|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 123/2025/HS-PT Ngày 26 tháng 02 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Minh |
| Các Thẩm phán: | Ông Ngô Mạnh Cường |
| Bà Trần Thị Hòa Hiệp |
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Nơi – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Nguyễn Vi Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1041/2024/TLPT-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với vụ án Nguyễn Hoàng T cùng đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Hoàng Đức H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 08/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 02 năm 2025.
- Bị cáo có kháng cáo:
1/ Họ và tên: Nguyễn Hoàng T; Tên gọi khác: không; Sinh năm 1959 tại Bình Thuận. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số E đường N, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Nơi ở: số nhà E đường T, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: nguyên Tổng giám đốc Công ty K, hiện đã nghỉ hưu; Trình độ học vấn: 12/12; Cha: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1928 (đã chết); Mẹ: Lương Thị C, sinh năm 1932; hiện trú tại: số E đường N, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Gia đình có bảy anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ tên: Trần Thị Tuyết C1, sinh năm 1960; hiện trú tại: số E đường N, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Con: có hai người, lớn sinh năm: 1987, nhỏ sinh năm: 1991; Tiền án, tiền sự : không.
Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 02/HSST-LCCT ngày 17/5/2024 của TAND tỉnh Bình Thuận; (có mặt).
2/ Họ và tên: Hoàng Đức H; tên gọi khác: không; Sinh ngày 17/4/1954 tại Nam Định. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 125/17 đường D, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: số nhà A, đường A, khu phố E, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: nguyên giám đốc Công ty T6 (nay là Công ty cổ phần T6 và xây dựng Đất Việt), hiện đã nghỉ hưu; Trình độ học vấn: 12/12; Cha: Hoàng Văn T1, sinh năm 1927 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị L,sinh năm 1928; hiện trú tại: số nhà A, đường A, khu phố E, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Gia đình có sáu chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Ngô Thị H2, sinh năm 1963; hiện trú tại: số nhà A, đường A, khu phố E, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Con: có hai người, lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1985; Tiền án, tiền sự : không.
Bị cáo hiện đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 03/HSST-LCCT ngày 17/5/2024 của TAND tỉnh Bình Thuận; (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Luật sư Huỳnh Chí C2 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; (có mặt).
- Ngoài ra, trong vụ án này còn có các bị cáo Vũ Thông P, Trương Thanh L1 không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty K là doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo Quyết định số 223/QĐ/UB-BT ngày 18/7/1992 của Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Bình Thuận; ngày 20/7/1996 được đổi tên thành Công ty K theo Quyết định số 1398/QĐ/UB-BT của UBND tỉnh B. Ngày 02/02/2012, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 206/QĐ-UBND về việc chuyển Công ty K thành Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên K (sau đây gọi tắt là Công ty K), có chức năng nhiệm vụ: quản lý, vận hành, khai thác, thiết kế thi công, tư vấn giám sát, xây dựng...công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Nguyễn Hoàng T được bổ nhiệm làm giám đốc Công ty K theo Quyết định số 101/QĐ/UB-BT ngày 30/12/1993 của UBND tỉnh B; đến ngày 27/02/2012 được bổ nhiệm làm Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên K theo Quyết định số 15/QĐ/UBND ngày 27/02/2012 của UBND tỉnh B.
Quá trình điều tra đã xác định tại Công ty K có vi phạm quy định pháp luật về đầu tư công trình xây dựng thông qua hành vi thông đồng làm sai lệch kết quả giám sát thi công, nghiệm thu nâng khống giá trị khối lượng đã thi công so với thực tế để thanh toán, gây thiệt hại tài sản Nhà nước. Cụ thể:
1. Tại Công trình kiên cố hóa kênh mương hệ thống thủy lợi hồ N - S, huyện H:
Công trình kiên cố hóa kênh mương hệ thống thủy lợi hồ N - Suối Le được Chủ tịch UBND tỉnh B phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi tại Quyết định số 3261/QĐ/CT-UBBT ngày 30/11/2001 với tổng mức đầu tư là 10.762.000.000 đồng (chi phí xây lắp: 9.073.000.000 đồng, kiến thiết cơ bản khác 711.000.000 đồng, chi phí dự phòng: 978.000.000 đồng); trong đó được phân chia thành các gói thầu như sau:
- Gói 1: Thiết kế kỹ thuật - Dự toán;
- Gói 2: Công trình đầu mối;
- Gói 3: Kênh chính Núi Đ và kênh cấp I N5;
- Gói 4: Kênh chính Suối Le, kênh tiếp nước S và các công trình trên kênh.
Công trình này được UBND tỉnh giao cho Công ty K làm chủ đầu tư. Quá trình thực hiện thì xảy ra sai phạm tại Gói thầu số 4.
Ngày 25/7/2002, UBND tỉnh có Quyết định số 1897QĐ/CT-UBND phê duyệt hồ sơ mời thầu Gói thầu số 04 của công trình kiên cố hóa kênh mương hệ thống thủy lợi hồ N - S (hạng mục kênh chính Suối Le, kênh tiếp nước S và các công trình trên kênh). Có 05 nhà thầu tham dự thầu gồm: Công ty K, Công ty T6 thuộc Tổng Công ty N (sau đổi tên thành Công ty X, nay là Công ty cổ phần T6 và xây dựng Đất Việt), Công ty X1, Công ty cổ phần X2 và Công ty X2 thuộc Tổng Công ty N.
Ngày 05/8/2002 giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh B ban hành Quyết định số 169 QĐ/SNN-TL phê duyệt lại TKKT – Tổng dự toán công trình kiên cố hóa kênh mương hệ thống thủy lợi hồ N - Suối Le; trong đó có hạng mục ở Gói thầu số 4 gồm:
- Kênh tiếp nước S: Chiều dài gia cố L = 2.745 m (kênh gia cố mới L = 2.655m, kênh đã được gia cố L = 90 m), mặt cắt chữ nhật, đoạn từ K0 – K1+115 và K1+315 - K2+700 kích thước (1 x 0,9) m, đoạn từ K3+15 đến K3+260 kích thước (1 x 0,6) m, kết cấu BTCT mác 150, chiều dày tường & đáy: 10 cm, chiều rộng bờ phải B = 4m trải lớp sỏi đỏ 20 cm.
- Kênh chính Suối Le: Chiều dài gia cố L = 4.680 m, mặt cắt chữ nhật, đoạn từ K0 - K0+750, kích thước (0,8 x 0,6)m, đoạn từ K0+750 đến K4+680, kích thước (0,8 x 0,8) m. Kết cấu BTCT mác 150, chiều dày tường và đáy: 10 cm, chiều rộng bờ phải B =4 m trải lớp sỏi đỏ 20 cm.
- Cụm điều tiết K0 + 400 trên kênh chính N: Kết cấu BTCT M200 & bê tông đá 2 *4 mác 150 độn 30% đá hộc.
- Cầu máng qua kênh N5 Núi Đất: Kết cấu bê tông cốt thép M200, BTCT mác 150 & bê tông đá 2*4 M150 độn 30% đá hộc.
Ngày 05/9/2002, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 2430/QĐ/CT-UBND phê duyệt kết quả đấu thầu Gói thầu số 04 (hạng mục kênh chính Suối
Le, kênh tiếp nước S và các công trình trên kênh); đơn vị trúng thầu là Công ty T6; giá trúng thầu 4.716.272.000 đồng; phương thức thực hiện hợp đồng: hợp đồng trọn gói.
Ngày 09/9/2002, Công ty K và Công ty T6 ký kết Hợp đồng số 12/2002/HĐ-BA v/v giao nhận thầu xây Gói thầu số 04 hạng mục kênh chính Suối Le, kênh tiếp nước S và các công trình trên kênh. Đại diện bên giao thầu (bên A) là Nguyễn Hoàng T - giám đốc Ban K; đại diện bên nhận thầu (bên B) là Hoàng Đức H - giám đốc Công ty T6; giá trị hợp đồng trọn gói là 4.716.272.000 đồng; nghiệm thu công trình: hàng tháng hoặc hàng quý, hai bên A - B tổ chức nghiệm thu trên cơ sở chất lượng..., khối lượng đã thực hiện, khối lượng nghiệm thu phải được lập thành biên bản và có đầy đủ các bên tham gia ký tên; phương thức thanh toán: giá trị khối lượng hoàn thành được thanh toán bằng hình thức chuyển khoản cho mỗi đợt thanh toán trên khối lượng nghiệm thu và đơn giá trúng thầu.
Ngày 26/4/2004, chủ đầu tư là Công ty K và đơn vị thi công là Công ty T6 ký kết Phụ lục hợp đồng số 01A/2004/PLHĐ - BA điều chỉnh thời gian thực hiện hợp đồng: khởi công ngày 15/9/2002 và thời gian hoàn thành ngày 31/12/2004. Các điều khoản khác vẫn giữ nguyên theo nội dung Hợp đồng số 12/2002/HĐ-BA.
Ngày 24/9/2002, Nguyễn Hoàng T ký Quyết định số 453/QĐ-CT thành lập Tổ giám sát công trình gồm 06 thành viên, đều là nhân viên của Công ty K gồm: Vũ Thông P là phó phòng Kỹ thuật làm Tổ trưởng và các ông Nguyễn Văn T2 (Tổ phó), Nguyễn Chơn P1, Nguyễn Nhật M, Trần Văn M1, Lý Duy T3.
Sau khi ký kết hợp đồng thi công, ngày 14/10/2002 Công ty K (chủ đầu tư) đã cho Công ty thi công Cơ Giới (đơn vị thi công) tạm ứng số tiền 943.000.000 đồng (tương ứng với 20% giá trị hợp đồng) qua Kho bạc nhà nước tỉnh B.
Quá trình thi công tại công trình Gói thầu số 04 hạng mục kênh chính Suối Le, kênh tiếp nước S và các công trình trên kênh, Tổ giám sát công trình của chủ đầu tư gồm 06 thành viên (được thành lập theo Quyết định số 453/QĐ-CT ngày 24/9/2002) trực tiếp giám sát là các ông Vũ Thông P (Tổ trưởng) và ông Nguyễn Văn T2, Nguyễn Chơn P1, Nguyễn Nhật M, Trần Văn M1; ông Lý Duy T3 có tên trong Quyết định thành lập Tổ giám sát nhưng không tham gia giám sát. Về phía đơn vị thi công thì Trương Thanh L1 là cán bộ kỹ thuật của Công ty T6, đội trưởng thi công là người trực tiếp điều hành việc thi công.
Về công tác nghiệm thu, thanh toán khối lượng thi công công trình:
Ngày 02/12/2002, đơn vị chủ đầu tư là Công ty K và đơn vị thi công là Công ty T6 ký Biên bản nghiệm thu công tác xây lắp (đợt 01) kèm theo Bảng khối lượng thực hiện, Bảng khối lượng nghiệm thu thanh toán đợt 01 và Phiếu giá thanh toán khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành với các hạng mục và giá trị thực hiện: gia cố kênh chính là 266.543.800 đồng, gia cố kênh tiếp nước là 1.279.000.890 đồng, cụm điều tiết tại K0+400 là 25.200.498 đồng. Tổng giá trị nghiệm thu, thanh toán là 1.570.745.188 đồng. Biên bản nghiệm thu có chữ ký
của thành phần tham gia gồm: Nguyễn Hoàng T, Vũ Thông P (đại diện chủ đầu tư), Hoàng Đức H, Trương Thanh L1 (đại diện đơn vị thi công). Đối với hồ sơ nghiệm thu này thì không xác định được ai là người lập các tài liệu có trong hồ sơ, chỉ xác định do Công ty K lập sau đó chuyển cho đơn vị thi công ký. Sau đó hồ sơ nghiệm thu được chuyển đến Kho bạc nhà nước tỉnh B và được Kho bạc nhà nước tỉnh B duyệt ngày 31/12/2002 với số tiền 1.570.745.000 đồng; trong đó hoàn tạm ứng 290.000.000 đồng cho số tiền 943.000.000 đồng đã tạm ứng ngày 14/10/2002, thanh toán cho đơn vị thi công là Công ty T6 số tiền 1.280.745.000 đồng. Tiếp đó, bộ phận kế toán của Công ty K công trình thuỷ lợi căn cứ vào Phiếu giá được duyệt của Kho bạc nhà nước tỉnh B và nguồn vốn được giao lập giấy đề nghị thanh toán vốn đầu tư và giấy rút hạn mức vốn đầu tư để thanh toán cho đơn vị thi công là Công ty T6 và thu hồi tạm ứng. Đối với việc thanh toán nghiệm thu đợt 01 này thì do không có đủ nguồn vốn nên kế toán của Công ty K thanh toán cho Công ty T6 theo kế hoạch vốn hàng năm với tổng giá trị đã thanh toán là 1.160.745.000 đồng, chia thành nhiều đợt: ngày 21/01/2003: 200.000.000 đồng; ngày 17/6/2003: 250.000.000 đồng; ngày 27/6/2003: 114.000.000 đồng; ngày 29/12/2004: 200.000.000 đồng; ngày 31/12/2004: 246.745.000 đồng; ngày 21/11/2006: 150.000.000 đồng. Toàn bộ việc thanh toán được thực hiện qua Kho bạc nhà nước tỉnh Bình Thuận bằng hình thức chuyển khoản. Tại thời điểm lập hồ sơ nghiệm thu để thanh toán, đơn vị chủ đầu tư là Công ty K và đơn vị thi công là Công ty T6 đã nghiệm thu, thanh toán khống toàn bộ khối lượng hạng mục thi công gia cố kênh chính và nghiệm thu khống một phần hạng mục thi công gia cố kênh tiếp nước.
Sau khi ký nghiệm thu đợt 01, đến khoảng cuối tháng 02/2003, các hạng mục của Gói thầu số 4 đã hoàn toàn dừng thi công nhưng đơn vị chủ đầu tư là Công ty K và đơn vị thi công là Công ty T6 vẫn tiếp tục ký nghiệm thu khống khối lượng công trình để thanh toán. Cụ thể:
- Ngày 04/6/2003, đơn vị chủ đầu tư là Công ty K và đơn vị thi công là Công ty T6 ký Biên bản nghiệm thu công tác xây lắp (đợt 02) kèm theo Bảng khối lượng thực hiện, Bảng tính kinh phí thanh toán đợt 02 và Phiếu giá thanh toán khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành với các hạng mục và giá trị thực hiện: gia cố kênh tiếp nước là 244.143.443 đồng, cụm điều tiết tại K0+400 là 6.559.108 đồng. Tổng giá trị nghiệm thu thanh toán là 250.702.551 đồng. Các biên bản nghiệm thu này có chữ ký của thành phần tham gia gồm: Nguyễn Hoàng T, Vũ Thông P (đại diện chủ đầu tư); Hoàng Đức H, Trương Thanh L1 (đại diện đơn vị thi công). Các tài liệu trong hồ sơ nghiệm thu này không xác định cụ thể ai là người làm, chỉ xác định do Công ty K lập sau đó chuyển cho đơn vị thi công ký. Sau khi hoàn thành các thủ tục nghiệm thu thì bộ phận kế toán của Công ty K nộp hồ sơ nghiệm thu đến Kho bạc nhà nước tỉnh B nhưng do không có đủ nguồn vốn nên đến năm 2005 mới làm thủ tục thanh toán và được Kho bạc nhà nước tỉnh B duyệt ngày 31/12/2005 với số tiền 250.000.000 đồng. Căn cứ số tiền được duyệt, ngày 31/12/2005, kế toán của Công ty K đã lập giấy đề nghị thanh toán tạm ứng vốn đầu tư và được Kho bạc nhà nước tỉnh B duyệt hoàn tạm ứng (ngày 10/01/2006) cho số tiền 943.000.000 đồng đã tạm ứng ngày 14/10/2002. Tại thời điểm lập hồ sơ nghiệm thu để thanh toán, đơn vị
chủ đầu tư là Công ty K và đơn vị thi công là Công ty T6 đã nghiệm thu, thanh toán khống toàn bộ khối lượng hạng mục thi công: gia cố kênh tiếp nước.
- Ngày 29/12/2003, đơn vị chủ đầu tư là Công ty K và đơn vị thi công là Công ty T6 tiếp tục ký Biên bản nghiệm thu công tác xây lắp (đợt 03) kèm theo Bảng khối lượng thực hiện, Bảng khối lượng nghiệm thu thanh toán đợt 03 và Phiếu giá thanh toán khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành với các hạng mục và giá trị thực hiện: gia cố kênh chính là 334.646.692 đồng, gia cố kênh tiếp nước là 115.859.265 đồng, cầu máng qua kênh N5 là 50.840.433 đồng. Tổng giá trị nghiệm thu thanh toán là 501.346.000 đồng. Biên bản nghiệm thu này có chữ ký của thành phần tham gia gồm: Nguyễn Hoàng T, Vũ Thông P (đại diện chủ đầu tư), Hoàng Đức H, Trương Thanh L1 (đại diện đơn vị thi công). Các tài liệu trong hồ sơ nghiệm thu này do Công ty K lập (không xác định được người làm) sau đó chuyển cho đơn vị thi công ký. Sau khi hoàn thành các thủ tục nghiệm thu nhưng do không có nguồn vốn nên đến năm 2005, bộ phận kế toán của Công ty K mới nộp toàn bộ hồ sơ nghiệm thu sang Kho bạc nhà nước tỉnh Bình Thuận để thanh toán và được Kho bạc nhà nước tỉnh B duyệt ngày 23/12/2005 với số tiền 501.046.000 đồng, trong đó hoàn tạm ứng 403.000.000 đồng cho số tiền 943.000.000 đồng đã tạm ứng ngày 14/10/2002, thanh toán cho đơn vị thi công là Công ty T6 số tiền 98.046.000 đồng. Tiếp đó, kế toán của Công ty K căn cứ vào Phiếu giá được duyệt của Kho bạc nhà nước tỉnh B và nguồn vốn được giao lập giấy đề nghị thanh toán tạm ứng vốn đầu tư số tiền 403.000.000 đồng và giấy rút hạn mức vốn đầu tư để thanh toán cho đơn vị thi công là Công ty thi công Cơ Giới số tiền 98.046.000 đồng. Việc thanh toán nghiệm thu đợt 03 này thì kế toán của Công ty K thanh toán cho Công ty T6 theo kế hoạch với tổng giá trị đã thanh toán là 98.046.000 đồng vào ngày 17/01/2006 qua Kho bạc Nhà nước tỉnh Bình Thuận bằng hình thức chuyển khoản. Tại thời điểm lập hồ sơ nghiệm thu để thanh toán, đơn vị chủ đầu tư là Công ty K và đơn vị thi công là Công ty T6 đã nghiệm thu khống toàn bộ khối lượng hạng mục thi công: gia cố kênh chính, gia cố kênh tiếp nước, cầu máng qua kênh N5.
Tổng giá trị khối lượng qua 03 lần nghiệm thu, thanh toán là 2.322.794.129 đồng, gồm: gia cố kênh chính là 601.190.492 đồng, gia cố kênh tiếp nước là 1.639.003.598 đồng, cụm điều tiết tại K0+400 là 31.759.606 đồng, cầu máng qua kênh N5 là 50.840.433 đồng. Công ty K đã thanh toán cho Công ty thi công Cơ Giới số tiền là 2.201.791.000 đồng qua Kho bạc nhà nước tỉnh B.
Các cá nhân có liên quan ký hồ sơ nghiệm thu đều xác định giá trị nghiệm thu khối lượng để thanh toán vượt so với khối lượng thực tế thi công tại công trình. Cụ thể tại thời điểm nghiệm thu có các hạng mục chưa thực hiện hoặc thực hiện một phần nhưng đã nghiệm thu khối lượng như: kênh chính Suối Le (chưa thi công), kênh tiếp nước Suối Le (chỉ thi công một phần nhưng chưa thực hiện toàn tuyến theo hợp đồng), cầu máng qua kênh N5 (chưa thi công). Việc làm sai lệch kết quả giám sát thi công, nghiệm thu khối lượng cao hơn thực tế thi công để thanh toán này xuất phát từ chủ trương thanh toán trước khối lượng thi công, rút tiền từ ngân sách Nhà nước trước để thi công sau của Nguyễn Hoàng T. Trước khi ký hồ sơ nghiệm thu khống thì giữa Nguyễn Hoàng T và Vũ Thông P,
Hoàng Đức H, Trương Thanh L1 đều có sự trao đổi thống nhất với nhau và cùng thực hiện.
Theo trình bày của đại diện của Công ty T6, số tiền mà Công ty thi công Cơ Giới đã tạm ứng và được thanh toán từ Công ty K đã nhập vào nguồn tiền chung của Công ty T6. Do thời gian vụ việc diễn ra đã lâu, hiện nay Công ty T6 đã được cổ phần hóa và đổi tên thành Công ty cổ phần T6 và xây dựng Đất Việt nên không thể bóc, tách số tiền được thanh toán khống này.
Ngày 03/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T ra Quyết định trưng cầu giám định số 78/QĐ-VPCQCSĐT trưng cầu Viện Khoa học Thủy lợi miền N1 giám định khối lượng, giá trị đối với các hạng mục công trình trên.
Bản Kết luận giám định số 663/VKHTLMN ngày 29/12/2022 của Viện Khoa học Thủy lợi miền N1, Văn bản số 39/VKHTLMN ngày 08/02/2023 của Tổ chức giám định (Viện Khoa học Thủy lợi miền N1) giải thích nội dung Kết luận giám định số 663/VKHTLMN ngày 29/12/ 2022 (theo yêu cầu tại Công văn số 59/VPCQCSĐT ngày 03/02/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra ) và Văn bản đính chính Kết luận giám định số 40/VKHTLMN ngày 08/02/2023, số 158/VKHTLMN ngày 05/4/2023 của Tổ chức giám định (Viện Khoa học Thủy lợi miền N1) xác định:
- Giá trị tổng khối lượng công trình đã thi công thực tế tại thời điểm 29/12/2003 không xác định được do không xác định được khối lượng thực tế tại thời điểm này.
- Giá trị tổng khối lượng công trình đã thi công thực tế tại thời điểm giám định: 686.091.459 đồng.
- Phần giá trị do Công ty T6 thực hiện: 591.361.663 đồng
- Giá trị công trình nghiệm thu: 2.322.793.739 đồng
- Giá trị công trình đã thanh toán: 2.201.791.000 đồng
- Chênh lệch giảm so với nghiệm thu: 1.731.432.076 đồng.
- Chênh lệch giảm so với thanh toán: 1.610.429.337 đồng.
- Giá trị hợp đồng 4.716.272.000 đồng.
- Giá trị chưa thực hiện 4.124.910.337 đồng.
(Bút lục: 78-88, 98-103)
Ngày 11/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B có Quyết định trưng cầu giám định số 66/QĐ-VPCQCSĐT trưng cầu Giám định viên lĩnh vực tài chính của Sở Tài chính tỉnh B để giám định thiệt hại tài chính liên quan đến việc thanh toán công trình trên.
Tại Kết luận Giám định tư pháp tài chính ngày 19/5/2023 của Giám định viên Hồ Quỳnh H3 đã kết luận: Đối với công trình Gói thầu số 4: kênh chính Suối Le, kênh tiếp nước S và các công trình trên kênh thuộc công trình kiên cố hóa kênh mương hệ thống thủy lợi hồ N - S:
- Chủ đầu tư đã nộp đủ hồ sơ thanh toán và được Kho bạc nhà nước tỉnh B thanh toán theo quy định.
- Chưa đủ cơ sở xác định việc thanh toán có đúng quy định tại Điều 80 của Luật Xây dựng năm 2003, điểm a khoản 2 Điều 53 Chương 4 của Nghị định 60/2003/NĐ-CP, Điều 68 của Nghị định số 52/1999/NĐ-CP, điểm 2, 4, Điều 32 Chương 3 của Nghị định số 16/2005/NĐ-CP, điểm 1, mục VII của Thông tư số 96/2000/TT-BTC, điểm 1.3, khoản 1, mục IV và khoản I, mục D, phần II của Thông tư số 44/2003/TT-BTC hay không khi không xác định được giá trị khối lượng thực tế tại các thời điểm nghiệm thu.
- Nguồn vốn thực hiện dự án: Thanh toán khối lượng xây lắp từ nguồn vốn tạm ứng Kho bạc, nguồn tín dụng ưu đãi; thuộc ngân sách cấp tỉnh.
- Việc thanh toán số tiền chênh lệch giữa giá trị tổng khối lượng công trình đã thi công thực tế tại thời điểm giám định với tổng giá trị khối lượng đã thanh toán chỉ tính phần do Công ty T6 thực hiện (căn cứ theo các văn bản kết luận giám định của Tổ chức giám định là Viện Khoa học Thủy lợi miền N1) số tiền 1.610.429.337 đồng có gây thiệt hại cho tài sản Nhà nước. Thiệt hại số tiền 1.610.429.337 đồng. Những cá nhân gây thiệt hại là những người tham gia nghiệm thu. (Bút lục: 125-134)
Tại Kết luận Giám định tư pháp trong lĩnh vực thủy lợi số 01-2023/KL/GĐCN ngày 18/9/2023 của Giám định viên Lâm Quốc T4 thuộc Chi cục Thủy lợi B1 kết luận:
- Việc thành lập Tổ giám sát theo Quyết định số 453/QĐ-CT ngày 24/9/2002 của Công ty K là đúng với quy định của pháp luật được quy định tại Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng, Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 05/05/2000 của Chính phủ về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ, Nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngày 30/01/2003 của Chính phủ về việc Sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ và Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 05/05/2000 của Chính phủ, Quyết định số 17/2000/QĐ-BXD ngày 02/8/2000 của Bộ trưởng Bộ X3 về việc ban hành Quy định Quản lý chất lượng công trình, Quyết định số 18/2003/QĐ-BXD ngày 27/6/2003 của Bộ trưởng Bộ X3 về việc ban hành Quy định Quản lý chất lượng công trình, Quyết định số 19/2003/QĐ-BXD ngày 03/7/2003 của Bộ trưởng Bộ X3 về việc ban hành Quy định Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng công trình;
- Các cá nhân tham gia Tổ giám sát tại Quyết định số 453/QĐ-CT ngày 24/9/2002 đủ điều kiện để thực hiện công tác giám sát công trình,
- Hoạt động của Tổ giám sát đối với công trình Gói thầu số 4: kênh chính Suối Le, Kênh tiếp nước S và các công trình trên kênh thuộc công trình kiên cố hóa kênh mương hệ thống thủy lợi hồ N- S, huyện H đúng quy định của pháp
luật theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 08/7/1999 của Chính phủ.
Việc giám sát thi công ký xác nhận khối lượng thi công trong biên bản nghiệm thu nhiều hơn so với khối lượng thực tế thi công công trình là không đúng với quy định tại khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 17 Quyết định số 17/2000/QĐ-BXD, khoản 2 Điều 16 Quyết định số 18/2003/QĐ-BXD, mẫu biên bản nghiệm thu hoàn thành giai đoạn xây lắp tại Phụ lục 6 ban hành kèm theo Quyết định số 17/2000/QĐ-BXD và mẫu biên bản nghiệm thu hoàn thành giai đoạn xây lắp tại Phụ lục 13 ban hành kèm theo Quyết định số 18/2003/QĐ-BXD.
Hồ sơ, tài liệu trong quá trình giám sát thi công của Tổ giám sát là cơ sở bắt buộc để thực hiện việc nghiệm thu, thanh quyết toán đối với công trình theo quy định tại Điều 17 Quyết định số 17/2000/QĐ-BXD, Điều 16 Quyết định số 18/2003/QĐ-BXD.
Về xử lý vật chứng: Ngày 01/6/2021, UBND tỉnh có Quyết định số 1348 về việc thanh tra toàn diện đối với công trình kênh tiếp nước S - B và công trình kiên cố hóa kênh mương hệ thống thủy lợi hồ N - S. Theo Kết luận Thanh tra số 723/KL-UBND ngày 10/3/2023, xác định số tiền chênh lệch từ việc nghiệm thu, thanh toán khống đối với Gói thầu số 4 của công trình kiên cố hóa kênh mương hệ thống thủy lợi hồ N - Suối Le là 1.610.967.474 đồng. Đến ngày 18/3/2022, Công ty Cổ phần T6 (được cổ phần từ Công ty T6) đã nộp hoàn trả số tiền 1.610.967.474 đồng vào tài khoản của Thanh tra tỉnh Bình Thuận tại Kho bạc nhà nước tỉnh B. Ngày 09/8/2022 Thanh tra tỉnh Bình Thuận đã nộp toàn bộ số tiền trên vào ngân sách Nhà nước. (Bút lục: 736-767)
Về dân sự: Ông Nguyễn Hữu D - Chánh Thanh tra Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh B, đại diện nguyên đơn dân sự có ý kiến: số tiền thanh toán vượt khối lượng, gây thiệt hại đã được Công ty Cổ phần thi công cơ giới và xây dựng Đất Việt đã nộp hoàn trả vào tài khoản của Thanh tra tỉnh Bình Thuận tại Kho bạc Nhà nước tỉnh B (1.610.967.474 đồng); do vậy không yêu cầu các cá nhân có liên quan phải bồi thường về phân dân sự (Bút lục: 4964-4965).
2. Tại Công trình kênh tiếp nước S - B, xã H, huyện H:
Ngày 14/4/2006, Sở N có Quyết định số 103/QĐ/SNN về việc phân khai kế hoạch chi ngân sách nguồn vốn sự nghiệp năm 2006.
Ngày 01/12/2006, Công ty K có hợp đồng giao việc khảo sát, lập báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình kênh tiếp nước S - B, tuy nhiên không thực hiện công tác phê duyệt nhiệm vụ khảo sát, phương án khảo sát theo quy định.
Ngày 25/12/2006, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh B ban hành Công văn số 2482 SNN/CCTL về kết quả thẩm định thiết kế bản vẽ thi công công trình kênh tiếp nước S - B.
Ngày 28/12/2006, Công ty K ban hành Quyết định số 825/QĐ-CTKTCTTL về việc phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công và tổng dự toán xây
dựng công trình. Ngày 29/12/2006, Công ty K có biên bản nghiệm thu kết quả khảo sát, lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình.
Ngày 28/12/2006 Sở Kế hoạch & Đầu tư tỉnh B có Quyết định số 561/QĐ-SKHĐT phê duyệt Báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình kênh tiếp nước S - B; trong đó giao Công ty K làm chủ đầu tư và lập báo cáo kinh tế kỹ thuật với tổng vốn đầu tư 3.842.000.000 đồng (chi phí xây dựng: 2.866.000.000 đồng, chi phí kiến thiết cơ bản: 368.000.000 đồng, chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng: 321.000.000 đồng, chi phí dự phòng: 287.000.000 đồng) để thực hiện gói thầu: xây lắp kênh và công trình trên kênh; hình thức lựa chọn nhà thầu: đấu thầu rộng rãi; hình thức hợp đồng: trọn gói; thời gian thực hiện hợp đồng: 365 ngày.
Tuy nhiên, Công ty K không tổ chức đấu thầu mà áp dụng Nghị định số 71/2005/NĐ-CP ngày 06/06/2005 của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng công trình đặc thù để xác định đây là công trình đặc thù để tự thực hiện và căn cứ Quyết định số 561/QĐ-SKHĐT ngày 28/12/2006 của Sở Kế hoạch & Đầu tư tỉnh B và Quyết định số 825/QĐ-CTKTCTTL ngày 28/12/2006 của Công ty K để ký kết Hợp đồng kinh tế số 16/HĐ- XD-SLBT ngày 30/12/2006 thi công xây dựng công trình với đơn vị trực thuộc là Xí nghiệp K1; đại diện bên giao thầu là ông Nguyễn Hoàng T - giám đốc Công ty K, đại diện bên nhận thầu là ông Nguyễn Hữu P2 - giám đốc Xí nghiệp K1 (tại thời điểm này ông P2 đồng thời giữ chức vụ phó giám đốc Công ty K).
Sau đó, ngày 03/01/2007, UBND tỉnh B có Công văn số 21/UBND-ĐTQH về việc đưa danh mục công trình kênh tiếp nước S - B vào danh mục công trình chống hạn của tỉnh (theo đề nghị của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh B tại Công văn số 2501/SBB-KTCCTTL ngày 27/12/2006) và đến ngày 14/8/2008, UBND tỉnh B có Công văn số 3926/UBND-ĐTQH về việc áp dụng công trình kênh tiếp nước S - Bàu Thiểm theo Nghị định số 71/2005/NĐ-CP ngày 06/06/2005 của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng công trình đặc thù.
Theo Hợp đồng kinh tế số 16/HĐ-XD-SLBT ngày 30/12/2006 và các phụ lục Hợp đồng số 16A/2007/HĐ-XD-SLBT ngày 08/01/2007, số 30/2008/HĐ-XD-SLBT được ký giữa Công ty K và Xí nghiệp K1:
- Giá trị hợp đồng: 3.115.920.206 đồng, trong đó chi phí xây dựng là 3.040.920.206 đồng;
- Hình thức hợp đồng: trọn gói;
- Ngày khởi công: 30/12/2006, ngày hoàn thành: sau khi cân đối được kế hoạch vốn.
- Phương thức thanh toán: trên cơ sở khối lượng thực tế hoàn thành theo từng giai đoạn đã được nghiệm thu và đơn giá theo Quyết định số 825/QĐ-CTKTCTTL ngày 28/12/2006, hình thức thanh toán: chuyển khoản vào tài khoản của Công ty K tại Ngân hàng Đ1.
Hạng mục thi công (theo Quyết định số 825/QĐ-CTKTCTTL ngày 28/12/2006 của Công ty K):
- Kênh đất có chiều dài 4.680m, chiều rộng đáy kênh 04m, chiều cao kênh 2,5m,
- Công trình trên kênh gồm 05 hạng mục có kết cấu chủ yếu bằng bê tông cốt thép, đá 1x2 M150 và M200, bê tông đá 2x4 M150 độn đá hộc: cầu qua kênh K1+157, tràn bên kết hợp xả sâu số 01 (K1+300), cầu qua kênh K2+350, tràn bên kết hợp xả sâu số 02 (K2+745), cống qua đường (K3+450).
- Nguồn vốn thực hiện công trình: tiền ngân sách Nhà nước.
Việc thực hiện ký kết Hợp đồng kinh tế số 16/HĐ-XD-SLBT giữa Công ty K và Xí nghiệp K1 là do Nguyễn Hoàng T chỉ đạo ông Nguyễn Hữu P2 ký chỉ là để hợp thức hóa các thủ tục liên quan. Sau khi ký Hợp đồng kinh tế số 16/HĐ-XD-SLBT, Nguyễn Hoàng T không giao cho Xí nghiệp Khai thác công trình thủy lợi La Ngà là đơn vị thi công như hợp đồng đã ký mà giao bằng miệng cho ông Nguyễn Trọng H4 là Trạm trưởng Trạm khai thác công trình thuỷ lợi thành phố P làm Tổ trưởng Tổ giám sát và phụ trách trực tiếp thi công công trình trên.
Sau đó Nguyễn Hoàng T chỉ đạo cho ông Nguyễn Hữu P2 ký các hồ sơ để nghiệm thu, thanh toán công trình; đồng thời Nguyễn Hoàng T chỉ đạo miệng cho ông Lê Văn Q (nhân viên Xí nghiệp K1) ký các biên bản, hồ sơ liên quan đến công trình này như: biên bản nghiệm thu, nhật ký công trình với tư cách là cán bộ thi công, Trưởng ban chỉ huy công trường. Việc chỉ đạo bằng miệng của Nguyễn Hoàng T đều được ông P2 và ông Q thực hiện. Hồ sơ nghiệm thu khối lượng thi công được ông Nguyễn Trọng H4 đem đến Xí nghiệp Khai thác công trình thủy lợi La Ngà cho ông P2 và ông Q ký. Tại thời điểm ký các hồ sơ nghiệm thu khối lượng thi công thì ông P2 và ông Q không trực tiếp kiểm tra, cũng như không có mặt tại hiện trường để xác định khối lượng thi công trước khi ký.
Để phục vụ thi công công trình, Công ty K đã tạm ứng từ ngân sách tỉnh 02 lần qua Kho bạc nhà nước tỉnh B: lần thứ nhất là ngày 31/01/2007 với số tiền 300.000.000 đồng theo Quyết định 103/QĐ/GÐSNN ngày 14/4/2006; lần thứ hai là ngày 23/7/2008 số tiền 3.000.000.000 đồng theo Quyết định số 1946/QĐ-UBND.
Về quá trình nghiệm thu, thanh toán công trình:
- Cùng ngày với ngày ký Hợp đồng kinh tế số 16/HĐ-XD-SLBT), Công ty K đã thực hiện nghiệm thu bằng việc lập Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành đợt 01 ngày 30/12/2006: hạng mục đất đào đắp kênh đoạn K0+700-K2+700 với số tiền là 498.114.801 đồng. Biên bản nghiệm thu này có chữ ký của thành phần tham gia gồm: Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Trọng H4 (đại diện chủ đầu tư), Nguyễn Hữu P2, Lê Văn Q (đại diện đơn vị thi công). Hồ sơ nghiệm thu này đã được Kho bạc nhà nước tỉnh B thanh toán 300.000.000 đồng từ ngân sách tỉnh Bình Thuận.
- Biên bản nghiệm thu thanh toán đợt 02 ngày 29/12/2008 với tổng số tiền là 2.580.905.507 đồng, gồm: chi phí xây dựng là 2.505.905.507 đồng, chi phí thiết bị là 75.000.000 đồng. Hồ sơ nghiệm thu có chữ ký của thành phần tham gia gồm: Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Trọng H4 (đại diện chủ đầu tư) Nguyễn Hữu P2, Lê Văn Q (đại diện đơn vị thi công). Hồ sơ nghiệm thu này đã được Kho bạc nhà nước tỉnh B thanh toán hoàn tạm ứng 2.580.905.000 đồng từ ngân sách tỉnh Bình Thuận.
Tổng giá trị khối lượng qua 02 lần nghiệm thu khối lượng hoàn thành là 3.079.020.308 đồng, gồm: chi phí xây dựng là 3.004.020.308 đồng, chi phí thiết bị là 75.000.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 78/QĐ-VPCQCSĐT ngày 03/8/2022 trưng cầu Tổ chức giám định là Viện Khoa học Thủy lợi miền N1 để tiến hành giám định khối lượng, giá trị đối với công trình trên.
Tại Bản Kết luận giám định số 663/VKHTLMN ngày 2912/2022 của Viện Khoa học Thủy lợi miền N1, Văn bản số 39/VKHTLMN ngày 08/02/2023 của Tổ chức giám định (Viện Khoa học Thủy lợi miền N1) giải thích nội dung Kết luận giám định số 663/VKHTLMN ngày 29/12/2022 theo yêu cầu tại Công văn số 59/VPCQCSĐT ngày 03/02/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra và Văn bản đính chính Kết luận giám định số 40/VKHTLMN ngày 08/02/2023 của Tổ chức giám định (Viện Khoa học Thủy lợi miền N1) xác định:
- Giá trị tổng khối lượng công trình đã thi công thực tế tại các thời điểm 30/12/2006 và 29/12/2008 không xác định được do không xác định được khối lượng thực tế tại các thời điểm này.
- Giá trị công trình tại thời điểm giám định: 2.166.947.300 đồng.
- Giá trị công trình nghiệm thu: 3.079.020.308 đồng.
- Giá trị công trình đã thanh toán: 2.880.905.000 đồng.
- Chênh lệch giảm so với nghiệm thu: 912.073.008 đồng.
- Chênh lệch giảm so với thanh toán: 713.957.700 đồng.
- Giá trị khối lượng công trình chưa thi công tại thời điểm giám định: 948.980.020 đồng .
Ngày 11/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B có Quyết định trưng cầu giám định số 66/QĐ-VPCQCSĐT trưng cầu Giám định viên lĩnh vực tài chính của Sở Tài chính tỉnh B để giám định thiệt hại tài chính liên quan đến việc thanh toán công trình trên. Tại Kết luận Giám định tư pháp tài chính ngày 19/5/2023 của Giám định viên Hồ Quỳnh H3 đã kết luận: Đối với công trình kênh tiếp nước S - B, huyện H:
- Chủ đầu tư đã nộp đủ hồ sơ thanh toán và được Kho bạc nhà nước B thanh toán theo quy định.
- Chưa đủ cơ sở xác định việc thanh toán có đúng quy định tại Điều 80 của Luật Xây dựng năm 2003, điểm a, khoản 2, Điều 53 Chương 4 Nghị định 60/2003/NĐ-CP, điểm 1.3, khoản 1, mục IV và điểm I, khoản d phần II của Thông tư số 44/2003/TT-BTC, điểm 2, 4 Điều 32 Chương 3 Nghị định số 16/2005/NĐ-CP, điểm i, khoản f, phần II của Thông tư số 27/2007/TT-BTC hay không khi không xác định được khối lượng thực tế tại các thời điểm nghiệm thu.
- Nguồn vốn thực hiện của dự án từ nguồn vốn sự nghiệp thủy lợi năm 2006, nguồn xây dựng cơ bản tập trung năm 2009, nguồn tín dụng ưu đãi năm 2009; thuộc ngân sách cấp tỉnh.
- Việc thanh toán số tiền chênh lệch giữa giá trị tổng khối lượng công trình đã thi công thực tế tại thời điểm giám định với tổng giá trị khối lượng đã thanh toán (căn cứ theo các văn bản kết luận giám định của Tổ chức giám định là Viện Khoa học Thủy lợi miền N1) số tiền 713.957.700 đồng có gây thiệt hại cho tài sản Nhà nước. Thiệt hại số tiền 713.957.700 đồng. Những cá nhân gây thiệt hại là những người tham gia nghiệm thu.
Như vậy tổng số tiền mà Công ty K đã thanh toán cho đơn vị thi công từ việc nghiệm thu khống khối lượng công trình tại thời điểm giám định là 713.957.700 đồng. Sau đó từ cuối năm 2008 đến năm 2010, Công ty K đã sử dụng số tiền 500.558.639 đồng để chi cho công tác đền bù, giải phóng mặt bằng công trình kênh tiếp nước S - B.
Theo Kết luận Thanh tra số 723/KL-UBND ngày 10/3/2023 xác định số tiền chênh lệch từ việc nghiệm thu, thanh toán khống là 1.116.779.248 đồng. Ngày 01/3/2022, Công ty K đã nộp hoàn trả số tiền 1.116.779.248 đồng vào tài khoản của Thanh tra tỉnh Bình Thuận tại Kho bạc nhà nước B. Ngày 09/8/2022, Thanh tra tỉnh Bình Thuận đã nộp số tiền trên vào ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước tỉnh B (Bút lục 736 -772)
Như vậy các cá nhân là Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Hữu P2, Nguyễn Trọng H4, Lê Văn Q có hành vi thông đồng nghiệm thu khối lượng thi công cao hơn khối lượng thực tế thi công để thanh toán, gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 713.957.700 đồng. Tuy nhiên, sau thời điểm nghiệm thu lần hai (29/12/2008), Công ty K có sử dụng số tiền 500.558.639 đồng từ số tiền thanh toán nghiệm thu khống để chi cho công tác đền bù, giải phóng mặt bằng của công trình kênh tiếp nước S - B. Mặt khác, công trình kênh tiếp nước S - Bàu Thiểm được UBND tỉnh B xác định là công trình đặc thù theo Nghị định số 71/2005/NĐ-CP ngày 06/06/2005 của Chính phủ và đồng ý về chủ trương cho phép chủ đầu tư vừa thực hiện việc đền bù, giải phóng mặt bằng vừa thi công công trình nên số tiền 500.558.639 đồng đã chi cho công tác đền bù, giải phóng mặt bằng được trừ vào phần gây thiệt hại cho tài sản Nhà nước. Do đó xác định giá trị gây thiệt hại là 213.399.061 đồng (713.957.700 đồng - 500.558.639 đồng). Hành vi vi phạm của Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Hữu P2, Lê Văn Q, Nguyễn Trọng H4 đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại khoản 1 Điều 224 Bộ luật Hình sự 2015; nên đến thời điểm xem xét xử lý đã hết thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự. Đồng thời do đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nên cũng không cộng số tiền thiệt hại 213.399.061 đồng vào giá trị gây thiệt hại của Nguyễn Hoàng T đối với công trình thi công Gói thầu số 4 thuộc công trình kiên cố hóa kênh mương hệ thống thủy lợi hồ N - S.
Ngoài ra, quá trình điều tra còn xác định Công ty K có thực hiện 13 hạng mục công trình vi phạm quy định của pháp luật về đầu tư công trình xây dựng, trị giá 15.055.500.225 đồng, đến nay chưa thanh toán cho các đơn vị thi công. Cụ thể:
Từ năm 2011 đến năm 2015 Nguyễn Hoàng T, giám đốc Công ty K đã trao đổi (miệng) và thống nhất với ông Dương Minh P3, là giám đốc Công ty TNHH X4 để thực hiện thi công 07 hạng mục công trình gồm: cụm điều tiết thượng lưu xi phông Sông Tôm tại K1+ 822 trên kênh chính đập dâng Sông P, huyện H, cống tiêu số 1 tại K3+500 trên kênh chính đập dâng Sông P, huyện H, cống tiêu số 2 tại K5+280 trên kênh chính đập dâng Sông P, huyện H, cống qua đường tại K4+515 trên kênh chính đập dâng Sông P, huyện H, mở rộng đáy kênh chính đập dâng Sông Phan, huyện H (đoạn từ K1+ 975 ÷ K3+108 và đoạn từ K4+ 568 ÷ K8+120,5), cầu qua kênh tại K0+140 trên tuyến ống đẩy trạm bơm ấp 1 dự án cấp nước khu L, huyện B, cầu qua kênh tại K0+860 trên tuyến ống đẩy trạm bơm cấp 2 dự án cấp nước khu Lê Hồng P4, huyện B với tổng giá trị 4.414.101.330 đồng.
Từ năm 2011 đến năm 2014, Nguyễn Hoàng T đã trao đổi (miệng) và thống nhất với ông Đặng Văn T5, là phó giám đốc Công ty TNHH X5 để thực hiện thi công 06 hạng mục công trình gồm: cống qua đường ĐT717 tại K3+083 trên kênh chính Bắc của hệ thống thủy lợi T, huyện T (theo lý trình tuyến đường ĐT 717 KM 0+850), cống qua đường QL55 tại K1+564 trên kênh chính Bắc của hệ thống thủy lợi T, huyện T (theo lý trình tuyến đường QL55 tại KM158+347), cống qua đường QL55 tại KM108+045 huyện H, đoạn kênh chính phía sau đập dâng Sông P, huyện H, mở rộng kênh tiếp nước L - Đá Bạc đoạn từ K0÷K1+285 thuộc dự án cấp nước cho Trung tâm N2, huyện T, mở rộng tuyến bờ kệnh từ 5 m lên 10 m, dài 340 m của đoạn kênh dẫn trạm bơm cấp II thuộc dự án cấp nước khu Lê Hồng P4, huyện B với tổng giá trị 10.641.398.895 đồng.
Đối với 13 hạng mục công trình này đều chưa có chủ trương đầu tư nên chưa có dự toán được duyệt, chưa thực hiện công tác đấu thầu (hoặc giao thầu) về xây lắp, thiết bị, chưa có nguồn vốn. Các hạng mục công trình này được thi công song song, đồng thời với các hạng mục khác của dự án công trình đã có quyết định đầu tư, xây dựng do Công ty K làm chủ đầu tư và Công ty TNHH X5, Công ty TNHH X4 là đơn vị thi công tại thời điểm đó. Do vậy, các bên thống nhất sau khi hoàn thành công trình sẽ làm thủ tục, hồ sơ thanh toán. Cả 13 hạng mục công trình này đều thi công do thỏa thuận miệng giữa các bên, không có hợp đồng, văn bản hay tài liệu nào thể hiện việc trao đổi này. Đến nay số tiền còn nợ của các nhà thầu thi công là 15.055.500.225 đồng; cụ thể: nợ Công ty TNHH X4 07 công trình với tổng giá trị xây lắp là 4.414.101.330 đồng, nợ Công ty TNHH X5 06 công trình với tổng giá trị xây lắp là 10.641.398.895 đồng. Sau khi thi công hoàn thành 13 hạng mục công trình thì Công ty K là đơn vị quản lý,
sử dụng vì các hạng mục công trình này gắn liền với các hệ thống thủy lợi mà Công ty quản lý. Hiện tại cả 13 công trình trên đều đang khai thác và sử dụng. Đối với 13 hạng mục công trình trên, các đơn vị, cá nhân có liên quan không có yêu cầu hay tố cáo gì và đều khẳng định vụ việc này là tranh chấp dân sự. Do xác định đây là tranh chấp dân sự nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Tại Cáo trạng số 11/CT-VKSBT-P1 ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố ra trước Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận để xét xử các bị cáo: Nguyễn Hoàng T, Hoàng Đức H, Vũ Thông P, Trương Thanh L1 cùng về tội “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại khoản 3 Điều 224 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HS-ST ngày 17/9/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 224 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Hoàng T, Hoàng Đức H, Vũ Thông P, Trương Thanh L1 phạm tội “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng”.
1.1 Áp dụng điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoàng T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
1.2 Áp dụng điểm b, s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Hoàng Đức H.
Xử phạt: bị cáo Hoàng Đức H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo Vũ Thông P, Trương Thanh L1; về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận nhận được đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng T đề ngày 25/9/2024, bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Ngày 29/9/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận nhận được đơn kháng cáo của bị cáo Hoàng Đức H đề ngày 19/9/2024, bị cáo H kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hoàng T và bị cáo Hoàng Đức H vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Bị cáo Nguyễn Hoàng T trình bày: Hành vi sai phạm như án sơ thẩm nêu là đúng nhưng án tuyên phạt 3 năm 6 tháng tù là quá nặng so với động cơ và hành vi phạm tội. Bị cáo có rất nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, v khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết
tăng nặng. Trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm bị cáo tích cực làm công tác xã hội tại địa phương: hỗ trợ 41 phần quà cho hộ nghèo xã H và phường L, ủng hộ 5.000.000 đồng cho đồng bào hộ nghèo dân tộc có hoàn cảnh khó khăn tại xã P, trao 10.000.000đồng cho B chỉ đạo “Tiếp bước cho em đến trường” của xã H hỗ trợ học sinh, sinh viên nghèo gặp hoàn cảnh khó khăn, ủng hộ 10.000.000đồng cho hộ nghèo, cận nghèo xã P, Nhiều bà con địa phương và công nhân viên Công ty TNHH MTV K có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo tuổi già, đang điều trị bệnh tai biến, còn mẹ già, hành vi phạm tội của bị cáo không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, hậu quả đã khắc phục xong toàn bộ hậu quả số tiền 1.610.967.474đồng, phần công trình chưa thi công các bị cáo đã tổ chức thi công khắc phục hơn 50% bằng số tiền đóng góp của bị cáo H 100 triệu và của các bị cáo, công nhân viên công ty, bị cáo phạm tội không vì tư lợi cá nhân. Bị cáo có thêm được các tình tiết giảm nhẹ mới tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Bị cáo Hoàng Đức H trình bày: Công ty cổ phần T6 đã ký Hợp đồng số 12/2002/HĐ-BA ngày 09/9/2002 và nhận thi công các gói thầu với Công ty TNHH MTV K là gói thầu số 4, ngày 01/11/2002 bị cáo ký với bị cáo Trương Thanh L1 hợp đồng giao nhận thầu xây lắp công trình số 11TCCG/HĐ theo đó khoán toàn bộ công trình gói thầu số 4 cho bị cáo Lương thực H5. Bị cáo không có động cơ chiếm đoạt tài sản, số tiền do Công ty K thanh toán cho Công ty T6 2.201.791.000đồng, công ty T6 còn giữ 978.170.491 đồng, trong đó: 150.000.000đồng tạm ứng của gói thầu số 3, 828.170.491 đồng của gói thầu số 4, số tiền 1.223.620.509đồng ông L1 tạm ứng do Công ty T6 khoán giao toàn bộ công tác thi công và ngiệm thu. Hợp đồng kinh tế đối với gói thầu số 4 vẫn cò hiệu lực, Công ty T6 chỉ vi phạm hợp đồng do chậm trễ hoàn thành thi công công trình. Bị cáo đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ: tự nguyện khắc phục hậu quả đã nộp khắc phục toàn bộ thiệt hại 1.610.967.474đồng, phần công trình chưa thi công các bị cáo đã tổ chức thi công khắc phục hơn 50% bằng số tiền đóng góp của bị cáo H 100 triệu và của các bị cáo, công nhân viên công ty của bị cáo T, thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, bị cáo có quá trình cống hiến lâu dài và đạt nhiều thành tích trong công tác được Bộ N3 &PTNT tặng Kỷ niệm chương, cha ruột được tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhì, Huy chương kháng chiến hạng Nhì, bị cáo đã hơn 70 tuổi, sức khỏe yếu, bệnh tai biến nặng. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, o khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 54 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ thấp nhất và cho hưởng án treo để bị cáo sớm có cơ hội làm lại cuộc đời và thể hiện rõ tinh thần nhân văn của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng tội danh, không oan sai. Tại phiên tòa các bị cáo cung cấp các tình tiết giảm nhẹ mới, bản thân các bị cáo bị bệnh tai biến, các bị cáo tham gia đóng góp công tác xã hội, xét hậu quả của vụ án được khắc phục hoàn toàn, các bị cáo lớn tuổi, việc bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù là không cần thiết, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa án sơ
thẩm giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách bị cáo T 5 năm, bị cáo H 4 năm.
Luật sư Huỳnh Chí C2 bào chữa cho bị cáo Hoàng Đức H trình bày: Thống nhất phần trình bày của bị cáo H, bị cáo là người cao tuổi trên 70 tuổi, bản thân bị bệnh tai biến nặng, bản thân có quá trình cống hiến lâu dài và đạt nhiều thành tích trong công tác được Bộ N3 &PTNT tặng Kỷ niệm chương, cha ruột được tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhì, Huy chương kháng chiến hạng Nhì, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, cho bị cáo H được hưởng án treo.
Bị cáo T, bị cáo H thống nhất, không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng T và bị cáo Hoàng Đức H được thực hiện trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận và xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Hoàng T, Hoàng Đức H đều thừa nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm nêu là đúng, cụ thể: Công trình kiên cố hóa kênh mương hệ thống thủy lợi hồ N - S, huyện H: kiên cố hóa kênh mương hệ thống thủy lợi hồ N - Suối Le được Chủ tịch UBND tỉnh B phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi tại Quyết định số 3261 QĐ/CT-UBBT ngày 30/11/2001 với tổng mức đầu tư là 10.762.000.000 đồng (chi phí xây lắp: 9.073.000.000 đồng, kiến thiết cơ bản khác 711.000.000 đồng, chi phí dự phòng: 978.000.000 đồng); trong đó được phân chia thành các gói thầu như sau: Gói 1: Thiết kế kỹ thuật - Dự toán; Gói 2: Công trình đầu mối; Gói 3: Kênh chính Núi Đ và kênh cấp I N5; Gói 4: Kênh chính Suối Le, kênh tiếp nước S và các công trình trên kênh. Công trình này được UBND tỉnh giao cho Công ty K làm chủ đầu tư. Trong quá trình thực hiện Gói thầu số 4: các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Hoàng Đức H, Vũ Thông P, Trương Thanh L1 đã có hành vi thông đồng làm sai lệch kết quả giám sát thi công, nghiệm thu nâng khống khối lượng thi công so với thực tế thi công để thanh toán với Kho bạc nhà nước. Các bị cáo đã 03 lần ký các biên bản nghiệm thu vào các ngày 02/12/2002, ngày 04/6/2003 và ngày 29/12/2003 để thanh toán khống, dẫn đến gây thiệt hại cho Nhà nước số tiền 1.610.429.337 đồng. Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Vũ Thông P, Hoàng Đức H, Trương Thanh L1 đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” được quy định tại Điều 165 Bộ luật Hình sự 1999, do phát hiện sau 00 giờ 00 phút ngày 01/01/2018, căn cứ điểm e Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14 về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 nên bị điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, tội danh
tương ứng của các bị cáo là hành vi “Thông đồng làm sai lệch kết quả giám sát thi công”, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng”, được quy định tại khoản 3 Điều 224 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng luật định.
[2.2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoàng T, Hoàng Đức H xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Bị cáo Nguyễn Hoàng T là Giám đốc Công ty K, là đại diện đơn vị chủ đầu tư, có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát thi công công trình. Quá trình thực hiện, Nguyễn Hoàng T đã thành lập Tổ giám sát thi công nhưng đã cố ý làm trái quy định của pháp luật về công tác giám sát thi công, thông đồng với Hoàng Đức H là Giám đốc của đơn vị thi công kiểm tra, nghiệm thu và xác nhận khống khối lượng thi công gây thiệt hại cho Ngân sách nhà nước là 1.610.429.337 đồng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng T và Hoàng Đức H gây hậu quả rất nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, chính quyền ở địa phương và niềm tin của nhân dân với Nhà nước, bị cáo T có vai trò trách nhiệm chính; cấp sơ thẩm đã cân nhắc, xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 03 năm 06 tháng tù, Hoàng Đức H 03 năm tù đối với các bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy mức hình phạt trên là còn quá nghiêm khắc bởi lẽ: các bị cáo phạm tội không vì vụ lợi cá nhân, công trình vi phạm xảy ra từ năm 2002, sau khi bị phát hiện các bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả bằng việc tiếp tục thi công, gia cố nạo vét,.... hoàn thành tiếp một phần công trình kiên cố hóa kênh mương hệ thống thủy lợi hồ N - Suối Le khắc phục hơn 50% bằng số tiền đóng góp của bị cáo H 100 triệu và của các bị cáo, công nhân viên công ty Ủ ăn năn hối cải của các bị cáo (theo Báo cáo số 1456/BC-KTCTTL ngày 30/10/2023 của Công ty K), toàn bộ hậu quả thiệt hại cho Ngân sách nhà nước là 1.610.429.337 đồng đã được khắc phục từ ngày 18/3/2022. Bị cáo T có tình tiết giảm nhẹ mới là tích cực làm công tác xã hội tại nhiều địa phương được ghi nhận và công nhân viên Công ty TNHH MTV K có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo tuổi già, đang điều trị bệnh tai biến. Bị cáo H đã hơn 70 tuổi, sức khỏe yếu, cung cấp hồ sơ bệnh tai biến nặng đang điều trị. Xét thấy, tại cấp phúc thẩm bị cáo Nguyễn Hoàng T và bị cáo Hoàng Đức H có thêm tình tiết giảm nhẹ mới, hậu quả thiệt hại của vụ án được khắc phục, các bị cáo có nhân thân tốt, là người cao tuổi, đang bị bệnh tai biến, các bị cáo phạm tội không thuộc các trường hợp không được cho hưởng án treo theo Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và việc không bắt buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù và cho hưởng án treo cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo; chấp nhận quan điểm bào chữa của Luật sư bào chữa cho bị cáo H, sửa án sơ thẩm phần hình phạt.
[2.3] Đối với các bị cáo Vũ Thông P, Trương Thanh L1 không có kháng cáo, kháng nghị có liên quan nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa đề nghị chấp nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm giảm hình phạt và cho các bị cáo hưởng án treo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Các nội dung khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật.
[5] Bị cáo Nguyễn Hoàng T và Hoàng Đức H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định do kháng cáo được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Hoàng T và Hoàng Đức H, sửa Bản án sơ thẩm về hình phạt. cụ thể tuyên:
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Hoàng T, Hoàng Đức H phạm tội “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng”.
1.1 Áp dụng: khoản 3 Điều 224, điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoàng T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Hoàng T cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
1.2 Áp dụng: khoản 3 Điều 224, điểm b, s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Hoàng Đức H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Hoàng Đức H cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
3. Bị cáo Nguyễn Hoàng T và bị cáo Hoàng Đức H không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Minh |
Bản án số 123/2025/HS-PT ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự: vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng
- Số bản án: 123/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng T cùng đồng phạm "Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng"
