TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2024/HS-ST
Ngày: 29/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Trần Ái Vy
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Lê Phi Yến
2/ Ông Huỳnh Hồng Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Thư ký tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tố Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 123/2024/TLST-HS ngày 14/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST-HS ngày 12/7/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Phúc H; sinh năm: 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: B L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Chỗ ở: 870/15 tỉnh lộ 10, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Quang P và bà: Nguyễn Thị Vân T; hoàn cảnh gia đình: có vợ và 02 con (lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2023); tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giam ngày: 13/01/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đoàn Thị Kim N, sinh năm 1997, địa chỉ: 8 tỉnh lộ 10, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 08 giờ 50 phút ngày 12/01/2024, ông Nguyễn Minh T1 là tài xế công nghệ của ứng dụng giao hàng A, nhận giao đơn hàng 01 hộp mỹ phẩm từ thuê bao số 0932103031 địa chỉ 870/13 và H Tỉnh lộ 10, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh đến địa chỉ 6 T, Phường A, quận T. Trên đường đi, do nghi ngờ bên trong là ma túy nên ông T1 đến trình báo tại Công an P1, quận T. Tiến hành kiểm tra gói hàng, phát hiện bên trong chứa 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine, khối lượng 4,6679 gam.
Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã bắt giữ được Nguyễn Phúc H. Khám xét nơi ở của H tại địa chỉ số H Tỉnh lộ 10, phường B, quận B, thu giữ 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,9309 gam và một số dụng cụ H sử dụng để bán ma túy.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Phúc H thừa nhận đơn hàng là một hộp mỹ phẩm có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể màu trắng (là ma túy Ketamine) giao cho khách trước số F T, phường A, quận T là của H để bán cho khách. Khoảng giữa tháng 12/2023, H liên hệ với đối tượng B (không xác định lai lịch) thông qua T2 hỏi mua 4.000.000 đồng ma túy loại Ketamine, giao ma túy tại một quán karaoke trong khu vực T, quận B (không xác định địa chỉ) rồi mang ma túy cất giấu tại nhà. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 12/01/2024, tài khoản Facebook “Trần Thị Kiều D” qua ứng dụng M gọi hỏi mua ma túy của H với giá 3.900.000 đồng, hẹn giao tại địa chỉ 6 T, Phường A, quận T. H lấy ma túy chia thành 02 gói ny long, cất giấu 01 gói nylon tại phòng ngủ, gói còn lại cất giấu vào hộp tròn màu trắng rồi để trong hộp giấy màu bạc, đựng trong bịch nylon màu đỏ rồi lấy điện thoại của vợ H là Đoàn Thị Kim N đặt giao hàng thì bị thu giữ. Gói ma túy còn lại bị thu giữ khi khám xét. Đối tượng mua ma túy đã chuyển 3.900.000 đồng đến tài khoản của Đoàn Thị Kim N, mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần T3 theo yêu cầu của H.
Đoàn Thị Kim Nguyên k nhận, chồng là Nguyễn Phúc H làm nghề lái xe tải, bà làm nghề bán hàng mỹ phẩn trên mạng, do vừa sinh con gần 01 tháng, bà ít khi sử dụng điện thoại, không biết H cất giấu trái phép ma túy trong nhà để bán, không biết H sử dụng điện thoại di động và tài khoản ngân hàng của bà để giao dịch mua bán trái phép chất ma túy như nêu trên.
Xác minh, chủ tài khoản chuyển 3.900.000 đồng cho H để mua ma tuý là Trần Thị Kiều D, sinh 24/5/2000, thường trú tại 5 Đường số C, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, nơi ở tại hẻm C, Đường A, Tổ F, Ấp E, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả xác minh, D không thực tế cư trú, đi khỏi địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra thông báo mời Trần Thị Kiều D làm việc nhưng chưa có kết quả.
Toàn bộ số ma túy bị thu giữ được thể hiện tại Kết luận giám định số 1293/KLGĐ-KTHS ngày 18/01/2024 của Phòng K Công an Thành phố H.
Vật chứng vụ án gồm:
- - 02 gói niêm phong bên ngoài có số 443/24 và chữ ký của giám định viên Bùi Công D1 là tang vật ma túy còn lại sau giám định;
- - 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh của Đoàn Thị Kim N;
- - 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tín của Nguyễn Phúc H;
- - 05 hộp nhựa trắng, 10 gói nylon đen, 10 hộp giấy, 10 gói nylon màu đỏ, không chứa gì, 02 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu xanh, 01 que nhựa màu xanh,.
- - Số tiền 3.900.000 đồng, Đoàn Thị Kim N (vợ của H) tự nguyện giao nộp.
Tại bản cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 13/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Phúc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 02 đến 03 năm tù.
Về vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Phúc H, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Phúc H đã thực hiện hành vi bán 4,6679 gam ma túy loại Ketamine cho đối tượng Trần Thị Kiều D và cất giấu 1,9309 gam ma túy loại Ketamine tại nơi ở để bán. Tổng khối lượng ma túy bị cáo mua bán là 6,5988 gam ma túy loại Ketamine. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý mà còn tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy trong thanh thiếu niên và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ việc mua bán trái phép ma tuý là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc, nhưng chỉ vì tham lam, ham lợi mà bị cáo đã bất chấp tất cả, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nhiêm khắc tù có thời hạn nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo còn vợ và 02 con nhỏ cần chăm sóc để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về tang vật vụ án:
- Đối với 02 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công D1 ghi số 443/24 (tang vật ma túy còn lại sau giám định). Hội đồng xét xử xét đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh thu giữ của vợ bị cáo là Đoàn Thị Kim N; xét bà N không biết H sử dụng điện thoại di động và tài khoản ngân hàng của bà để giao dịch mua bán trái phép chất ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bà N.
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím thu giữ của bị cáo. Bị cáo khai sử dụng điện thoạiđể liên lạc thực hiện việc mua bán ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với 05 hộp nhựa trắng, 10 gói nylon đen, 10 hộp giấy, 10 gói nylon màu đỏ, không chứa gì, 02 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu xanh, 01 que nhựa màu xanh, xét đây là dụng cụ bị cáo sử dụng vào việc mua bán ma túy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 3.900.000 đồng do bà Đoàn Thị Kim N (vợ của bị cáo H) tự nguyện giao nộp. Xét đây là tiền do đối tượng Trần Thị Kiều D chuyển vào tài khoản để mua ma túy của bị cáo, là tài sản do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Phúc H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2024.
[2] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu và tiêu hủy: 02 gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Bùi Công D1 ghi số 443/24 (tang vật ma túy còn lại sau giám định); 05 hộp nhựa trắng, 10 gói nylon đen, 10 hộp giấy, 10 gói nylon màu đỏ, không chứa gì, 02 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu xanh, 01 que nhựa màu xanh.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 3.900.000 (ba triệu chín trăm ngàn) đồng; 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bà Đoàn Thị Kim N 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 145/BB/2024 ngày 22/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình và Giấy nộp tiền ngày 14/6/2024 do Công an quận T nộp vào Kho bạc nhà nước quận T, Thành phố Hồ Chí Minh).
[3] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Trần Ái Vy |
Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 123/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội mua bán trái phép chất ma túy
