TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2025/DS-ST Ngày 23 – 6 – 2025 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Chí Thêm
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Ong Văn Đủ
Ông Trần Quốc Trí
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.
Trong ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2025/TLST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1956 (Vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của ông T: Chị Trần Kim C, sinh năm 1973 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
2. Bị đơn: Bà Phạm Kiều D, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
Ông Phạm Văn B, sinh năm 1979 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 3 năm 2025, và các lời khai tại Tòa án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Ngọc T là chị Trần Kim C trình bày:
Vào năm 2021, vợ chồng ông B, bà D có mở hụi và ông T có tham gia 01 chưng 2.000.000 đồng/tháng vào ngày 28/11/2021, hụi có 21 chưng; ngày 08/5/2022, ông T tham gia 01 chưng 1.000.000/tháng, hụi có 28 chưng; ngày 15/12/2022, ông T tham gia 02 chưng 2.000.000/tháng, hụi có 22 chưng. Đến ngày 10/5/2023, ông B và bà D tuyên bố bể hụi, ông T có đến tính tổng thì bà D, ông B còn nợ số tiền hụi là 41.500.000 đồng và có làm biên nhận. Vợ chồng bà D, ông B hứa cố đất trả tiền hụi cho ông T nhưng cố rồi mà không trả. Nay ông T yêu cầu bà D, ông B có trách nhiệm liên đới trả cho ông T số tiền hụi là 41.500.000 đồng, không yêu cầu lãi suất.
Bị đơn là bà Phạm Kiều D, ông Phạm Văn B đã được Toà án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng không đến Toà án theo giấy triệu tập và cũng không gửi cho Toà án văn bản ý kiến của mình nên không ghi nhận được ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
Tranh chấp giữa nguyên đơn ông Trần Ngọc T với bị đơn bà Phạm Kiều D và ông Phạm Văn B là “Tranh chấp hụi” được quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn bà Phạm Kiều D và ông Phạm Văn B có địa chỉ cư trú tại ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Do đó, Tòa án nhân dân huyện C thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Kiều D, ông Phạm Văn B đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà D, ông B theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Qua xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, nhận định của Hội đồng xét xử về nội dung tranh chấp của vụ án như sau:
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc T về việc yêu cầu bà Phạm Kiều D và ông Phạm Văn B có trách nhiệm liên đới trả cho ông T số tiền hụi là 41.500.000 đồng.
Quá trình làm việc tại Tòa án, ông T xác định có tham gia chơi hụi do bà D, ông B làm chủ hụi, Cụ thể: Dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở vào ngày 28/11/2021, có 21 chưng, ông T tham gia 01 chưng; Dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở vào ngày 08/5/2022, có 28 chưng, ông T tham gia 01 chưng; Dây hụi 2.000.000 đồng/tháng, mở vào ngày 15/12/2022, có 22 chưng, ông T tham gia 02 chưng. Đến ngày 10/5/2023 thì bà D, ông B tuyên bố bể hụi. Sau khi bà D, ông B tuyên bố bể hụi thì ông T với ông B, bà D có kết toán nợ hụi lại với nhau và ông B, bà D có làm biên nhận nợ ông T số tiền hụi là 41.500.000 đồng, hứa khi nào cố được đất xong sẽ trả tiền hụi cho ông T nhưng khi cố được đất lại không trả. Nay ông T yêu cầu bà D, ông B có trách nhiệm liên đới trả cho ông T số tiền hụi là 41.500.000 đồng và không yêu cầu lãi suất. Đối với bà D, ông B, kể từ khi thụ lý vụ án bà D, ông B đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ và thông báo về các phiên hòa giải, triệu tập đến để xét xử, nhưng bà D, ông B vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng và cũng không có bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của ông T. Điều này, cho thấy bà D, ông B không đưa các chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và phải tự chịu hậu quả pháp lý cho việc không đưa ra chứng cứ chứng minh và vắng mặt tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại các giao kèo chơi hụi ngày 15/12/2022; ngày 08/5/2022 và ngày 28/11/2021 do ông T cung cấp cho Tòa án thì có thành viên hụi tên “Út Thăm” tham gia. Đồng thời, theo giấy kết toán nợ hụi do bà D ký tên thể hiện “Tổng hụi còn nợ 41.500.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng)”. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy giữa ông T với bà D, ông B có xảy ra giao dịch hụi, trên cơ sở các giao kèo chơi hụi, giấy kết toán nợ hụi có căn cứ xác định bà D, ông B còn nợ ông T số tiền hụi là 41.500.000 đồng. Theo quy định tại khoản 8 Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường thì chủ hụi có nghĩa vụ phải thực hiện “Các nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật”. Bà D, ông B đã tuyên bố bể hụi nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ trả tiền hụi cho ông T. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T đối với bà D, ông B về tiền hụi, buộc bà D, ông B có trách nhiệm liên đới thanh toán cho ông T số tiền nợ hụi 41.500.000 đồng.
[3.2] Về yêu cầu tính lãi: Tại đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 3 năm 2025 và tại phiên tòa, ông T không yêu cầu tính lãi đối với số tiền hụi là 41.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Bà D, ông B phải chịu số tiền án phí đối với yêu cầu của ông T được chấp nhận là 41.500.000 đồng với số tiền án phí 2.075.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước.
Ông T không phải chịu án phí. Ông T thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 471 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Nghị định số: 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ngọc T đối với bà Phạm Kiều D và ông Phạm Văn B.
Buộc bà Phạm Kiều D và ông Phạm Văn B có trách nhiệm liên đới trả cho ông Trần Ngọc T số tiền hụi là 41.500.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày ông Trần Ngọc T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Phạm Kiều D và ông Phạm Văn B không thi hành thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc bà Phạm Kiều D và ông Phạm Văn B phải chịu án phí số tiền là 2.075.000 đồng (Hai triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi Bản án có hiệu lực.
Ông Trần Ngọc T không phải chịu án phí. Ông Trần Ngọc T thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời gian 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Chí Thêm |
Bản án số 123/2025/DS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi
- Số bản án: 123/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của ông Th
