|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 123/2025/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 6 - 2025 V/v Ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Đào Việt Khái.
Ông Nguyễn Ngọc Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Võ Thúy Nhị - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1986 (xin vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hoài Â, sinh năm 1989 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 07/3/2025, cùng các văn bản kèm theo bà Nguyễn Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Hoài  thành hôn và chung sống với nhau như vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau ngày 03/12/2012. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất
đồng quan điểm sống, không hòa hợp nhau, thường xuyên cự cãi và ông Nguyễn Hoài  có hành vi bạo lực gia đình. Sự việc mâu thuẫn được gia đình hai bên hòa giải hàn gắn nhưng vẫn không thành. Cả hai không còn chung sống với nhau khoảng 08 năm nay. Hiện nay bà không còn tình cảm dành cho ông Nguyễn Hoài  và không thể tiếp tục sống cùng ông Nguyễn Hoài Â. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không mang lại hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên bà cương quyết yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Hoài Â.
Về con chung có 02 tên Nguyễn Thị Huyền T, (giới tính nữ), sinh ngày 23/3/2013 và Nguyên Hoài T1 (giới tính nam), sinh ngày 10/5/2015. Hiện 02 con chung đang do ông  trực tiếp nuôi dưỡng, bà yêu cầu giao hai con chung cho ông  tiếp tục nuôi dưỡng, bà đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Do công việc làm ăn xa nên việc đi lại khó khăn, bà Nguyễn Thị H xin vắng mặt tham gia tố tụng và không có ý kiến gì khác.
Ông Nguyễn Hoài  đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đồng thời triệu tập xét xử nhiều lần nhưng ông  vẫn không tham gia tố tụng.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, cụ thể về hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận cho bà Nguyễn Thị H ly hôn với ông Nguyễn Hoài Â; Về con chung: Có 02 người tên Nguyễn Thị Huyền T, (giới tính nữ), sinh ngày 23/3/2013 và Nguyễn Hoài T1 (giới tính nam), sinh ngày 10/5/2015. Hiện 02 con chung đang do ông  trực tiếp nuôi dưỡng, bà yêu cầu giao hai con chung cho ông  tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Bà Nguyễn Thị H đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật nên chấp nhận là phù hợp. Về tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có, không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án tranh chấp ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Nguyễn Thị H xin vắng mặt tham gia phiên tòa. Nay căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.
Ông Nguyễn Hoài  đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử đến lần thứ hai, nhưng ông Nguyễn Hoài  vắng mặt không có lý do. Nay căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.
[2] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hoài  chung sống với nhau như vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm thường xuyên tranh cãi. Bà Nguyễn Thị H xác định không còn tình cảm dành cho ông Nguyễn Hoài  và bà Nguyễn Thị H cương quyết ly hôn. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hoài  không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được. Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hoài  đã và đang trong tình trạng trầm trọng. Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Hoài  không có ý kiến gì, ông  cũng không tham hòa giải thể hiện ý chí không mong muốn đoàn tụ gia đình. Xét cho bà Nguyễn Thị H ly hôn với ông Nguyễn Hoài  là có cơ sở.
[3] Về con chung: Có 02 người tên Nguyễn Thị Huyền T, (giới tính nữ), sinh ngày 23/3/2013 và Nguyễn Hoài T1 (giới tính nam), sinh ngày 10/5/2015. Hiện 02 con chung đang do ông  trực tiếp nuôi dưỡng, bà yêu cầu giao hai con chung cho ông  tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Mặc khác cháu Nguyễn Thị Huyền T và Nguyễn Hoài T1 có nguyện vọng sống cùng với ông Nguyễn Hoài  nên chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H là phù hợp. Bà Nguyễn Thị H đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật nên chấp nhận là phù hợp.
[4] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Không có nên không đặt ra xem xét.
[6] Từ những phân tích và nhận định nêu trên xét thấy quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát về hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung là có căn cứ nên được chấp nhận.
[7] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng vào các điều 56, 81, 82, 83, 116, 107 và 110 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Nguyễn Thị H ly hôn với ông Nguyễn Hoài Â.
- Về con chung: Giao Nguyễn Thị Huyền T, (giới tính nữ), sinh ngày 23/3/2013 và Nguyễn Hoài T1 (giới tính nam), sinh ngày 10/5/2015 cho ông Nguyễn Hoài  tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H về việc cấp dưỡng nuôi con. Bà Nguyễn Thị H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.450.000 đồng (mỗi người 1.725.000 đồng/tháng), cấp dưỡng hàng tháng. Việc cấp dưỡng cho đến khi Nguyễn Thị Huyền T và Nguyễn Hoài T1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Ông Nguyễn Hoài  có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền cấp dưỡng thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng. Bà Nguyễn Thị H đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0003905 ngày 07/3/2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, nay chuyển thu.
Về án phí cấp dưỡng: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (khi bản án có hiệu luật)
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Hoài  có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Ngọc Trọng |
Bản án số 123/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn
- Số bản án: 123/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hoài Â
