Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2025/HNGĐ - ST

Ngày 12 - 6 - 2025

V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Chí Thêm

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Trung

Ông Trần Quốc Trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil - Thư ký Tòa án

Trong ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 191/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về việc tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị T, sinh năm 1991 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

2. Bị đơn: Anh Trần Chí T1, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 4 năm 2025 và lời khai tại Tòa án nguyên đơn chị Huỳnh Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2019, được sự thống nhất của hai bên gia đình, chị và anh Trần Chí T1 đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Trong quá trình chung sống vợ chồng chị thường xuyên cự cãi, anh T1 thường xuyên nhậu nhẹt, đánh đập chị. Nay chị xét thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng, anh chị đã không còn sống chung từ năm 2024 cho đến nay nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Chí T1.

Về con chung: Vợ chồng chị có hai người con chung tên là Trần Chí N, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2014 và Trần Gia K, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2023. Hiện nay, cháu N đang sống cùng với anh T1, cháu K đang sống cùng với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu K; giao cháu N cho anh T1 được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Anh chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, nợ riêng: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Trần Chí T1 đã được Toà án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng không đến Toà án theo giấy triệu tập và cũng không gửi cho Toà án văn bản ý kiến của mình nên không ghi nhận được ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Chị Huỳnh Thị T nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trần Chí T1. Khi khởi kiện, anh T1 cư trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Chị Huỳnh Thị T có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T theo quy định khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Trần Chí T1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về hôn nhân: Chị T và anh T1 tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2019 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69, ngày 23 tháng 5 năm 2019 nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Qua trình bày của chị T về nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị T và anh T1, chị T yêu cầu được ly hôn với anh T1. Anh T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T. Xét thấy, hôn nhân bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện, vợ chồng yêu thương, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Hôn nhân giữa chị T và anh T1 mâu thuẫn trầm trọng, anh chị đã không còn sống chung với nhau từ năm 2024 cho đến nay, cuộc sống vợ chồng đã không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị T yêu cầu được ly hôn với anh T1 là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

2

[3.2] Về con chung: Chị T và anh T1 có hai người con chung là Trần Chí N, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2014 và Trần Gia K, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2023. Hiện nay, cháu N đang sống cùng với anh T1; cháu K đang sống cùng với chị T. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu K; giao cháu N cho anh T1 được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, anh T1 không có ý kiến gì về yêu cầu của chị T và hiện tại cháu N do anh T1 đang trực tiếp nuôi dưỡng; cháu K đang được chị T nuôi dưỡng. Hơn nữa, tại biên bản làm việc của Tòa án thì cháu N có nguyện vọng sống với anh T1. Đồng thời, để đảm bảo sự ổn định sinh hoạt, ăn ở, học hành, chăm sóc, nuôi dạy cháu K và cháu K cũng còn rất nhỏ nên cần có sự chăm sóc chu đáo từ người mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu giao con chung là cháu N cho anh T1 của chị T và yêu cầu được nuôi con chung là cháu K là chính đáng nên được chấp nhận. Giao cháu N cho anh T1 tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu K cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị T và anh T1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh T1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3.3] Về tài sản chung: Chị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3.4] Về nợ chung, nợ riêng: Chị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị T phải nộp 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, các điều 53, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

3

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị T đối với anh Trần Chí T1. Xử cho chị Huỳnh Thị T được ly hôn với anh Trần Chí T1.
  2. Về con chung: Giao cháu Trần Chí N, sinh ngày 30 tháng 6 năm 2014 cho anh Trần Chí T1 tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
  3. Giao cháu Trần Gia K, sinh ngày 18 tháng 12 năm 2023 cho chị Huỳnh Thị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị Huỳnh Thị T và anh Trần Chí T1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Chị Huỳnh Thị T và anh Trần Chí T1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung: Chị Huỳnh Thị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  2. Về nợ chung, nợ riêng: Chị Huỳnh Thị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  3. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị T phải chịu số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0019391 ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Cà Mau. Chị Huỳnh Thị T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Chí Thêm

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2025/HNGĐ - ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 123/2025/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh T1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger