|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2025
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thùy Dung.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Lâm; Ông Trần Văn Chu.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long tham gia phiên toà: Bà Dương Thy Trúc Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 113/2025/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 86/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 75/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thanh N, sinh năm 2001;
Căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 30 tháng 11 năm 2022;
Địa chỉ: Số E, ấp P, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Chí N1, sinh năm 2000;
Căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 20 tháng 5 năm 2023;
Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
(Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/7/2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Thị Thanh N trình bày:
Chị và anh Nguyễn Chí N1 kết hôn năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng giữa năm 2024 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường hay cãi nhau do không cùng quan niệm sống, anh N1 thường xuyên nhậu nhẹt, không chăm lo cuộc sống gia đình vợ con, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt trầm trọng không thể hàn gắn được, mặc dù hai bên gia đình có khuyên nhủ, hòa giải. Chị và anh N1 đã ly thân từ tháng 11/2024 cho đến nay.
Do mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Chí N1.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh N1 có 01 con chung tên Nguyễn Phan Bảo N2, sinh ngày 01/11/2024. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu anh N1 cấp dưỡng cho con với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, sau đó, chị thay đổi yêu cầu, không yêu cầu anh N1 phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do không thể đến tham gia phiên tòa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt chị và cam đoan không khiếu nại về sau.
Bị đơn anh Nguyễn Chí N1 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, xét yêu cầu của đương sự, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Chị Phan Thị Thanh N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với anh Nguyễn Chí N1, cư trú tại ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” do Tòa án nhân dân khu vực 8 – Vĩnh Long thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
- Nguyên đơn chị Phan Thị Thanh N vắng mặt tại phiên tòa, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Nguyễn Chí N1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan và không có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân:
Chị Phan Thị Thanh N và anh Nguyễn Chí N1 kết hôn vào năm 2023, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã T, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 13/5/2024 trên tinh thần tự nguyện nên hôn nhân giữa chị N và anh N1 là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Quá trình chung sống giữa chị N và anh N1 hạnh phúc đến tháng 11/2024 thì phát sinh mẫu, nguyên nhân do vợ, chồng không hòa thuận, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã nhau, anh N1 không chăm lo cuộc sống gia đình, mặc dù hai bên gia đình đã có khuyên nhủ, động viên nhưng anh, chị không hàn gắn được và đã ly thân, không còn sống chung với nhau từ thời gian đó cho đến nay. Trong thời gian ly thân, giữa chị N và anh N1 vẫn không thể tự hòa giải, không có giải pháp khắc phục mâu thuẫn dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vợ, chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được và không còn khả năng hàn gắn. Bên cạnh đó, khi chị N khởi kiện xin ly hôn, Toà án đã tiến hành mời chị N và anh N1 đến để hoà giải, nhằm mục đích cho hai bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh N1 đều vắng mặt không lý do, cho thấy anh N1 đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cho chị N và anh N1 ly hôn là phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Về con chung:
Chị Phan Thị Thanh N và anh Nguyễn Chí N1 có 01 con chung tên Nguyễn Phan Bảo N2, sinh ngày 01/11/2024. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng cho con.
Hội đồng xét xử xét thấy, cháu Nguyễn Phan Bảo N2 hiện dưới 36 tháng tuổi và chị N đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, vì vậy, xét yêu cầu của chị N về việc giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
Ghi nhận chị N không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung: Chị Phan Thị Thanh N khai không có nên không xét đến.
- Về nợ chung: Chị Phan Thị Thanh N khai không có nên không xét đến.
- Về quan hệ hôn nhân:
- Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Về án phí phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phan Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng các điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Các điều 4, 6, 7 của Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Thanh N về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Chí N1.
Chị Phan Thị Thanh N được ly hôn với anh Nguyễn Chí N1.
- Về con chung: Chị Phan Thị Thanh N và anh Nguyễn Chí N1 01 con chung tên Nguyễn Phan Bảo N2, sinh ngày 01/11/2024.
Chị Phan Thị Thanh N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung
Ghi nhận chị Phan Thị Thanh N không yêu cầu anh Nguyễn Chí N1 cấp dưỡng cho con.
Anh Nguyễn Chí N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở.
Chị Phan Thị Thanh N cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Nguyễn Chí N1 trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, khoản 1 và khoản 2 Điều 86, Điều 116 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên và quyết định thay đổi mức cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung: Chị Phan Thị Thanh N khai không có nên không xét đến.
- Về nợ chung: Chị Phan Thị Thanh N khai không có nên không xét đến.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phan Thị Thanh N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0001254 ngày 31/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long. Ghi nhận chị Phan Thị Thanh N đã nộp đủ án phí.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thùy Dung |
Bản án số 123/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 123/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng cho con giữa chị Phan Thị Thanh N với anh Nguyễn Chí N1
