|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 123/2024/HS-PT |
Ngày: 23/4/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Nguyễn.
Các Thẩm phán:
- Ông Hoàng Bích Sơn.
- Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 91/2024/TLPT-HS ngày 11/3/2024 đối với bị cáo Trần Thị Kim A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Thị Kim A; giới tính: Nữ; sinh ngày 10/8/1972, tại: B; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố P, thị trấn C, huyện P, tỉnh B; chỗ ở hiện nay: 475 N, Phường C, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ học vấn: 03/12; nghề nghiệp: Bán vé số; con ông Trần Quang D (sinh năm 1936) và bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1939), hoàn cảnh gia đình: Có chồng (chết) và 01 con sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/9/2023; (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 17/9/2023, Trần Thị Kim A đi bán vé số trên khu vực Quận A. Khi đi đến trước địa chỉ 275 L, phường F, Quận A, Kim A thấy trên bàn gỗ trước địa chỉ trên có một túi giấy nhỏ màu vàng của chị Trần Thị Mỹ C(sinh năm: 2004; nơi cư trú: 277 L phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh) không có người trông coi nên tiếp cận. Sau khi quan sát xung quanh không có người, Kim A đã lấy trộm túi giấy trên cất vào trong túi vải màu xanh đeo trước bụng rồi đi bộ thuận chiều Lê Thánh T sau đó rẽ phải vào Lê Anh X. Khi đến trước số 52-54 Lê Anh X, phường F, Quận A, Kim A lấy túi giấy vừa lấy trộm ra kiểm tra thấy bên trong có 01 điện thoại di động iPhone 13 Pro, màu xanh, cùng số tiền 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng), Kim A lấy điện thoại cùng số tiền để lại trong túi vải màu xanh của mình rồi vứt túi giấy vào góc cột diện phía trước địa chỉ 53-55 Lê Anh X, phường F, Quận A, sau đó tiếp tục đi bán vé số.
Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Kim A đi đến trước nhà thờ Huyện S (địa chỉ: 01 Tôn Thất T, phường P, Quận A) thì bị Công an phường F kiểm tra, đưa về trụ sở để làm việc. Làm việc với Công an phường F, Kim A khai nhận hành vi lấy trộm tài sản của mình đồng thời giao nộp lại toàn bộ số tài sản đã lấy trộm.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Thị Kim A khai nhận thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại di động hiệu iPhone 13 Pro 256Gb và 7.500.000 đồng được đựng trong túi giấy của chị Trần Thị Mỹ C phù hợp với tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan CSĐT Công an Quận A đã thu thập được.
Ngày 28/9/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A ban hành Kết luận định giá tài sản số 248/KL-HĐĐGTS với nội dung: 01 điện thoại di động hiệu iPhone 13 Pro 256GB, màu xanh, imei: 352544476150025, đã qua sử dụng trị giá 16.000.000 đồng (BL 36-37).
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone 13 Pro 256Gb màu xanh và 7.500.000 (bảy triệu năm trăm nghìn) đồng, đã hoàn trả cho chị Trần Thị Mỹ C theo Quyết định xử lý vật chứng số 95/QĐ-ĐTTH ngày 19/9/2023 (BL 41-42).
- 01 (một) túi đeo chất liệu vải màu xanh; 01 (một) nón lá có quai nón bằng vải màu xanh; 01 (một) áo khoác chất liệu vải tay dài, màu đỏ, có mũ trùm đầu; 01 (một) quần chất liệu vải ống dài, màu hồng, có chấm bi màu đen.
* Trách nhiệm dân sự: Do bà Trần Thị Mỹ C đã nhận lại đầy đủ tài sản nên không có yêu cầu gì khác về dân sự (BL 71).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017,
Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim A 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/01/2024 bị cáo Trần Thị Kim A có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
- Bị cáo Trần Thị Kim A đã thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo thực hiện như Bản án sơ thẩm đã xác định, bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo trong thời hạn luật định.
Sau khi xem xét tất cả các lời khai, tình tiết, chứng cứ đã thu thập được trong vụ án, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên bị cáo Trần Thị Kim A phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Xét kháng cáo của bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo nhưng không cung cấp được các tình tiết giảm nhẹ mới. Mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo để giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận A, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận A, Thẩm phán trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 11 giờ 40 phút ngày 17/9/2023, tại trước địa chỉ 275 Lê Thánh T, phường F, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Thị Kim A đã lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu iPhone 13 Pro 256Gb màu xanh (đã qua sử dụng) và 7.500.000 đồng của chị Trần Thị Mỹ Chi, tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 23.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Tòa án nhân dân Quận A đã xét xử bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai.
[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, xử phạt bị cáo mức án 09 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp các tình tiết giảm nhẹ mới ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các vấn đề khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Kim A; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Thị Kim A 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 22 và 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Bị cáo Trần Thị Kim A phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Nguyễn |
Bản án số 123/2024/HS-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 123/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Kim A Trộm cắp tài sản
