Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ LÁCH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2025/DS-ST

Ngày: 25/6/2025

V/v “Tranh chấp đòi tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Gia Ảnh.
  2. Ông Hà Công Tâm.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 300/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2025/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 05 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1.Ông Nguyễn Thanh Sơn, sinh năm 1953.

Địa chỉ: số 50B, khu phố 2, phường 5, Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. .

1.2.Ông Hồ Trung Trực, sinh năm 1957.

Địa chỉ: 98/4 đường Nguyễn Huệ, phường An Hội, Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Sơn, ông Trực:

Ông Nguyễn Văn Tặng – Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn Tặng thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre.

2.Bị đơn:

Bà Dương Thị Tuyết Nhung, sinh năm 1982.

Địa chỉ: 202/30 ấp Vĩnh Hưng 2, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Trần Hùng, sinh năm 1981.

Địa chỉ: 132/5 ấp Lộc Hiệp, xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

(Chồng bà Dương Thị Tuyết Nhung)

Tại phiên tòa sơ thẩm ông Sơn, ông Trực, ông Tặng, bà Nhung có mặt, ông Hùng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung ngày 12 tháng 09 năm 2024, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Sơn, ông Hồ Trung Trực cùng có lời trình bày:

Nguyên vào ngày 09 tháng 02 năm 2022, ông Nguyễn Thanh Sơn và ông Hồ Trung Trực có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà Dương Thị Tuyết Nhung và ông Nguyễn Trần Hùng, hợp đồng có công chứng tại Văn phòng công chứng Tín Hữu, bao gồm 04 thửa đất:

  • Thửa đất số 06, tờ bản đồ số 02, diện tích 594,6m2, tọa lạc tại xã Vĩnh Hòa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
  • Thửa đất số 08, tờ bản đồ số 02, diện tích 2.477,4m2, tọa lạc tại xã Vĩnh Hòa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
  • Thửa đất số 23, tờ bản đồ số 21, diện tích 932,5m2, tọa lạc tại xã Phú Sơn, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
  • Và thửa đất số 15, tờ bản đồ số 21, diện tích 2.698,25m2, tọa lạc tại xã Phú Sơn, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Khi thanh toán tiền chuyển nhượng bà Nhung, ông Hùng còn nợ lại ông Sơn, ông Trực số tiền 1.000.000.000đồng (Một tỷ đồng); ông Hùng, bà Nhung hứa sẽ trả sau và mỗi tháng sẽ trả lãi cho ông Sơn, ông Trực với mức lãi suất 1,5%/tháng (thỏa thuận miệng) và ông Sơn, ông Trực đã giao 04 phần đất nêu trên cho ông Hùng, bà Nhung quản lý sử dụng từ khi ký hợp đồng chuyển nhượng cho đến nay và ông Hùng, bà Nhung đã thực hiện trả lãi cho ông Sơn, ông Trực được 03 tháng, sau đó không thực hiện trả nữa.

Do bà Nhung và ông Hùng là vợ chồng nên ông Sơn và ông Trực đồng ý để một mình bà Nhung viết giấy nhận nợ (giấy viết tay ngày 24/10/2023, không công chứng, chứng thực) và giao cho ông Sơn, ông Trực cất giữ. Trong giấy nhận nợ, do bà Nhung đang tạm trú tại xã Long Thới, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre nên ghi theo địa chỉ tạm trú như trên và bà Nhung có thừa nhận: “Còn nợ 1.000.000.000 đồng, lý do nợ là do mua đất trả chưa xong, đã gần 01 năm chưa trả chú Ba...”. Bà Nhung cam kết trả nợ như sau:

  • Lần 1 (đến mùng 09 tết năm 2024 âm lịch – tức ngày 18/02/2024 dương lịch: trả từ 200.000.000đồng đến 400.000.000đồng
  • Số tiền còn lại bà Nhung hứa từ hai đến ba tháng tiếp theo sẽ kinh doanh và trả dần cho đến khi hết nợ.

Tuy nhiên, từ sau khi viết giấy nhận nợ đến nay, hơn một năm bà Nhung, ông Hùng không trả gốc, trả lãi, cho ông Sơn, ông Trực. Ông Sơn, ông Trực nhiều lần liên hệ nhưng bà Nhung, ông Hùng đều tránh né, điện thoại không nghe máy, ông Hùng, bà Nhung không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho ông Sơn, ông Trực.

Nay ông Sơn, ông Trực yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc bà Dương Thị Tuyết Nhung và ông Nguyễn Trần Hùng phải có nghĩa vụ liên đới trả lại tài sản cho ông Sơn, ông Trực là số tiền 1.000.000.000đồng theo nội dung giấy nhận nợ ngày 24/10/2023.

Ngoài ra nguyên đơn có yêu cầu tính lãi đối với số tiền nêu trên, với mức lãi suất 1,66%/tháng, tính từ ngày 24/10/2022 cho đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm, tạm tính đến ngày 03/6/2025 là 31 tháng 09 tháng với số tiền: 1000.000.000đồng x 1.66%/ tháng x 31 tháng 09 tháng = 614.200.000đồng.

Theo văn bản trình bày ý kiến (Đơn phản tố) ngày 02/12/2024, đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 02/12/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Dương Thị Tuyết Nhung trình bày:

Bà Nhung yêu cầu Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, cho rằng phía nguyên đơn phải chứng minh trong giấy nhận nợ 1.000.000.000 đồng mà bà Nhung nợ ông Sơn, ông Trực phải có con dấu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền công chứng, chứng thực và có cả chữ ký của ông Hùng và bà Nhung ký nhận nợ.

Tại buổi hòa giải ngày 02/12/2024 bà Nhung có đơn xin vắng mặt với lý do hiện tại bà Nhung đang kinh doanh ở tỉnh Ninh Thuận.

Trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Trần Hùng vắng mặt không có lí do nên không có lời trình bày tuy nhiên ông có ký tên vào “Đơn xin giải quyết vắng mặt” ngày 02/12/2024 và 25/6/2025 do bà Nhung viết.

* Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn thực hiện chưa đúng quy định tại Điều 72 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử ra quyết định tạm ngừng phiên tòa để thu thập thêm tài liệu, chứng cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật và tố tụng: Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vụ án có quan hệ pháp luật là “Tranh chấp đòi tài sản” quy định tại Điều 166 của Bộ Luật Dân sự năm 2015. Do bị đơn bà Dương Thị Tuyết Nhung có nơi cư trú tại ấp Vĩnh Hưng 2, xã Vĩnh Thành, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre và ông Nguyễn Trần Hùng có nơi cư trú tại ấp Lộc Hiệp, xã Vĩnh Bình, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre nên vụ kiện của ông Sơn, ông Trực thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Chợ Lách, Bến Tre theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng Dân sự.

Ông Nguyễn Trần Hùng vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nhưng tự nguyện có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là đúng qui định.

Bà bà Dương Thị Tuyết Nhung đề nghị hoãn phiên tòa để bà cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho ý kiến của bà và thu thập hợp đồng đặt cọc mua bán đất giữa nguyên đơn và bà tại Ngân hàng HD bank Chi nhánh Bến Tre tuy nhiên đây là phiên tòa thứ hai sau khi đã ngừng phiên tòa ngày 06/6/2025 và hợp đồng đặt cọc mua bán đất giữa nguyên đơn và bà tại Ngân hàng HD bank Chi nhánh Bến Tre hiện đã thu thập được trong hồ sơ nên yêu cầu này không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về nội dung:

Theo nguyên đơn, nguyên vào ngày 09 tháng 02 năm 2022, ông Nguyễn Thanh Sơn và ông Hồ Trung Trực có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà Dương Thị Tuyết Nhung và ông Nguyễn Trần Hùng, hợp đồng có công chứng tại Văn phòng công chứng Tín Hữu, bao gồm 04 thửa đất:

  • Thửa đất số 06, tờ bản đồ số 02, diện tích: 594,6m2, tọa lạc tại xã Vĩnh Hòa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
  • Thửa đất số 08, tờ bản đồ số 02, diện tích 2.477,4m2, tọa lạc tại xã Vĩnh Hòa, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
  • Thửa đất số 23, tờ bản đồ số 21, diện tích 932,5m2, tọa lạc tại xã Phú Sơn, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.
  • Và thửa đất số 15, tờ bản đồ số 21, diện tích 2.698,25m2, tọa lạc tại xã Phú Sơn, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Khi thanh toán tiền chuyển nhượng bà Nhung, ông Hùng còn nợ lại ông Sơn, ông Trực số tiền 1.000.000.000đồng (Một tỷ đồng); ông Hùng, bà Nhung hứa sẽ trả sau và mỗi tháng sẽ trả lãi cho ông Sơn, ông Trực với mức lãi suất 1,5%/tháng (thỏa thuận miệng) và ông Sơn, ông Trực đã giao 04 phần đất nêu trên cho ông Hùng, bà Nhung quản lý sử dụng từ khi ký hợp đồng chuyển nhượng cho đến nay và ông Hùng, bà Nhung đã thực hiện trả lãi cho ông Sơn, ông Trực được 03 tháng, sau đó không thực hiện trả tiền.

Theo bị đơn bà Nhung, bà yêu cầu Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, cho rằng phía nguyên đơn phải chứng minh trong giấy nhận nợ 1.000.000.000đồng mà bà Nhung nợ ông Sơn, ông Trực phải có con dấu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền công chứng, chứng thực và có cả chữ ký của ông Hùng và bà Nhung ký nhận nợ.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Sơn, ông Trực, ý kiến phản đối của bị đơn bà Nhung, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá chứng cứ như sau:

Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tại giấy nhận nợ (giấy viết tay ngày 24/10/2023, không công chứng, chứng thực) và giao cho ông Sơn, ông Trực cất giữ. Trong giấy nhận nợ, do bà Nhung đang tạm trú tại xã Long Thới, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre nên ghi theo địa chỉ tạm trú như trên và bà Nhung có thừa nhận: “Còn nợ 1.000.000.000 đồng, lý do nợ là do mua đất trả chưa xong, đã gần 01 năm chưa trả chú Ba...” tuy nhiên bà Nhung cho rằng phía nguyên đơn phải chứng minh trong giấy nhận nợ 1.000.000.000đồng mà bà Nhung nợ ông Sơn, ông Trực phải có con dấu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền công chứng, chứng thực và có cả chữ ký của ông Hùng và bà Nhung ký nhận nợ. Tòa án đã ra thông báo hợp lệ cho bà Nhung cung cấp chứng cứ chứng minh không có nợ 1.000.000.000đồng bà Nhung cũng đã giao nộp được một số tài liệu, chứng cứ nhưng không đủ cơ sở chứng minh bà không có nợ số tiền mua bán đất nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Phía nguyên đơn yêu cầu giám định, chữ ký và chữ việc của bà Nhung. Tại kết luận giám định số 153/2025/KL –KTHS ngày 12/05/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bến Tre thể hiện và kết luận:

Mẫu so sánh, tài liệu là hợp đồng đặt cọc ngày 08 tháng 02 năm 2022, số công chứng 202, quyển số 02/2022TP/CC – SCC/HĐGD, giữa Bên đặt cọc (sau đây gọi là Bên A) ông Nguyễn Trần Hùng và vợ là bà Dương Thị Tuyết Nhung với Bên nhận đặt cọc (sau đây gọi là Bên B) ông Hồ Trung Trực và vợ là bà Nguyễn Thị Kinh Oanh, ông Nguyễn Thanh Sơn và vợ là Nguyễn Thị Ngọc Sương (ký hiệu M). Chữ ký, chữ viết mang tên Dương Thị Tuyết Nhung dưới mục “Người nợ” trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết mang tên Dương Thị Tuyết Nhung trên mẫu so sánh (Ký hiệu M) bằng các phương pháp: Quan sát, phân tích, so sánh, đánh giá, tổng hợp, có sử dụng phương tiện giám định chuyên dụng phát ra tia bức xạ. Kết luận chữ ký, chữ viết mang tên Dương Thị Tuyết Nhung dưới mục “Người nợ” trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết mang tên Dương Thị Tuyết Nhung trên mẫu so sánh (Ký hiệu M) do cùng một người ký, viết ra.

Nhận thấy, pháp luật không quy định giấy nhận nợ phải có công chứng, chứng thực, từ những tài liệu, chứng cứ trên có cơ sở cho rằng giữa các bên có giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bị đơn còn nợ của nguyên đơn số tiền 1.000.000.000 đồng. Mặc dù, ông Hùng không có ký tên vào Giấy nhận nợ, tuy nhiên, ông Hùng và bà Nhung là vợ chồng, cùng thực hiện giao dịch đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất, do đó ông Hùng phải có trách nhiệm liên đới với bà Nhung trả tiền cho nguyên đơn.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấykhởi kiện của các nguyên đơn yêu cầu đòi bị đơn và ông Hùng liên đới trả số tiền 1.000.000.000đồng, trả làm một lần là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với việc yêu cầu tính lãi do bị đơn, người liên quan đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền từ ngày 24/10/2022 cho đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm, tính đến ngày 03/6/2025 là 31 tháng 09 ngày (tính thành tiền 614.200.000đồng) nên các nguyên đơn có yêu cầu tính lãi là có cơ sở chấp nhận. Nguyên đơn trình bày các bên có thỏa thuận lãi suất 1,5%/tháng (thỏa thuận miệng), ông Hùng, bà Nhung đã thực hiện trả lãi cho các ông được khoảng 03 tháng. Tuy nhiên, nguyên đơn không có tài liệu, chứng cứ hợp pháp và phù hợp chứng minh được các bên có thỏa thuận lãi suất và bị đơn có trả lãi cho nguyên đơn 03 tháng. Tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định:

  1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
  2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.”

Do đó, lãi suất được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 là 10%/năm. Về thời gian chậm trả, nguyên đơn yêu cầu tính từ ngày 24/10/2022 đến ngày 03/6/2024 là phù hợp nên chấp nhận.

Số tiền lãi được tính là: 1.000.000.000đồng x 0.83%/tháng x 31 tháng 09 ngày = 259.790.000đồng.

Như vậy tổng số tiền bà Dương Thị Tuyết Nhung và ông Nguyễn Trần Hùng phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Thanh Sơn và ông Hồ Trung Trực và là 1. 259.790.000đồng.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình thức là phù hợp nhận định Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Riêng về nội dung không có đề nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm, do yêu cầu của các nguyên đơn được chấp nhận nên bà Dương Thị Tuyết Nhung và ông Nguyễn Trần Hùng phải có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 36.000.000đồng + 459.790.000đồng x 3% = 49.793.700đồng.

Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Sơn và ông Hồ Trung Trực được chấp nhận yêu cầu miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch nên không phải chịu án phí đối phần yêu cầu tính lãi không được chấp nhận.

[4]. Về chi phí tố tụng: Chi phí giám định chữ ký chữ, chữ viết là 4.242.000đồng, do yêu cầu của các nguyên đơn được chấp nhận bà Dương Thị Tuyết Nhung và ông Nguyễn Trần Hùng phải có nghĩa vụ liên đới chịu.

QUYẾT ĐỊNH:

Vì các lẽ trên,

Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, 161 và 147 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 105, 115, 116, 163, 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện ông Nguyễn Thanh Sơn và ông Hồ Trung Trực đối với bà Dương Thị Tuyết Nhung và ông Nguyễn Trần Hùng về việc “Tranh chấp đòi tài sản”.

Buộc bà Dương Thị Tuyết Nhung và ông Nguyễn Trần Hùng phải có nghĩa vụ liên đới trả lại tài sản cho ông Nguyễn Thanh Sơn và ông Hồ Trung Trực là số tiền là 1. 259.790.000đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bà Dương Thị Tuyết Nhung và ông Nguyễn Trần Hùng phải có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 49.793.700đồng.

Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Sơn và ông Hồ Trung Trực được chấp nhận yêu cầu miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

3. Về chi phí tố tụng là 4.242.000đồng, bà Dương Thị Tuyết Nhung và ông Nguyễn Trần Hùng phải có nghĩa vụ liên đới chịu và phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Thanh Sơn và ông Hồ Trung Trực.

4. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng TT, KT và THA TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA+VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Chí Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2025/DS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 123/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Son - nhung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger