Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ VANG

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 123/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18-6-2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thúc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Mai Thị Toán.
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Phượng.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Tôn Thất Nhật Tài- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phú Vang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Vân Tiên- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Vang, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 152/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Chị Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố H. Có mặt.

Bị đơn:

Anh Trương Ngọc C, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/11/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn- chị Nguyễn Thị Mỹ N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ N và anh Trương Ngọc C tìm hiểu nhau một thời thời gian, sau đó tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là xã P), huyện P vào ngày 05/9/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi vã và không tôn trọng nhau. Ngoài ra, do anh C không quan tâm đến vợ con và còn tình cảm với người phụ nữ khác làm cho mâu thuẫn càng trở nên trầm trọng. Đến cuối năm 2018, sau nhiều lần cãi vã và xung đột thì chị N đã mang theo 02 con bỏ đi, sống ly thân với anh C cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm và chăm sóc đến nhau nữa, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N xin được ly hôn với anh C.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ N trình bày vợ chồng có 02 con chung là Trương Thị Ngọc N1, sinh ngày 19/4/2009 và Trương Ngọc Anh D, sinh ngày 11/03/2018, hiện nay cả 02 con đều đang ở với chị N. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để anh Trương Ngọc C thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng anh C vẫn vắng mặt nên không có lời khai của anh C.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, người tiến hành tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng không có vi phạm gì cần kiến nghị khắc phục. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ N, cho chị Nguyễn Thị Mỹ N được ly hôn với anh Trương Ngọc C. Về con chung: Giao 02 con chung Trương Thị Ngọc N1, sinh ngày 19/4/2009 và Trương Ngọc Anh D, sinh ngày 11/03/2018 cho chị Nguyễn Thị Mỹ N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên, đủ 18 tuổi; anh Trương Ngọc C không phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi các con chung. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Mỹ N phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Trương Ngọc C đang cư trú tại địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố H theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trương Ngọc C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không do trở ngại khách quan, không vì sự kiện bất khả kháng nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ N và anh Trương Ngọc C chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.

Xét về yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ N, thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, lời khai của chị N, có cơ sở xác định: Vợ chồng sau khi kết hôn thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống nên hay cãi vã và không tôn trọng nhau. Vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ cuối năm 2018 cho đến nay. Từ khi chị N có đơn xin ly hôn, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để anh C trình bày ý kiến theo yêu cầu khởi kiện của chị N nhằm mục đích hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng nhưng anh C không đến Tòa án, chứng tỏ anh Trương Ngọc C có thái độ bỏ mặc cuộc hôn nhân này.

Như vậy, xét thấy mâu thuẫn trong hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Mỹ N và anh Trương Ngọc C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Mỹ N được ly hôn với anh Trương Ngọc C là đúng quy định pháp luật.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ N xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Trương Thị Ngọc N1, sinh ngày 19/4/2009 và Trương Ngọc Anh D, sinh ngày 11/03/2018, hiện nay cả 02 con đều đang ở với chị N. Xét thấy chị N đang có công việc và chỗ ở ổn định, 02 cháu N1 và D đều có nguyện vọng được ở với mẹ nên cần giao cả 02 con chung Trương Thị Ngọc N1 và Trương Ngọc Anh D cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi là đúng quy định với pháp luật. Chị Nguyễn Thị Mỹ N không yêu cầu anh Trương Ngọc C cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên không xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về án phí: Buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Mỹ N, cho chị Nguyễn Thị Mỹ N được ly hôn với anh Trương Ngọc C. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con chung: Giao 02 con chung Trương Thị Ngọc N1, sinh ngày 19/4/2009 và Trương Ngọc Anh D, sinh ngày 11/03/2018 cho chị Nguyễn Thị Mỹ N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, đủ 18 tuổi. Anh Trương Ngọc C không phải cấp dưỡng tiền nuôi các con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị N đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004498 ngày 14/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Vang, thành phố H.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế;
  • - VKSND huyện Phú Vang;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Vang;
  • - UBND xã Phú Gia, huyện Phú Vang
  • (số 26 ngày 05/9/2008);
  • Thành phố Huế;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA;
  • - Lưu dán án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thúc Mỹ

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 123/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger