/3/2025 của Công an phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương xác nhận nơi cư trú hiện nay của bị cáo Nguyễn Văn H tại địa chỉ: A, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương;

Do đó, Hội đồng xét xử trên cơ sở đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm trách nhiệm hình sự; có cân nhắc đến tính chất phạm tội của bị cáo (bị xét xử về điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự nhưng sau khi xảy ra va chạm với bị hại, bị cáo Nguyễn Văn H có dừng xe, bế chị bị hại vào lề đường bên phải, có anh Nguyễn Văn T3 điều khiển xe ba gác chở nước đá chạy đến chỗ chị T2 nằm để hỏi thăm và do lo sợ nên điều khiển xe ô tô rời khỏi khỏi hiện trường và ngay ngày hôm sau thì ra đầu thú).

Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp được tình tiết mới (có xác nhận về hoàn cảnh gia đình khó khăn và nơi cư trú rõ ràng) nên theo quy định tại Văn bản hợp nhất số: 02/VBHN-TANDTC ngày 07-9-2022 của Tòa án nhân dân tối cao về Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo Nguyễn Văn H có những điều kiện để cho hưởng án treo.

Hội đồng xét xử quyết định áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 65 của Bộ luật hình sự, chấp nhận Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thửu thách theo luật định.

[3] Về án phí: Do Đơn kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Đối với ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã được Hội đồng xét xử xem xét thể hiện quan điểm như trên đã phân tích.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Chấp nhận một phần Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 492/2024/HS-ST ngày 16-9-2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, do có tình tiết mới.

1. Tội danh và hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục, Tòa án có thể rút ngắn thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự;

2. Án phí:

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác

của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm

có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân TP. Biên Hòa;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Phương Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2025/HS-PT ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 123/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Hùng có giấy phép lái xe hạng C. Khoảng 04 giờ 17 phút ngày 27/10/2023, Hùng điều khiển xe ôtô tải biển số 54Z-7719 lưu thông trên đường Bùi Hữu Nghĩa theo hướng vòng xoay cầu Hóa An đi ngã ba Cây Keo. Khi Hùng điều khiển xe đi đến đoạn đường thuộc khu phố 2, phường Tân Hạnh, thành phố Biên Hòa. Do Hùng điều khiển xe ô tô biển số 54Z-7719, không chú ý quan sát phía trước nên đã để cản trước bên phải đầu xe ô tô biển số 54Z-7719 đụng vào đuôi xe đạp do chị Huỳnh Thị Thắng (sinh năm 1975, thường trú tại thôn Địch Yên, xã Tiên Phong, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam) điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều làm chị Thắng ngã xuống đường gây tai nạn. Sau khi gây tai nạn, Hùng đã bế chị Thắng vào lề đường bên phải. Cùng lúc này, có anh Nguyễn Văn Toại (sinh năm 1971, ngụ tại tổ 11B, khu phố Bình Hóa, phường Hóa An, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) điều khiển xe ba gác chở nước đá chạy đến chỗ chị Thắng nằm để hỏi thăm. Do lo sợ bị phát hiện việc gây ra tai nạn, Hùng lên xe điều khiển xe ô tô bỏ chạy khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm, không cứu giúp người bị nạn. Hậu quả Chị Huỳnh Thị Thắng được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện 7B nhưng đã tử vong. Ngày 28/10/2023, Nguyễn Văn Hùng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đầu thú, thừa nhận hành vi phạm tội như trên.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger