Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 123/2025/DS-PT

Ngày: 28/11/2025

V/v: “Tranh chấp

Hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nga

Các Thẩm phán: Ông Mai Nam Tiến

Ông Lê Ngọc Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Hằng Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 84/2025/DSPT ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS -ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Thanh Hoá bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Hà Thị H – sinh năm 1990;
  • Địa chỉ: Thôn I, xã Q, tỉnh Thanh Hóa; (có mặt).
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Đinh Thị T – sinh năm 1981;
  • Địa chỉ: Số nhà A C, phường H, tỉnh Thanh Hóa; (có mặt).
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lê Văn H1 – Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh T; (có mặt).
  • Bị đơn: Chị Ngô Thị L – sinh năm 1988;
  • Địa chỉ: TDP N, phường N, tỉnh Thanh Hóa; (có mặt).
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Lê Thị H2 – Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh T; (vắng mặt).
  • Người kháng cáo: Bị đơn – chị Ngô Thị Lê .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Thanh Hoá và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung như sau:

* Nguyên đơn - chị Hà Thị H trình bày:

Do mối quan hệ quen biết nên ngày 02/01/2025, chị Hà Thị H cho chị Ngô Thị Lê V số tiền 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) để giải quyết công việc. Trong đó, tiền chuyển khoản là 1.476.000.000đ (một tỷ bốn trăm bảy mươi sáu triệu đồng) và đưa tiền mặt là 524.000.000đ (Năm trăm hai mươi tư triệu đồng). Khi vay, hai bên có viết giấy xác nhận vay tiền và thống nhất thời gian trả nợ do hai bên tự thỏa thuận. Đến ngày 09/01/2025, chị L đã viết giấy xác nhận việc vay tiền và hẹn từ ngày 09/01/2025 đến ngày 19/01/2025 sẽ thanh toán số tiền nợ trên cho chị H. Tuy nhiên, đến hẹn chị H yêu cầu chị L thanh toán nhiều lần nhưng chị Lê khất L1 và không thanh toán cho chị. Vì vậy, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho mình, chị H khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4, Thanh Hóa) giải quyết buộc chị Ngô Thị L thanh toán số tiền nợ 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng) và chị không yêu cầu tính lãi đối với số tiền này.

Tại phiên tòa chị H thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu chị L thanh toán số tiền 1.990.000.000đ (Một tỷ chín trăm chín mươi triệu đồng) vì trước đó chị L đã chuyển khoản trả cho chị 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

* Bị đơn - chị Ngô Thị L trình bày:

Ngày 02/01/2025, chị có vay của chị Hà Thị H số tiền 2.000.000.000đ (Hai tỷ đồng). Quá trình vay, chị hẹn chị H đến ngày 19/01/2025 sẽ thanh toán. Tuy nhiên, khi đến hạn chị H có gia hạn cho chị khi nào có thì trả và đến nay chị chưa có tiền để trả cho chị H. Nay chị H khởi kiện, chị đề nghị được trả tiền nợ cho chị H theo quý trong thời hạn 02 năm cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ. Tại phiên tòa, chị trình bày trước đó đã trả cho chị H nhiều lần, có lần chuyển khoản, có lần trả tiền mặt. Lần trả tiền mặt 10.000.000đ (mười triệu đồng) chị không có giấy tờ gì, còn những lần chuyển khoản chị đề nghị cho chị thời gian để chị sao kê tại ngân hàng nộp cho Tòa án. Nay chị H yêu cầu chị thanh toán 1.990.000.000₫ (một tỷ chín trăm chín mươi triệu đồng), chị cũng đồng ý.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị HĐXX tạm ngừng phiên tòa, để bị đơn thu thập và nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ về việc trước đó chị L đã trả nợ cho chị H và làm rõ số tiền thực tế chị Lê N từ chị H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu tạm ngừng phiên tòa của phía bị đơn, bởi vì trong quá trình giải quyết vụ án đến nay chị L đã không cung cấp được cho Tòa án những tài liệu, chứng cứ thể hiện việc trả nợ cho chị H. Việc chị Lê K vào giấy xác nhận vay tiền cũng như lời trình bày tại phiên tòa đủ cơ sở khẳng định chị L có vay của chị H số tiền là 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng). Đề nghị HĐXX bác bỏ toàn bộ lời nại của phía bị đơn và căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 buộc chị Ngô Thị Lê T1 số tiền 1.990.000.000đ (một tỷ chín trăm chín mươi triệu đồng) cho chị Hà Thị H.

Với nội dung nêu trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 26/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 244; khoản 1 Điều 147; Điều 235; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật Tố tụng dân sự số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025; Điều 280; Điều 357; Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470 Bộ luật dân sự 2015; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hà Thị H:
  2. Buộc bị đơn chị Ngô Thị Lê C trách nhiệm trả cho chị Hà Thị H số tiền gốc là 1.990.000.000đ (Một tỷ chín trăm chín mươi triệu đồng).

  3. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, nghĩa vụ thi hành án, án phí của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 05/9/2025, bị đơn – chị Ngô Thị L có đơn kháng cáo bản án số 16/2025/DS-ST ngày 26/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, Thanh Hóa, với lý do Toà án bỏ qua nhiều tình tiết mà chị đã trình bày và xuất trình chứng cứ tại phiên toà, chưa bảo đảm quyền lợi cho chị. Do vậy, chị L yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho chị theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Bị đơn – chị Ngô Thị L vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Toà án hoãn phiên toà để chị có thời gian cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh chị H là người cho vay lãi nặng và chị đã nhiều lần trả tiền cho chị H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không đồng ý với nội dung kháng cáo của bị đơn, việc bị đơn nại ra cần có thời gian để cung cấp tài liệu, chứng cứ là không có căn cứ, bởi lẽ tại cấp sơ thẩm bị đơn cũng đưa ra yêu cầu này và đến nay là phiên toà phúc thẩm thời gian gần 4 tháng nhưng bị đơn vẫn không xuất trình thêm được tài liệu chứng cứ gì, mục đích của bị đơn là muốn trì hoãn, kéo dài thời gian phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm để đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn là chị Hà thị H.

Nguyên đơn, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thống nhất với ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, không bổ sung ý kiến.

Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá phát biểu quan điểm:

- Về việc chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp phúc thẩm: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ và đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành nội quy phiên tòa và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng. Việc bị đơn xin hoãn phiên toà để có thời gian cung cấp tài liệu, chứng cứ là không có căn cứ theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự nên không chấp nhận.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn - chị Ngô Thị Lê K1 được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong thời hạn, theo đúng quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên hợp lệ. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét, giải quyết đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
    2. Về sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
    3. Về yêu cầu hoãn phiên toà của bị đơn – chị Ngô Thị L, Hội đồng xét xử thấy rằng: Toà án đã nhiều lần hoãn phiên toà do người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn xin hoãn phiên toà, bị đơn xin hoãn phiên toà vì lý do sức khoẻ. Tại phiên toà, bị đơn tiếp tục xin hoãn phiên toà lần thứ ba để có thời gian thu thập tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Toà án. Đây không phải là căn cứ để hoãn phiên toà theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bị đơn.
  2. Xét nội dung kháng cáo của bị đơn:
    1. Theo nội dung trình bày của các đương sự và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã xuất trình tài liệu về giao dịch chuyển khoản và giấy xác nhận vay tiền, thể hiện bị đơn vay của nguyên đơn số tiền 2.000.000.000 đồng. Cụ thể: gồm 524.000.000 đồng tiền mặt, ba lần chuyển khoản mỗi lần 490.000.000 đồng và một lần 6.000.000 đồng. Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị đơn đã nhận đủ số tiền 2.000.000.000 đồng từ chị nguyên đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị H thay đổi yêu cầu, chỉ buộc chị L phải thanh toán 1.990.000.000 đồng, vì trước đó chị L đã trả cho chị 10.000.000 đồng. Bị đơn cũng thừa nhận có vay của chị H 2.000.000.000 đồng và đưa ra phương án trả tiền nợ cho chị H theo quý trong thời hạn 02 năm cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ. Như vậy, các đương sự thống nhất số tiền nợ nhưng không thống nhất về thời hạn trả nợ. Tại phiên toà phúc thẩm, chị L tiếp tục đề nghị hoãn phiên toà để cung cấp tài liệu, chứng minh đã nhiều lần trả tiền cho nguyên đơn và việc chị H cắt lãi trước như bị đơn nại ra. Tuy nhiên, đây không phải là đề nghị mới mà bị đơn đưa ra, bởi lẽ tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã tạm ngừng phiên tòa để bị đơn xuất trình chứng cứ chứng minh. Sau thời gian tạm ngừng, chị Lê C1 cung cấp được sao kê tài khoản thể hiện việc chị H đã nhiều lần chuyển tiền cho chị L. Tại phiên tòa phúc thẩm, một lần nữa chị Lê thừa N có vay của nguyên đơn số tiền 1.990.000.000 đồng và không cung cấp được tài liệu, chứng cứ đã nhiều lần trả tiền cho nguyên đơn.
    2. Từ những căn cứ và phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đầy đủ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nhận định bị đơn nợ chị Hà Thị H số tiền gốc là 1.990.000.000đ. Theo đó, Toà án cấp sơ thẩm giải quyết, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị H là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Kháng cáo của bị đơn – chị Ngô Thị L không có căn cứ để chấp nhận. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 26/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Thanh Hoá.
    3. Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn – chị Ngô Thị Lê P chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn – chị Ngô Thị L; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 16/2025/DS-ST ngày 26/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 4, Thanh Hoá;

Căn cứ Điều 463; Điều 466; Điều 357, Điều 468, Điều 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hà Thị H:
  2. Buộc bị đơn chị Ngô Thị Lê C trách nhiệm trả cho chị Hà Thị H số tiền gốc là 1.990.000.000đ (Một tỷ chín trăm chín mươi triệu đồng).

    Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị Ngô Thị Lê K1 thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng chị Lê C2 phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 cho đến khi thanh toán xong.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: chị Ngô Thị Lê P chịu 300.0000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm chị L đã nộp, theo biên lai thu số 0000711 ngày 10/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh T; (chị L đã nộp đủ án phí phúc thẩm).
  4. Các quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - TAND khu vực 4;
  • - THADS tỉnh Thanh Hoá;
  • - Đương sự; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA; Tòa DS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2025/DS-PT ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 123/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger