Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 123/2024/HS-ST

Ngày: 25-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh

Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quyền

Ông Đoàn Văn Tâm

Ông Nguyễn Tấn Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Vũ Tường Ninh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Hoàng S, sinh ngày16/10/1997 tại huyện A, tỉnh Kiên Giang. Nơi thường trú: Tổ C, ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn G (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1978 (có mẹ kế là bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1973); chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 10 tháng 01 năm 2022, bị Toà án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/8/2022, chưa thi hành xong phần trách nhiệm dân sự; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22 tháng 5 năm 2015, bị Toà án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong bản án (đã xóa án tích); bị bắt tạm giam từ ngày 30/7/2023 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo S: Luật sư Đường Minh Q - Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh K (Có mặt).

Đại diện hợp pháp của bị cáo S: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1978 - Mẹ ruột bị cáo (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

- Bị hại: Ông Võ Hồng P, sinh năm 1944 (Đã chết)

Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Bà Phạm Thị M, sinh năm 1946 - Vợ của bị hại (Có mặt).

2. Ông Võ Văn Ú, sinh năm 1981 - Con của bị hại (Có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

- Người làm chứng: Chị Võ Thị Yến N, sinh năm 2004 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng thời gian từ 18 đến 19 giờ (không nhớ chính xác), ngày 29/7/2023, Võ Hoàng S điều khiển xe mô tô (chưa xác định biển số) đi đến nhà của một người bạn tên T1 ở Thứ Năm C, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang (chưa xác định tên thật và địa chỉ) để uống rượu. Trong quá trình uống rượu thì T1 có lấy ra 01 bịch ma tuý đá để sử dụng và cho S sử dụng chung, S hút khoảng 02-03 lần và uống hết khoảng 10 ly rượu thì nghỉ uống. Đến khoảng 01 giờ ngày 30 tháng 7 năm 2023, Võ Hoàng S cảm thấy say rượu nên điều khiển xe mô tô đi về nhà tại ấp Đ, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Khi về đến nhà, do sử dụng ma túy gây ảo giác S nhìn thấy xung quanh ma quỷ nên lấy cây dao bằng kim loại màu trắng một cạnh sắc, sống dao có một đoạn tạo răng cưa, lưỡi dao bằng kim loại dài 44 cm, chỗ rộng nhất 58 cm, bản lưỡi dao dầy 0,2 cm, cán dao bằng kim loại được ốp gỗ dài 17,7cm, chỗ rộng nhất 3cm, bản cán dao dầy 2,1cm (dao tự chế, mã tấu) trong nhà của mình đi đến kêu cửa nhà ông Võ Hồng P (là ông nội ruột của S ở cách nhà S khoảng 08 mét). Thời điểm này, chị Võ Thị Yến N (cháu nội ông P) đang ở nhà cùng ông P nghe tiếng kêu cửa nên đi ra mở cửa thì bị S tung cửa chạy vào nên chị N chạy theo. Khi Võ Hoàng S đi đến phòng của ông P thì S đứng trên giường và cầm dao chém nhiều nhát từ trên xuống trúng vào vùng đầu và người ông P, chị N sợ nên chạy ra trước hàng ba đứng kêu cha ruột là ông Võ Văn Ú đang ngủ ở tiệm sửa xe phía trước (cách nhà ông P khoảng 06 mét). Lúc này, khi ông Ú mở cửa chạy lên đến mái che trước nhà thì S cầm dao chạy ra và rượt chém ông Ú nhưng không trúng, do ông Ú tránh được và bỏ chạy. Do S không chém được ông Ú nên cầm dao đi về nhà của mình lấy tượng phật Mẹ quan thế âm bồ tát và di ảnh đang thờ cúng của cha S ra cặp mé lộ đập phá. Người dân thấy vậy báo cho Công an xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang đến vây bắt S. Sau khi bắt được S, gia đình đi vào trong nhà phát hiện ông Võ Hồng P nằm chết, trên người có nhiều vết thương. Đến ngày 31/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K đã khởi tố và tạm giam Võ Hoàng S về hành vi giết người để điều tra.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 797/KL- KTHS, ngày 26 tháng 8 năm 2023 của Phòng K - Công an tỉnh K đối với bị hại Võ Hồng P như sau:

1. Các kết quả chính:

Trên cơ thể của ông Võ Hồng P có nhiều vết thương gây đứt da, cơ, mạch máu. Bờ mép vết thương sắc gọn. Đặc biệt vùng đầu đứt vỡ xương hộp sọ gây đứt não và dập não.

2. Nguyên nhân chết: Do sốc mất máu và chấn thương sọ não.

3. Vật gây thương tích: Các vết thương trên người của ông Võ Hồng P dẫn đến chết có đặc điểm của vết thương do vật sắc gây nên.

* Tại Bản kết luận giám định độc chất số: 841/967-968-23/KLGĐĐC-PYQG, ngày 18 tháng 8 năm 2023 của Phân viện pháp y quốc gia tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với Võ Hoàng S như sau:

1. Phương pháp phân tích:

Sắc ký khí – headspace, sắc ký khí khối phổ.

2. Các chất phân tích:

- Cồn: Ethanol và M1.

- Các chất ma tuý thường gặp:

  • + Nhóm Opiate: Thebain, M, 6- A, H, C.
  • + Nhóm ATS: Amphetamin, M2, E, MDA.
  • + Nhóm C1: Tetrahydrocannabinol, C2, C3.
  • + Nhóm khác: Ketamin, P1, C4, P2.

3. Kết quả phân tích:

Có tìm thấy M2, A.

Kết luận:

-Có tìm thấy M2, A.

- Không tìm thấy cồn chất và các chất ma tuý khác nêu trên.

* Tại Bản kết luận giám định số: 599-23/KLGĐADN-PYQG ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Viện pháp y quốc gia Thành phố H về giám định đối với Võ Hồng P như sau:

1. Kết luận giám định:

- Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên mẫu cây dao tự chế và 02 mẫu dấu vết tại hiện trường: Dương tính.

- ADN thu từ mẫu cây dao tự chế trùng khớp hoàn toàn với ADN của Võ Hồng P trên tất cả các locus STR đã so sánh.

- ADN thu từ mẫu dấu vết trên hàng ba tại hiện trường trùng khớp hoàn toàn với ADN của Võ Hoàng S trên tất cả các locus STR đã so sánh.

- ADN thu từ mẫu dấu vết trên ga nệm tại hiện trường ADN trộn lẫn của nhiều người không tách rời ADN của từng người riêng biệt nên không thể so sánh với ADN của Võ Hồng P và Võ Hoàng S.

* Tại Bản kết luận giám định số: 389-2023/KLGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Trung tâm P3 đối với Võ Hoàng S như sau:

1. Kết luận giám định:

-Về y học: Trước, trong thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 30/7/2023) và hiện tại: Rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng các chất kích thích (F15.71-ICD10).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 30/7/2023) và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

* Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 (một) dao tự chế bằng kim loại màu trắng một cạnh sắc, sống dao có một đoạn tạo răng cưa, lưỡi dao bằng kim loại dài 44 cm, chỗ rộng nhất 58 cm, bản lưỡi dao dầy 0,2 cm, cán dao bằng kim loại được ốp gỗ dài 17,7cm, chỗ rộng nhất 3cm, bản cán dao dầy 2,1cm.
  • - 02 (hai) kính bị vỡ kích thước 1,2 m x 0,47 m và 0,52 x 0,52 m, kính dầy 0,8cm;
  • - 01 (một) bình nhựa màu vàng có gắn ống hút (dạng bình hút shi sha);
  • - Trên dao có dính nhiều vết màu nâu đỏ; Mẫu máu thu tại hiện trường trên hàng ba nhà của Võ Hồng P; Mẫu máu thu trên ga nệm thu trong phòng của Võ Hoàng S (được thu giữ trong biên bản khám nghiệm hiện trường và đã niêm phong để thực hiện việc giám định đúng theo quy định).

* Về phần trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra Gia đình người bị hại Võ Hồng P không yêu cầu Võ Hoàng S bồi thường thiệt hại, chỉ yêu cầu xử lý Võ Hoàng S đúng theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số:101/CT - VKSTKG-P2 ngày 28/8/2024 của Viện kiểm sát nhân tỉnh Kiên Giang đã truy tố Võ Hoàng S về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Võ Hoàng S. Đề nghị áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, i khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo S từ 18 đến 20 năm tù; Về trách nhiệm dân sự, do đại diện bị hại không yêu cầu nên đề nghị không xem xét đến; Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng đã thu giữ hiện không còn giá trị sử dụng.

- Bị cáo Võ Hoàng S có ý kiến: Thừa nhận đã thực hiện hành vi như truy tố của Viện kiểm sát.

- Người bào chữa cho bị cáo S có ý kiến: Đồng ý theo tội danh Viện kiểm sát truy tố, luận tội đối với bị cáo. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị áp dụng, đề nghị xem xét đến điều kiện hoàn cảnh gia đình và của bản thân bị cáo (thiếu sự nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục của cha mẹ từ nhỏ). Từ đó đề nghị xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất có thể.

- Đại diện bị hại có ý kiến: Về trách nhiệm hình sự, yêu cầu xử bị cáo mức án nhẹ nhất có thể. Về trách nhiệm dân sự, không yêu cầu buộc bị cáo phải bồi thường khoản thiệt nào.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo có ý kiến: Yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo mức án nhẹ nhất có thể.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Võ Hoàng S khai nhận đã thực hiện hành vi như truy tố của Viện kiểm sát, cụ thể ngày 30/7/2023 sau khi sử dụng ma túy bị ảo giác đã dùng dao chém chết ông Võ Hồng P là ông nội của S. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; lời khai của người làm chứng; Kết luận giám định,...Từ đó có căn cứ để kết luật hành vi bị cáo S thực hiện có đủ yếu tố cấu thành tội giết người quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thấy rằng, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến tính mạng người khác một cách trái pháp luật, thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường tính mạng, sức khỏe người khác nên phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.

[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã từng bị kết án chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời phạm tội đối với ông nội ruột của mình nên bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h, điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi thực hiện hành vi bản thân hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; đại diện bị hại yêu cầu giảm hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo, quyết định xử phạt bị cáo một mức hình phạt tù tương xứng tính chất, mức độ phạm tội, để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm răn đe cảnh tỉnh chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Đại điện hợp pháp của bị hại không yêu cầu buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên không xem xét.

[6] Về biện pháp tư pháp: Các vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về án phí, căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo S phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Tuyên bố bị cáo Võ Hoàng S phạm tội “Giết người”.

Xử phạt bị cáo Võ Hoàng S 18 (Mười tám) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị tạm giam (ngày 30/7/2023).

2. Về biện pháp tư pháp, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) dao tự chế bằng kim loại màu trắng một cạnh sắc, sống dao có một đoạn tạo răng cưa, lưỡi dao bằng kim loại dài 44 cm, chỗ rộng nhất 58 cm, bản lưỡi dao dầy 0,2 cm, cán dao bằng kim loại được ốp gỗ dài 17,7cm, chỗ rộng nhất 3cm, bản cán dao dầy 2,1cm.
  • + 02 (hai) kính bị vỡ kích thước 1,2 m x 0,47 m và 0,52 x 0,52 m, kính dầy 0,8cm;
  • + 01 (một) bình nhựa màu vàng có gắn ống hút (dạng bình hút shi sha);

(Hiện Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo quyết định chuyển vật chứng số 61/QĐ-VKSTKG-P2 ngày 28/8/2024 và biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang lập ngày 26/9/2024).

3. Về án phí, căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Võ Hoàng S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, đại diện bị hại biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/9/2024).

T2 hợp phần dân sự của bản án đượcthi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hánh án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1);
  • - VKSND Cấp cao tại tp. HCM (1);
  • - TAND Cấp cao tại tp. HCM (1);
  • - VKSND tỉnh KG (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh KG (1);
  • - THADS tỉnh KG (1)
  • - CQĐT CA tỉnh KG (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh KG;
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - Liên quan (1); Võ Văn Lịnh
  • - Luật sư (1);
  • - Tổ hành chính tư pháp (1);
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu tòa hình sự (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Lịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về giết người (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 123/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Hoàng S dung dao chém chết ông nội của S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger