Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2025/DS-PT

Ngày: 03/03/2025

Về việc tranh chấp quyền sử

dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.

Các Thẩm phán: 1. Bà Đặng Mai Hoa;

2. Bà Trần Diệp Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân

thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên

tòa: Bà Đặng Thị Sơn Cầm - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 292/2021/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án sơ thẩm số 50/2021/DS-ST ngày 10/03/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 563/2024/QĐ-PT ngày 06/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 25/2024/QĐHT-PT ngày 18/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 50/2025/QĐHT-PT ngày 21/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 80/2025/QĐHT-PT ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trung L, sinh năm 1992; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: D3A 04 ô 28 Lô D3 KĐG 18,6 ha phường P, quận T, thành phố Hà Nội; người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Công D, sinh năm 1974; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B C, phường T, quận B, thành phố Hà Nội (theo Giấy ủy quyền ngày 26/11/2019 tại Văn phòng C).

Bị đơn:

  1. Ông Lại Văn V, sinh năm 1970;
  2. Ông Lại Văn N, sinh năm 1969;
  3. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1982;
    Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
  4. Ông Ngô Hồng P, sinh năm 1986;
  5. Bà Trần Thị Thanh H, sinh năm 1987;
    Cùng địa chỉ: Xóm Đ, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
  6. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1962;
    Địa chỉ: Số E dãy A T, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Công ty cổ phần Đ2 (sau đây gọi tắt là Công ty Đ2); địa chỉ: Tầng A, tòa B đường H, phường N, quận T, thành phố Hà Nội; Người đại diện là bà Nguyễn Thị T - Giám đốc.
  2. Ngân hàng N2, chi nhánh L5 (sau đây gọi tắt là A - Chi nhánh L5); địa chỉ: Số B, phố L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Lan H1 - Trưởng phòng khách hàng hộ sản xuất và cá nhân A - Chi nhánh L5.
  3. Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1970;
  4. Bà Đinh Thị H2, sinh năm 1973;
    Cùng địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.
  5. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1957; địa chỉ: Xóm Đ, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
  6. Ông Vương Xuân Q, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội
  7. Bà Lê Thị S1, sinh năm 1965 (vợ ông N);
  8. Anh Lại Văn T1, sinh năm 1990 (con ông N);
  9. Chị Trần Thị Huyền T2, sinh năm 1994 (vợ anh T1);
  10. Bà Phạm Thị T3, sinh năm 1968 (vợ ông V);
  11. Anh Lại Đức Đ1, sinh năm 1993 (con ông V);
  12. Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1996 (vợ anh Đ1);
  13. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1982 (vợ ông Lại Văn V1: Đã chết)
  14. Cháu Lại Trung K, sinh năm 2005 (con ông V1, bà L1);
  15. Cháu Lại Văn T5, sinh năm 2010 (con ông V1, bà L1);
    Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
    Đại diện theo pháp luật của cháu K, cháu T5 là bà Nguyễn Thị L1, địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
  16. Bà Lại Thị D2, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
  17. Bà Lại Thị H3, sinh năm 1973; địa chỉ: Xóm N, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
  18. Bà Lại Thị H4, sinh năm 1976; địa chỉ: Xóm Đ, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội.
  19. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1962.
  20. Anh Vũ Văn H5, sinh năm 1986 (con bà S);
  21. Anh Vũ Nam H6, sinh năm 1986 (con bà S);
    Cùng Hộ khẩu thường trú: Số E dãy 1 tập thể công an vũ trang, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội.
  22. Ông Vũ Đức S2, sinh năm: 1960 (chồng bà S); địa chỉ: Bộ, số D Đ, quận H, thành phố Hà Nội.
  23. Ông Đặng Ngọc H7, sinh năm 1969;
  24. Bà Bế Thị T6, sinh năm 1975;
    Cùng địa chỉ: P, C phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội
  25. Ông Bùi Xuân Đ1, sinh năm 1958;
  26. Bà Nguyễn Thị S3, sinh năm 1961;
    Cùng Hộ khẩu thường trú: Số A ngõ G Vĩnh Phúc, phường V, quận B, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 19/10/2018, ông Nguyễn Trung L có mua qua Công ty Đ2 03 tài sản đấu giá của A - Chi nhánh L5 trong đó có thửa đất số 24 (diện tích 630m²) và 25 (diện tích 570m²) tờ bản đồ số 34, là đất ở, đất ao và đất vườn liền kề với thời gian sử dụng lâu dài; có địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội (sau đây gọi tắt là thửa đất số 24, thửa 25, tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V) Sau khi mua và thanh toán tiền đầy đủ tiền, ông L đã được Văn phòng Đ3 - Chi nhánh huyện Đ sang tên chuyển quyền sử dụng đất theo hợp đồng số 1935/2018/MBTSĐG tại Văn phòng C1 ngày 19/10/2018 và văn bản sửa đổi bổ sung số 2218/2018/VB lập tại Văn phòng C1 ngày 28/11/2018.

Nguồn gốc thửa đất số 24 và 25 tờ bản đồ số 34 của hộ gia đình ông Vương Xuân Q được UBND huyện Đ, thành phố Hà Nội cấp GCNQSDĐ số S199211; số vào sổ cấp GCN số 1341.QSDĐ/VN ngày 30/11/2004 có diện tích 1.200m² (trong đó: thửa 24 là 630m², thửa 25 là 570m²) là đất ở, đất ao và đất vườn liền kề với thời gian sử dụng lâu dài. Ngày 14/03/2012, hộ gia đình ông Vương Xuân Q đã ký thế chấp cho ông Vương Xuân H8 vay vốn tại A - Chi nhánh L5 do Văn phòng C2 công chứng số: 32.2012/HĐTC, Quyển số: 01 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/03/2012 để đảm bảo cho khoản vay của Hợp đồng tín dụng số: 1400LAV2012.00260/HĐTD ngày 19/3/2012 giữa A - Chi nhánh L5 và bên vay là ông Vương Xuân H8, vợ là bà Vương Thị L3.

Khi đến hạn trả nợ, do ông Vương Xuân H8, bà Vương Thị L3 không trả được nợ. Ngày 23/7/2018, hộ gia đình ông Vương Xuân Q đã thống nhất và bàn giao tài sản là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 24, thửa 25, tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V cho A - Chi nhánh L5 để tiến hành thủ tục bán đấu giá tài sản trên để thu hồi nợ.

Ngày 26/9/2018, A - Chi nhánh L5 đã ký Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản trên với Công ty Đ2 và phụ lục Hợp đồng dịch vụ đấu giá số: 01/29/2018/HĐDVĐG ngày 26/9/2018 giữa A - Chi nhánh L5 với Công ty Đ2 để bán tài sản.

Ngày 19/10/2018, Công ty Đ2 đã cho đấu giá theo đúng trình tự quy định của pháp luật và ông Nguyễn Trung L là người trúng đấu giá theo Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số: 29-HĐMB-ĐG ngày 19/10/2018 tại Công ty Đ2 gồm có: Tổ chức bán đấu giá là Công ty Đ2; Người có tài sản là A - Chi nhánh L5; Người trúng đấu giá là ông Nguyễn Trung L. Được Văn phòng C1 chứng thực tại văn bản số công chứng; 1935/2018/MBTSĐG, quyển số: 10/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/10/2018.

Ngày 24/10/2018, A - Chi nhánh L5 đã bàn giao tài sản toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 24, thửa 25, tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V cho ông Nguyễn Trung L. Ngày 13/12/2018, ông Nguyễn Trung L đã hoàn tất thủ tục đăng ký sang tên tại cơ quan có thẩm quyền.

Trong quá trình sử dụng đất, ông L phát hiện gia đình nhà bà Bùi Thị P1 (ở sát thửa đất số 25 của ông L) là thửa 26 và 30 tờ bản đồ số 34, thôn Đ, xã V gồm ông Lại Văn V, ông Lại Văn N, bà Nguyễn Thị L1 và bà Nguyễn Thị S mua của bà P1 125m² đã xây tường; xây nhà lấn sang một phần đất nêu trên của ông L với diện tích 143m². Với tư cách là người có quyền sử dụng hợp pháp thửa đất số 24, thửa 25, tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V; ông L đã gặp gỡ trao đổi với các hộ dân sử dụng lấn sang nhưng không nhận được sự hợp tác.

Do đó, ông Nguyễn Trung L đã đề nghị UBND xã V, huyện Đ giải quyết. Vụ việc trên đã được UBND xã V hòa giải nhưng không thành nên ông L đã làm Đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đông Anh buộc các hộ ông Lại Văn V, ông Lại Văn N, bà Nguyễn Thị L1 và bà Nguyễn Thị S phải tháo dỡ, di dời toàn bộ vật kiến trúc, công trình xây dựng trên phần đất lấn sang là 143,3m², trả lại cho ông L.

Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Trung L xin rút yêu cầu khởi kiện đối với bà Nguyễn Thị S và rút một phần diện tích đất lấn sang (từ 143,3m² còn lại 110,02m²); bổ sung yêu cầu đối với vợ chồng ông Ngô Hồng P và bà Trần Thị Thanh H vì mua lại diện tích đất lấn sang đất nhà ông L. Nay ông L yêu cầu vợ chồng ông Ngô Hồng P và bà Trần Thị Thanh H tháo dỡ, di dời toàn bộ vật kiến trúc, công trình xây dựng trái phép trả lại 21,2m²; yêu cầu bà Nguyễn Thị L1 tháo dỡ, di dời toàn bộ vật kiến trúc, công trình xây dựng trái phép trả lại 4,5 m²; yêu cầu ông Lại Văn N tháo dỡ, di dời toàn bộ vật kiến trúc, công trình xây dựng trên đất trả lại 58,82m²; yêu cầu ông Lại Văn V tháo dỡ tường rào trả lại 25,5m² (theo hồ sơ kỹ thuật đo vẽ của Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và đo đạc bản đồ Chiến Thắng ngày 17/7/2020).

Trong quá trình giải quyết vụ án, đồng bị đơn - ông Lại Văn V trình bày:

Bố ông là Lại Văn N1, sinh năm 1940, đã chết năm 1989; mẹ ông là Bùi Thị P1, sinh năm 1938, đã chết ngày 21/7/2006. Bố mẹ ông sinh được 06 người con là: Lại Thị D2, sinh năm 1962; Lại Văn N, sinh năm 1969; ông Lại Văn V, sinh năm 1970; Lại Thị H3, sinh năm 1973; Lại Thị H4, sinh năm 1976; Lại Văn V1, sinh năm 1978.

Khi mẹ ông là bà Bùi Thị P1 còn sống đã chia cho vợ chồng ông một mảnh đất để sử dụng là thửa 25, tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V nhưng sau đó mẹ ông đã bán cho ông Trần Văn M ở xóm Đ, V, Đ, Hà Nội. Khi bán ông không biết, ông chỉ biết là khi bán chỉ tính thửa không tính diện tích đất là bao nhiêu ông cũng không biết. Còn thửa đất 26 gia đình có bán 126,5m² cho bà S, sau này bà S bán cho ai ông không biết.

Gia đình ông đề nghị Tòa án xem xét phần diện tích đã bán nhưng không ký giấy tờ gì tại sao lại vẫn làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được. Ngoài ra, ông không còn ý kiến gì khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án, đồng bị đơn - ông Lại Văn N trình bày:

Việc mua bán đất thế nào với các thửa đất số 25, 26, 30 tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V ông không biết. Ông chỉ biết thửa đất số 30 và một phần thửa đất số 26. Hiện nay ông, vợ ông và các con ông đang sinh sống trên đất, còn tài sản là của ông. Nay ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, đồng bị đơn - bà Nguyễn Thị L1 trình bày:

Diện tích và vị trí đất bà không biết, bà về làm dâu bà chỉ muốn giữ nguyên cái nhà bà đang ở do mẹ chồng bà xây cho vợ chồng bà.

Trong quá trình giải quyết vụ án, đồng bị đơn - bà Trần Thị Thanh H trình bày:

Năm 2019, vợ chồng bà có mua thửa đất số 26a2, diện tích 62,4m², tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V có mặt đường 3,8m, chiều dài mỗi cạnh là 16m, cạnh đáy 4m đã được cấp GCNQSDĐ ngày 25/2/2019. Ngoài ra, vợ chồng bà còn mua thêm khoảng 20m² đất phía sau thửa đất 26 tiếp giáp thửa đất 25, khi mua chỉ có giấy tờ viết tay không có sổ sách gì. Đến nay, cũng chưa được cấp GCNQSDĐ cho phần diện tích mua thêm.

Nay nguyên đơn yêu cầu trả lại phần đất mua thêm không có giấy tờ, bà không đồng ý.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - bà Lại Thị D2 trình bày:

Thửa đất số 26, 30 tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V là của bố mẹ bà. Khoảng năm 2003, được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 26 (toàn bộ thủ tục xin cấp giấy chứng nhận gia đình bà không tham gia). Sau khi nhận được cấp GCNQSDĐ thửa đất số 26, có diện tích 353m² gia đình bà chưa yêu cầu cơ quan có thẩm quyền nào chỉnh sửa được cấp GCNQSDĐ. Khoàng năm 2012, 2013, bà vay vốn Ngân hàng N2- Chi nhánh V2 (đứng tên ông Bùi Văn L4) nên thế chấp nhà đất này.

Nay phía nguyên đơn là ông L yêu cầu gia đình bà trả lại diện tích đất lấn sang, bà không đồng ý vì lúc mẹ bà bán đất mà hiện giờ ông L đang quản lý chỉ bằng tay, không theo bằng thước, không bán theo m².

Nay bà đề nghị cấp lại được cấp GCNQSDĐ của các hộ theo hiện trạng tại thời điểm hiện nay, còn không chấp nhận theo hình thể ngày xưa đã cấp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện của A - Chi nhánh L5 trình bày:

Ngày 19/3/2012, ông Vương Xuân H8 có vay của A - Chi nhánh L5. Để đảm bảo cho khoản vay, chủ tài sản là ông Vương Xuân Q, vợ là Hoàng Thị Phương H9 có ký thế chấp thửa đất số 24,25 tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V có diện tích 1.200m². Đến hạn trả nợ ông H8 gặp khó khăn không trả được nợ và phát sinh nợ quá hạn. Ngày 23/7/2018, bên vay vốn là ông Vương Xuân H8 và chủ tài sản là ông Vương Xuân Q, vợ là Hoàng Thị Phương H9 đã tiến hành bàn giao tài sản bảo đảm cho A - Chi nhánh L5 để bán đấu giá thu hồi nợ. Từ đó A - Chi nhánh L5 đã ký hợp đồng với Công ty Đ2 để tiến hành thẩm định lại giá trị tài sản và thực hiện đấu giá tài sản theo đúng quy định Nhà nước. Kết quả phiên đấu giá nguyên đơn - ông Nguyễn Trung L là người trúng đấu giá. Bên bán đấu giá, người có tài sản và người trúng đấu giá đã ký kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số: 29/HĐMB-ĐG ngày 19/10/2018. Bên trúng đấu giá đã nộp đủ số tiền theo Hợp đồng đấu giá và bên A - Chi nhánh L5 đã tiến hành bàn giao toàn bộ giấy tờ và hiện trạng tài sản đấu giá theo biên bản bàn giao tài sản ngày 24/10/2018.

Khi ông L trúng đấu giá và đã nộp đủ tiền thì Ngân hàng tiến hành bàn giao GCNQSDĐ số S199211 thửa đất số 24 và 25 tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V và bàn giao hiện trạng mảnh đất trên cho ông L theo đúng thực tế chứng thư thẩm định giá. Đến nay, ông L cho rằng mảnh đất trên thiếu so với GCNQSDĐ thì việc này Ngân hàng không biết có việc các hộ dân xung quanh mảnh đất đã lấn chiếm sang. Trước khi mua đấu giá, ông L đã tiến hành xem thực tế tài sản, nay ông L mới phát hiện ra có sự lấn chiếm thì ông L phải chịu trách nhiệm (theo điều 5 Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá). Ngoài ra, đại diện Ngân hàng không có ý kiến gì khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện của Công ty Đ2 trình bày tại có Công văn số 164/CV-TP ngày 14/5/2020 có nội dung như sau:

Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật về tranh chấp quyền sử dụng đất đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên; đại diện Công ty Đ2 đề nghị được vắng mặt trong tất cả các phiên xét xử của Tòa án các cấp.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Vương Xuân Q trình bày:

Năm 2004, ông có mua thửa đất số 24,25 tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V đã được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số 1341 QSDĐ/VN ngày 30/11/2004, số bìa S 199211, diện tích 1200m². Đến năm 2012, ông có vay của A - Chi nhánh L5 để kinh doanh; tuy nhiên, do thua lỗ không trả được nên ông đã thỏa thuận đồng ý để Ngân hàng bán tài sản ông thế chấp là thửa đất trên. Việc bán tài sản ông hoàn toàn đồng ý, ông không còn liên quan gì đến tài sản trên. Ngoài ra, ông không còn ý kiến gì khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn L2 trình bày:

Năm 2014, vợ chồng ông có mua thửa đất số 26(a1), tờ bản đồ số 34, diện tích 62,4m², thôn Đ, xã V. Ngoài ra, ông không mua gì thêm, nay Tòa án thông báo đất của ông có tranh chấp ông không biết gì ngoài diện tích đất 62,4m² của ông.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đinh Thị H2 trình bày:

Năm 2014, vợ chồng bà có mua thửa đất số 26(a1), tờ bản đồ số 34, diện tích 62,4m² tại thôn Đ, V, Đ, Hà Nội. Khi mua có người bảo có mua thêm phần đất phía sau giáp danh (giữa thửa 26 của bà và thửa 25) không nhưng không có giấy tờ gì, nên vợ chồng bà không mua. Ngày 15/10/2014, UBND huyện Đ đã cấp GCNQSDĐ cho vợ chồng bà với diện tích 62,4m². Nay bà đề nghị Tòa án chấp nhận diện tích và hình thể thửa đất được ghi trong GCNQSDĐ của vợ chồng bà. Ngoài ra, bà không còn yêu cầu gì khác.

Tại Bản án sơ thẩm số 50/2021/DS-ST ngày 10/03/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung L đòi quyền sử dụng đất theo ranh giới đối với ông Lại Văn N, ông Lại Văn V, bà Nguyễn Thị L1 và gia đình ông Ngô Hồng P, bà Trần Thị Thanh H.
  2. Đình chỉ đối với yêu cầu đòi quyền sử dụng đất theo ranh giới đối với bà Nguyễn Thị S.
  3. Buộc Gia đình nhà ông Ngô Hồng P và bà Trần Thị Thanh H tháo dỡ di dời công trình nhà tạm, để trả lại cho ông Nguyễn Trung L 21,2m² đất tại thửa 25, tờ bản đồ số 34 thôn Đ, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, được giới hạn bởi các điểm D', C, F, E, D' (có sơ đồ cụ thể do Công ty trách nhiệm hữu hạn T9 bản đồ Chiến Thắng lập đính kèm).
    Phần đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa 26 là 8,02m; Phía Tây giáp thửa 25 là 8,08m; Phía Nam giáp diện tích đất đã xây nhà của ông N trên thửa 25 là 2,76m; Phía Bắc giáp diện tích đất đã xây nhà của bà L1 và diện tích đất ông V quản lý trên thửa 25 là 2,73m.
  4. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Trung L hỗ trợ cho gia đình nhà ông Ngô Hồng P và Trần Thị Thanh H với số tiền là 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
  5. Buộc ông Lại Văn N tháo dỡ di dời công trình nhà tạm, để trả lại cho ông Nguyễn Trung L 37,4m² đất tại thửa 25, tờ bản đồ số 34, thôn Đ, xã V; được giới hạn bởi các điểm 19, 18, G, 9, 22, 21, 20, 19 (có sơ đồ kèm theo).
    Phần đất có tứ cận: Phía Bắc giáp diện tích đất đã xây nhà của ông N trên thửa 25 là 1,82m; Phía Nam giáp thửa 31 là 2,95m; Phía Tây giáp thửa 25 là 11,22m; Phía Đông giáp thửa 30 và thửa 30a là 14,06m.
  6. Buộc ông Lại Văn V tháo dỡ tường rào để trả lại cho ông Nguyễn Trung L 25,5m² đất tại thửa 25, tờ bản đồ số 34 thôn Đ, xã V; được giới hạn bởi các điểm 16, 15, B, A, D, D' ,16 (có sơ đồ kèm theo).
    Phần đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đường là 2,03m; Phía Nam giáp diện tích đất đã xây nhà tạm của ông P bà H trên thửa 25 là 1,58m và giáp diện tích đất đã xây nhà của bà L1 trên thửa 25 là 1,05m; Phía Tây giáp thửa 25 là 13,27m; Phía Đông giáp thửa 26 là 9,05m và giáp diện tích đất đã xây nhà của bà L1 trên thửa 25 là 4,05m.
  7. Buộc ông Lại Văn N có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Trung L 33.929.000 (ba mươi ba triệu chín trăm hai mươi chín nghìn) đồng.
  8. Buộc bà Nguyễn Thị L1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Trung L 7.128.000 (bảy triệu một trăm hai mươi tám nghì) đồng.
  9. Ông Lại Văn N được quyền sở hữu 21,42m² đất của thửa 25, tờ bản đồ số 34 thôn Đ, xã V được giới hạn bởi các điểm E,F,11,G,18,17,E (có sơ đồ kèm theo).
    Phần đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa 26 là 2,08m và giáp thửa 30 là 6,86m; Phía Tây giáp thửa 25 là 8,96m; Phía Nam giáp diện tích đất đã xây nhà tạm của ông N trên thửa 25 là 1,82 m; Phía Bắc giáp diện tích đất đã xây nhà tạm ông P bà H trên thửa 25 là 2,76m.
  10. Bà Nguyễn Thị L1 được quyền sở hữu 4,5m² đất của thửa 25, tờ bản đồ số 34 thôn Đ, xã V được giới hạn bởi các điểm A,B,C,D,A (có sơ đồ kèm theo).
    Phần đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa 26 dài 4,05m; Phía Tây giáp diện tích đất mà ông V đang quản lý của thửa 25 là 4,05m; Phía Nam giáp diện tích đất đã xây nhà tạm của ông P bà H trên thửa 25 là 1,15m; Phía Bắc giáp diện tích đất mà ông V đang quản lý của thửa 25 là 1,05m.

Các bên đương sự có nghĩa vụ đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.

Sau phiên tòa sơ thẩm,

Ông Lại Văn V, bà Lại Thị H4, ông Lại Văn N; bà Lê Thị S1 (vợ ông Lại Văn N); bà Lại Thị H3; anh Lại Trung K; bà Nguyễn Thị L1; cháu Lại Văn T5 (con trai bà L1 - sinh năm 2010), Lê Thị S1. Trong đó: Bà Lê Thị S1 và chị Trần Thị Huyền T2 (vợ và con dâu ông Lại Văn N).

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Người kháng cáo - ông Lại Văn V trình bày: Sau khi bố ông là cụ Lại Văn N1 chết. Năm 1994, ông bán một phần đất cho ông Trần Văn M, không có giấy tờ, chỉ bán một mảnh đất và không rõ diện tích, không có sự đồng ý của 05 người anh chị em ruột cùng hàng thừa kế với ông. Ông M làm hàng rào sắt và xây tường thấp, sau đó, ông M bán lại cho ông Q. Năm 2003, mẹ ông là cụ P1 được cấp GCNQSD đối với thửa đất 26, tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V. Khoảng năm 2015, ông mới biết ông Q đã được cấp GCNQSDĐ nhưng ông không rõ diện tích bảo nhiêu mét vuông. Ông có yêu cầu ông Q đối chiếu đất nhưng ông xác định cho đến nay ông và các anh chị em ông không có đơn khởi kiện yêu cầu huỷ GCNQSDĐ. Quá trình từ khi TAND huyện Đông Anh giải quyết vụ án, ông và những người anh chị em của ông không có đơn phản tố yêu cầu huỷ GCNQSDĐ của ông Q, huỷ hợp đồng chuyển nhượng đất mà ông L là người mua cũng như yêu cầu huỷ GCNQSDĐ của ông L. Quá trình giải quyết vụ án, ông có ký văn bản tố tụng nhưng đều không có nội dung, 05 anh chị em ông cũng như vậy và không nhận được bản án sơ thẩm. Ông xác nhận là bản án sơ thẩm đã được thi hành án xong, trong đó ông có nhận tiền hỗ trợ từ nguyên đơn với số tiền là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.

Các đương sự khác có mặt tại phiên toà gồm ông Lại Văn N, bà Nguyễn Thị L1, bà Lại Thị H3, bà Lại Thị H4, bà Lại Thị D2 đồng ý với phần trình bày của ông Lại Văn V. Những người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm.

Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Ông Nguyễn Trung L mua đất qua đấu giá hoàn toàn hợp pháp và minh bạch. Về quá trình cấp GCNQSDĐ lần đầu thì nguyên đơn không rõ. Ông căn cứ vào các giấy tờ có giá trị pháp lý và sơ đồ, bản đồ đã được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn để yêu cầu các bị đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác trả lại các phần đất mà những người này đã chiếm giữ không có căn cứ pháp lý. Bản án sơ thẩm đã được thi hành án xong, trong đó ông Lại Văn V tự nguyện bàn giao mặt bằng và nhận hỗ trợ; ông N đã bị cưỡng chế xong.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người kháng cáo đề nghị huỷ bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý vụ án đến phiên toà xét xử vụ án.

Về nội dung: Căn cứ khoản 2, Điều 308 BLTTDS năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Lê Thị S1, chị Trần Thị Huyền T2; không chấp nhận kháng cáo của các đương sự khác; sửa bản án sơ thẩm của TAND huyện Đông Anh theo hướng xác định lại họ tên đương sự Lại Thị P2 là Lê Thị S1; Nguyễn Thị Kiều T7 là Trần Thị Huyền T2.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thủ tục kháng cáo:

Tại Quyết định chấp nhận việc kháng cáo quá hạn số 05/2024/QDDS-PT ngày 05/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội có nội dung: Chấp nhận thủ tục nộp đơn kháng cáo của ông Lại Văn V, ông Lại Văn N, bà Nguyễn Thị L1, bà Lại Thị H3, anh Lại Trung K, cháu Lại Văn T5; các đương sự đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm; bà Lại Thị H4 và cháu Lại Văn T5 thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí. Do đó, kháng cáo đảm bảo về chủ thể, hình thức, nội dung và trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm:

Các đương sự đều đã được tống đạt hợp lệ đến tham gia phiên tòa. Tại phiên toà, có mặt ông Nguyễn Công D, ông Lại Văn V, ông Lại Văn N, bà Nguyễn Thị L1, bà Lại Thị H3, bà Lại Thị H4, bà Lại Thị D2. Vắng mặt những người kháng cáo là bà Lê Thị S1, chị Trần Thị Huyền T2, anh Lại Trung K, cháu Lại Văn T5; trong đó, Lê Thị S1, chị Trần Thị Huyền T2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; cháu Lại Văn T5 do bà Nguyễn Thị L1 là người đại diện theo uỷ quyền; anh Lại Trung K vắng mặt không có lý do. Việc người kháng cáo - anh Lại Trung K vắng mặt không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên thuộc trường hợp từ bỏ kháng cáo theo quy định khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét kháng cáo của các đương sự:

[2.1] Xét kháng cáo của các đương sự về nội dung vụ án:

Quá trình giải quyết ở cấp phúc thẩm, những người kháng cáo trình bày: Cụ Lại Văn N1, Bùi Thị P1 cho một phần thửa đất 1.308m²; có bán một phần cho ông Trần Văn M không được sự đồng ý của các thừa kế khác; sau đó, ông M bán cho ông Vương Xuân Q, ông Q được cấp GCNQSDĐ thửa đất số 25, diện tích 570m², tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V (bao trùm lên diện tích đất của người khác như vậy), Toà sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đúng.

Quá trình giải quyết ở cấp phúc thẩm nguyên đơn - ông Nguyễn Trung L yêu cầu Tòa án buộc gia đình bà Bùi Thị P1 (gồm: ông Lại Văn V, ông Lại Văn N, bà Nguyễn Thị L1) và gia đình bà Trần Thị Thanh H ông Ngô Hồng P phải tháo dỡ, di dời toàn bộ vật kiến trúc, công trình xây dựng trái phép trả lại cho ông Nguyễn Trung L diện tích 110,02m² đất đã lấn chiếm tại thửa 25, tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V theo hình thể hồ sơ kỹ thuật đo vẽ của Công ty TNHH T9 bản đồ Chiến Thắng ngày 17/7/2020.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Thửa đất số 24 (diện tích 630m²), thửa đất số 25 (diện tích 570m²) tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V được UBND huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu ngày 30/11/2004 cho hộ gia đình ông Vương Xuân Q.

Năm 2012, ông Q đã thế chấp các thửa đất nêu trên cho A1 để đảm bảo khoản vay của ông Vương Xuân H8, do ông H8 không trả được nợ nên ông Q đã bàn giao tài sản thế chấp cho A1.

Ngày 19/10/2018, Công ty Đ2 đã tổ chức đấu giá tài sản do A - Chi nhánh L5 đã ký Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất của thửa đất số 24, diện tích là 630m², tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V và thửa đất số 25, diện tích là 570m² tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V. Ông Nguyễn Trung L là người trúng đấu giá theo Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số: 29-HĐMB-ĐG ngày 19/10/2018 được Văn phòng C1 chứng thực tại văn bản số công chứng; 1935/2018/MBTSĐG, quyển số: 10/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/10/2018. Ngày 13/12/2018, Văn phòng Đ3- Chi nhánh huyện Đ công nhận thửa đất số 24, diện tích là 630m², tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V và thửa đất số 25, diện tích là 570m², tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V là của ông nguyên đơn - ông Nguyễn Trung L. Như vậy, ông Nguyễn Trung L là người có quyền sử dụng đất theo khoản 16 Điều 3 Luật đất đai năm 2013.

Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Văn phòng Đ3 chi nhánh huyện Đ cung cấp cho Tòa án nội dung như sau: Thửa đất số 25, tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V có cạnh phía Đông tiếp giáp với thửa đất số 26 là của hộ gia đình bà Bùi Thị P1 (đã được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ lần đầu ngày 23/9/2003 với diện tích 353m²) và thửa số 30 cũng của gia đình bà Bùi Thị P1 (có diện tích 385m², nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận). Tại thửa đất số 26, gia đình bà P1 đã chuyển nhượng một phần diện tích đất là 125m² cho bà S từ năm 2003; thực tế hiện nay diện tích đất này đã bán cho hai người: 1. Gia đình ông Nguyễn Văn L2, bà Đinh Thị H2 nhận chuyển nhượng thửa 26a1, có diện tích 62,4m² (đã được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ ngày 15/10/2014); 2/ Gia đình anh Ngô Hồng P chị Trần Thị Thanh H thửa 26a2, có diện tích 62,4m² (đã được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp GCNQSDĐ ngày 25/02/2019). Ngoài ra, bà H xác định còn mua thêm diện tích đất phía sau tiếp giáp thửa 25 nhưng không xuất trình giấy tờ và chưa được cấp giấy chứng nhận.

Đối chiếu bản đồ của xã V quản lý và của Văn phòng Đ3 - Chi nhánh huyện Đ cung cấp thì thửa 25, tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V có một mặt tiếp giáp với thửa 30 và 26. Theo kết quả xác minh và hồ sơ do Văn phòng đăng ký đất đai cung cấp mới nhất mà các bên thực hiện đều thừa nhận tại hồ sơ kỹ thuật thửa đất 26a1, 26a2, tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V thì thửa đất có kích thước là 16m, 3,8m, 4m, 16m đã được thể hiện trên GCNQSDĐ của hộ nhà ông P, bà H và ông L2 bà H2. Nhưng trên thực tế, gia đình bà H lại sử dụng thêm phần đất phía sau có diện tích khoảng 21m² tiếp giáp với thửa 25 của ông L và nằm ngoài diện tích thửa đất số 26 được cấp GCNQSDĐ.

Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và sơ đồ kỹ thuật thửa đất do Công ty trách nhiệm hữu hạn T9 xác định được:

Diện tích hiện trạng thửa đất số 25, tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V là 437,4m² (được giới hạn bởi các điểm 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 30, 31, 16) thiếu so với GCNQSDĐ là 132,6m².

Trong khi, thửa đất số 26, tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V có diện tích được cấp GCNQSDĐ là 353m²; đã chuyển nhượng 126,5m², chỉ còn lại 226,5m², nhưng diện tích thực tế đang sử dụng là 410,22m² (được giới hạn bởi các điểm 16, 15, 1, 2, 3, 4, 5, 11, 17, E, D', 16), thừa so với GCNQSDĐ là 57,22m² (được giới hạn bởi các điểm 16, 15, 14, 13, 12, 11, 17, 16).

Theo Hồ sơ và bản đồ do phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ và xã quản lý thì thửa số 30, có diện tích là 385m²; nhưng diện tích sử dụng hiện tại là 437,8m² (được giới hạn bởi các điểm 5, 6, 7, 8, 9, 22, 21, 20, 19, 18, 17, 5); thừa 52,8m² (được giới hạn bởi các điểm 17, 11, 10, 9, 22, 21, 20, 19, 18, 17).

Đối chiếu kết quả đo vẽ thực tế và hồ sơ UBND xã V, Văn phòng đăng ký đất đai hiện đang quản lý thì diện tích thực tế thửa 26 và thửa 30, tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V đang sử dụng thừa so với thực tế là 110,02m²; từ đó xác định được chồng lấn giữa thửa 26, 30 với thửa 25, tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V như sau:

  1. Thửa đất số 26 sử dụng lấn sang phần đất số 25 là 57,22m² trong đó: 4,5m² do bà L1 đang quản lý và sử dụng được giới hạn bởi các điểm A, B, C, D, A (đã xây nhà kiên cố); 6,02m² do ông N đang quản lý sử dụng được giới hạn bởi các điểm E, F, 11, 17, E (đã xây nhà kiên cố); gia đình bà H đang quản lý sử dụng 21,2m² (có nhà tạm mái tôn) được giới hạn bởi các điểm D', C, F, E, D, D', phần còn lại 25,5m² không có công trình trên đất do ông V đang quản lý sử dụng được giới hạn bởi các điểm 16, 15, B, A, D, D', 16.
  2. Thửa đất số 30 sử dụng lấn sang thửa đất số 25 là 52,8m². Diện tích này do ông N đang quản lý sử dụng được giới hạn bởi các điểm 17, 11, 10, 9, 22, 21, 20, 19, 18, 17 trong đó có 15,4m² (đã xây nhà kiên cố) được giới hạn bởi các điểm 17, 11, G, 18, 17 còn 37,4m² (có nhà tạm) được giới hạn bởi các điểm 19, 18, G, H, I, 9, 22, 21, 20, 19.

Đối với phần diện tích của bà S nhận chuyển nhượng của gia đình bà P1 đã chuyển nhượng qua lại nhiều lần. Hiện nay có 02 gia đình sử dụng gồm:

  1. Gia đình ông Nguyễn Văn L2, bà Đinh Thị H2 quản lý sử dụng thửa 26a1, có diện tích 62,4m² (được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ ngày 15/10/2014) có các cạnh là 16m, 3,8m, 4m, 16m.
  2. Gia đình nhà ông Ngô Hồng P, bà Trần Thị Thanh H quản lý sử dụng thửa 26a2, có diện tích 62,4m² được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp GCNQSDĐ ngày 25/02/2019 có các cạnh là 16m, 3,8m, 4m, 16m. Bà H khai mua thêm diện tích đất phía sau tiếp giáp thửa 25 nhưng không xuất trình giấy tờ chuyển nhượng cũng như không chứng minh được việc mua bán (nếu có) là hợp pháp.

Bản án sơ thẩm xác định thửa số 26 sử dụng lấn sang diện tích thuộc thửa 25 là 57,2m² (được giới hạn bởi các điểm 16, 15, 14, 13, 12, 11, 17, E, D', 16) và thửa số 30 sử dụng lấn sang diện tích thuộc thửa 25 là 52,8m² (được giới hạn bởi các điểm 17, 11, G, H, I, 9, 22, 21, 20, 19, 18, 17) là có căn cứ.

Những người kháng cáo cho rằng ông Lại Văn V bán một phần không rõ diện tích đất cho ông Trần Văn M không được sự đồng ý của các thừa kế khác; ông M bán cho ông Vương Xuân Q và không đồng ý với việc thửa đất số 25 có diện tích 570m². Tuy nhiên, ngay tại phiên toà phúc thẩm, những người kháng cáo đều xác nhận sau khi nhận chuyển nhượng từ ông V thì ông M đã làm hàng rào sắt và xây tường thấp; sau đó, ông M bán lại cho ông Q nhưng những người kháng cáo ở liền kề biết và không phản đối. Ngoài ra, GCNQSDĐ ông Q đã được cấp từ ngày 30/11/2004 đến nay đã 21 năm mà không có khiếu nại về diện tích được cấp GCNQSDĐ. Những người kháng cáo không có căn cứ chứng minh việc kháng cáo về diện tích đất của thửa đất số 25, tờ bản đồ 34, thôn Đ, xã V là có căn cứ.

[2.2] Xét kháng cáo của những người kháng cáo về việc không được tống đạt các văn bản tố tụng; sai tên của bà Lê Thị S1, chị Trần Thị Huyền T2:

Đối với việc không được tống đạt các văn bản tố tụng:

Ông Lại Văn N, Lại Văn V, bà Nguyễn Thị L1, Lại Thị H3, Lại Thị D2 đã ký nhận Thông báo thụ lý của Tòa án; trong đó, ông N đã ký nhận thay cho bà Lê Thị P3, anh T1, chị Nguyễn Thị Kiều T7 (vợ, con ông N) và cam đoan giao lại tận tay cùng ngày (bút lục 79, 80, 81, 99, 100, 106). Ngoài ra, các đương sự trên còn ký nhận Biên bản giao nhận Quyết định xem xét thẩm định, Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải; ngày 27/11/2020; bà H3, bà D2, ông V, ông N cũng đã ký nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án (ông N còn ký nhận thay bà P3, anh T1 và chị T7). Tại phiên hòa giải và công khai chứng cứ ngày 07/10/2020 có mặt ông Lại Văn V, Lại Văn N, bà Nguyễn Thị L1, bà Lại Thị H3, Lại Thị D2 tham gia và ký tên vào biên bản; ngày 09/11/2020, có mặt ông Lại Văn V, bà Nguyễn Thị L1, bà Lại Thị D2. Như vậy, các đương sự cho rằng Tòa án sơ thẩm không tống đạt các văn bản tố tụng, ký vào giấy trắng không có nội dungrrr là không có căn cứ.

Đối với việc sai tên của bà Lê Thị S1 và chị Trần Thị Huyền T2:

Hội đồng xét xử nhận thấy, tại các biên bản giao nhận, tống đạt và niêm yết của Tòa án sơ thẩm đều ghi tên vợ ông Lại Văn N là Lê Thị P3, chị Trần Thị Huyền T2 là Nguyễn Thị Kiều T7, ông N ký nhận văn bản và không có ý kiến đính chính thông tin họ tên của vợ và con dâu. Ngoài ra, tại Bản tự khai ngày 20/7/2000 (bút lục 120), ông N trình bày có nội dung: “ vợ tôi là Lê Thị P3, sinh năm 1965“. Tại biên bản xác minh ngày 26/10/2020, trưởng thôn Đ, xã V cung cấp cho Tòa án nội dung: Gia đình ông N gồm: ông N, bà Lê Thị P3, anh Lại Văn T1, chị Nguyễn Thị Kiều T7 (vợ anh T1).

Như vậy, cấp sơ thẩm ghi sai tên của bà S1 trong các văn bản tố tụng là do cung cấp của chính ông N và cán bộ thôn và không có ý kiến phản đối hay đính chính của chính ông N và các đương sự trong vụ án. Như vậy, việc tống đạt các văn bản tố tụng của cấp sơ thẩm nhầm tên là có vi phạm cần rút kinh nghiệm.

Tại cấp phúc thẩm, những người kháng cáo xuất trình căn cước công dân của chị T7 là Trần Thị Huyền T2 và bà S1 là Lê Thị S1 nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của chị các đương sự về sai tên của chị Trần Thị Huyền T2 và bà Lê Thị S1.

Việc nhầm tên nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, các văn bản tố tụng đều ghi chú là vợ và con dâu của ông N; toàn bộ các đương sự là người trong cùng gia đình đều biết rõ quá trình giải quyết vụ án nên việc nhầm tên không làm thay đổi hay mất quyền của bà S1 và chị T2. Do vậy, việc nhầm tên không phải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, không thuộc trường hợp huỷ bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; không chấp nhận yêu cầu của những người kháng cáo về việc nhầm tên và huỷ bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí:

Do bản án sơ thẩm bị sửa nên những người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 164, Điều 165, Điều 169, Điều 170 Bộ luật dân sự 2015;
  • - Điều 166; khoản 2 Điều 202; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
  • - Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009;
  • - Khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 68; Điều 92; Điều 93; Điều 148; Điều 271; Điều 272; Điều 273; khoản 2 Điều 296; khoản 2 Điều 308; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của anh Lại Trung K; không chấp nhận kháng cáo của ông Lại Văn V, bà Lại Thị H4, ông Lại Văn N, bà Lê Thị S1, bà Lại Thị H3, bà Nguyễn Thị L1, cháu Lại Văn T5, bà Lê Thị S1; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 32/2023/DS-ST ngày 31/03/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội; sửa tên của đương sự cụ thể như sau:

  1. Đình chỉ đối với yêu cầu đòi quyền sử dụng đất theo ranh giới đối với bà Nguyễn Thị S.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trung L đòi quyền sử dụng đất theo ranh giới đối với ông Lại Văn N, ông Lại Văn V, bà Nguyễn Thị L1 và gia đình ông Ngô Hồng P, bà Trần Thị Thanh H.
    1. Buộc Gia đình nhà ông Ngô Hồng P và bà Trần Thị Thanh H tháo dỡ di dời công trình nhà tạm, để trả lại cho ông Nguyễn Trung L 21,2m² đất tại thửa 25, tờ bản đồ số 34 thôn Đ, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, được giới hạn bởi các điểm D', C, F, E, D' (có sơ đồ cụ thể do Công ty trách nhiệm hữu hạn T9 bản đồ Chiến Thắng lập đính kèm).
      Phần đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa 26 là 8,02m; Phía Tây giáp thửa 25 là 8,08m; Phía Nam giáp diện tích đất đã xây nhà của ông N trên thửa 25 là 2,76m; Phía Bắc giáp diện tích đất đã xây nhà của bà L1 và diện tích đất ông V quản lý trên thửa 25 là 2,73m.
      Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Trung L hỗ trợ cho gia đình nhà ông Ngô Hồng P và Trần Thị Thanh H với số tiền là 30.000.000 (ba mươi triệu đồng).
    2. Buộc ông Lại Văn N tháo dỡ di dời công trình nhà tạm, để trả lại cho ông Nguyễn Trung L 37,4m² đất tại thửa 25, tờ bản đồ số 34, thôn Đ, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, được giới hạn bởi các điểm 19, 18, G, 9, 22, 21, 20, 19 (có sơ đồ cụ thể do Công ty trách nhiệm hữu hạn T9 bản đồ Chiến Thắng lập đính kèm).
      Phần đất có tứ cận: Phía Bắc giáp diện tích đất đã xây nhà của ông N trên thửa 25 là 1,82m; Phía Nam giáp thửa 31 là 2,95m; Phía Tây giáp thửa 25 là 11,22m; Phía Đông giáp thửa 30 và thửa 30a là 14,06m.
    3. Buộc ông Lại Văn V tháo dỡ tường rào để trả lại cho ông Nguyễn Trung L 25,5m² đất tại thửa 25, tờ bản đồ số 34, thôn Đ, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, được giới hạn bởi các điểm 16, 15, B, A, D, D' ,16 (có sơ đồ cụ thể do Công ty trách nhiệm hữu hạn T9 bản đồ Chiến Thắng lập đính kèm).
      Phần đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đường là 2,03m; Phía Nam giáp diện tích đất đã xây nhà tạm của ông P bà H trên thửa 25 là 1,58m và giáp diện tích đất đã xây nhà của bà L1 trên thửa 25 là 1,05m; Phía Tây giáp thửa 25 là 13,27m; Phía Đông giáp thửa 26 là 9,05m và giáp diện tích đất đã xây nhà của bà L1 trên thửa 25 là 4,05m.
    4. Các nghĩa vụ thanh toán như sau:
      • Buộc ông Lại Văn N có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Trung L 33.929.000 (ba mươi ba triệu chín trăm hai mươi chín nghìn đồng).
      • Buộc bà Nguyễn Thị L1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Trung L 7.128.000 (bảy triệu một trăm hai mươi tám nghìn) đồng.
    5. Về quyền và nghĩa vụ khác của các đương sự:
      • Ông Lại Văn N được quyền sở hữu 21,42m² đất của thửa 25, tờ bản đồ số 34, thôn Đ, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, được giới hạn bởi các điểm E,F,11,G,18,17,E (có sơ đồ cụ thể do Công ty trách nhiệm hữu hạn T9 bản đồ Chiến Thắng lập đính kèm).
        Phần đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa 26 là 2,08m và giáp thửa 30 là 6,86m; Phía Tây giáp thửa 25 là 8,96m; Phía Nam giáp diện tích đất đã xây nhà tạm của ông N trên thửa 25 là 1,82 m; Phía Bắc giáp diện tích đất đã xây nhà tạm ông P bà H trên thửa 25 là 2,76m.
      • Bà Nguyễn Thị L1 được quyền sở hữu 4,5m² đất của thửa 25, tờ bản đồ số 34, thôn Đ, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội, được giới hạn bởi các điểm A,B,C,D,A (có sơ đồ cụ thể do Công ty trách nhiệm hữu hạn T9 bản đồ Chiến Thắng lập đính kèm).
        Phần đất có tứ cận: Phía Đông giáp thửa 26 dài 4,05m; Phía Tây giáp diện tích đất mà ông V đang quản lý của thửa 25 là 4,05m; Phía Nam giáp diện tích đất đã xây nhà tạm của ông P bà H trên thửa 25 là 1,15m; Phía Bắc giáp diện tích đất mà ông V đang quản lý của thửa 25 là 1,05m.
  3. Các bên đương sự có nghĩa vụ đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  4. Sửa tên của đương sự tại bản án sơ thẩm từ Lại Thị Phương thành Lê Thị S1; Nguyễn Thị Huyền T8 thành Trần Thị Huyền T2.
  5. Về án phí dân sự:
    • Ông Nguyễn Trung L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; được trả lại số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội theo biên lai số AA/2018/ 0015123 ngày 02/12/2019.
    • Ông Lại Văn N phải chịu 1.969.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; được đối trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông N đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017096 ngày 05 tháng 03 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh; ông N còn phải nộp số tiền 1.669.000 (một triệu, sáu trăm, sáu mươi chín nghìn) đồng.
    • Ông Lại Văn V phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; được đối trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông V đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017097 ngày 05 tháng 03 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
    • Bà Nguyễn Thị L1 phải nộp 656.000 (sáu trăm năm mươi sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; được đối trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà L1 đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017095 ngày 05 tháng 03 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh; bà L1 còn phải nộp số tiền 356.000 (ba trăm năm mươi sáu nghìn) đồng.
    • Ông Ngô Hồng P bà Trần Thị Thanh H phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • Bà Lại Thị H3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; được hoàn trả số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017094 ngày 05 tháng 03 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
    • Anh Lại Trung K1 được hoàn trả số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0017093 ngày 05 tháng 03 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh;

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, thì người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng thời gian chậm trả.

Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án có sơ đồ hiện trạng kèm theo.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày Tòa tuyên án./

Nơi nhận:

  • - VKS NDTP Hà Nội;
  • - TAND huyện Đông Anh;
  • - Chi cục THADS huyện Đông Anh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thu Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2025/DS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 123/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về việc tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger