Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Bản án số: 123/2024/HS-PT

Ngày 03-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc

Ông Hoàng Trí Thức

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 167/2024/HSPT ngày 29/10/2024 đối với bị cáo Nguyễn Viết T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2024/HSST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Viết T, sinh năm: 1993 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Công nhân; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Viết T1, sinh năm 1970 và bà Ngô Thị V, sinh năm 1969. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt từ ngày 20/01/2022 đến ngày 19/05/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh. (có mặt)

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo khác, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Viết T là công nhân của Công ty TNHH H, có trụ sở tại khu công nghiệp N, huyện N, tỉnh Đồng Nai. T được công ty giao cho các nhiệm vụ như: Xuất, nhập, quản lý, M, văn phòng... của Phòng kho vận.

Vào tháng 05 năm 2021, T được chủ quản kho vật tư Công ty TNHH H phân công đến làm việc tại kho chứa hàng hóa của Công ty TNHH H đặt tại Cảng P thuộc khu công nghiệp P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với nhiệm vụ là trông coi, quản lý việc xuất nhập hàng hóa ra vào kho và ký các giấy tờ gồm giấy công chứng nhận hàng, phiếu giao hàng xe bồn EG, phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ, giấy ra vào xưởng của nhân viên/xe hàng.

Trong thời gian làm việc tại kho chứa hàng hóa của Công ty TNHH H đặt tại Cảng P, T quen biết với Hoàng Thiên V1. Đầu tháng 12 năm 2021, V1 nảy sinh ý định mua hóa chất của người khác chiếm đoạt được để bán lại kiếm lời. V1 biết T là người quản lý kho của Công ty TNHH H nên trao đổi với T chiếm đoạt hàng là chất lỏng Ethylen glycol của Công ty bán cho V1. T đồng ý bán cho V1 30 (ba mươi) tấn chất lỏng E glycol với giá 100.000.000 đồng và hẹn giao hàng vào ngày 15/01/2022.

Sau khi thỏa thuận xong với T, V1 gọi điện trao đổi với Mai Văn M1 về việc V1 mua được khoảng 30 (ba mươi) tấn hoá chất (chất lỏng Ethylen glycol) bị dư, tồn kho, không xuất hóa đơn được với giá 100.000.000₫ và nhờ M1 bán giùm kiếm lời. M1 đồng ý và gọi điện cho Hà Thanh B để bán số hóa chất trên cho B. B đồng ý mua với giá 5.000.000đ/tấn.

Ngày 14/01/2022, V1 đến bãi xe “Hữu” thuộc khu vực ngã tư C thuộc phường P, thị xã P thuê bãi chứa hàng với giá 1.500.000 đồng và thông báo địa điểm giao hàng cho M1. Ngày 15/01/2022, M1 điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 60C-057.99 đến kho hàng của B tại ấp G, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai để chở 26 bồn (bên trong rỗng) dùng để chứa hóa chất về bãi xe “Hữu” nơi V1 hẹn giao hàng và thuê thêm một xe đầu kéo của Công ty V2 đến để chở hàng về kho của B. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, T gọi điện thoại cho V1 đến lấy hàng. V1 thuê ông Nguyễn Thanh T2 là

tài xế của Công ty  điều khiển xe ô tô BKS 60C-489.39 kéo theo Rơ Móoc BKS 60R-047.81 đến gặp T lấy hàng, giá thuê vận chuyển là 15.000.000 đồng. Khi ông T2 điều khiển xe vào kho nhận hàng thì T báo với bảo vệ là xe do Công ty tăng cường đến để bảo vệ cho vào kho nhận hàng. Sau khi nhận 30 (ba mươi) tấn chất lỏng Ethylen glycol, ông T2 chở hàng về bãi xe “Hữu” theo yêu cầu của V1 và nhận tiền công từ V1. M1 thuê thêm 04 người cùng giúp M1 bơm hóa chất từ xe của T2 vào bồn chứa trên xe của Công ty V2 và dẫn xe đưa hóa chất về kho hàng của B tại tỉnh Đồng Nai. Sau khi giao hàng, B trả cho M1 số tiền 150.000.000 đồng. M1 đưa cho V1 130.000.000 đồng và hưởng lợi 20.000.000 đồng. V1 trả cho T số tiền 100.000.000 đồng và hưởng lợi 30.000.000 đồng.

Đến ngày 20/01/2022, Nguyễn Viết T đã đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản của mình, đồng thời giao nộp toàn bộ số tiền 100.000.000 đồng là tiền T có được từ việc bán hóa chất cho Hoàng Thiên V1. Sau khi được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P mời về làm việc, ông Mai Văn M1 và ông Hà Thanh B đều khai nhận không biết số lượng hàng hóa gồm 30 (ba mươi) tấn chất lỏng Ethylen glycol do V1 nhờ bán là tài sản do phạm tội mà có, đồng thời vào ngày 03/03/2022, ông B giao nộp lại toàn bộ 30 (ba mươi) tấn chất lỏng Ethylen glycol cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P. Ông M1 cũng trả lại cho ông B số tiền 150.000.000 đồng là tiền B dùng để mua hóa chất từ M1.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 12/KL-HĐ.ĐGTS ngày 21/02/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thị xã P, kết luận: 30 (ba mươi) tấn chất lỏng (hợp chất hữu cơ) Ethylene Glycol (EG), tại thời điểm ngày 15/01/2022 có giá trị: 16.240.000đ/tấn x 30 tấn = 487.200.000đ (Bốn trăm tám mươi bảy triệu, hai trăm ngàn đồng).

Về vật chứng vụ án:

Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 40/QĐ ngày 22/06/2022, trả lại 30 (ba mươi) tấn chất lỏng Ethylen glycol cho Công ty TNHH H; ra Quyết định xử lý vật chứng số 64/QĐ ngày 22/09/2022, trả lại số tiền 100.000.000 đồng cho ông Mai Văn M1.

Về trách nhiệm dân sự:

Công ty TNHH H không yêu cầu các bị cáo bồi thường dân sự.

2. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2024/HSST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết T phạm tội “Tham ô tài sản”

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T 05 (Năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị bắt, tạm giam từ ngày 20/01/2022 đến ngày 19/5/2022.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử bị cáo Hoàng Thiên V1, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Ngày 13/6/2024, bị cáo Nguyễn Viết T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

4. Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng:

Bị cáo có kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Viết T 05 (năm) năm tù về tội “Tham ô tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

5. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, nói lời sau cùng thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết T làm và gửi trong thời hạn luật định nên hợp lệ, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, các chứng cứ đã được thẩm tra có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, thể hiện:

Từ tháng 05 năm 2021, Nguyễn Viết T được Công ty TNHH H giao nhiệm vụ trông coi, quản lý việc xuất nhập hàng hóa trong kho chứa hàng của Công ty TNHH H đặt tại Cảng P thuộc khu công nghiệp P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Lợi dụng quyền hạn được giao, T đã chiếm đoạt 30 tấn chất lỏng Ethylen glycol trị giá 487.200.000đ (bốn trăm tám mươi bảy triệu, hai trăm nghìn đồng) của Công ty TNHH H giao cho Hoàng Thiên V1 đi tiêu thụ.

Vì vậy, hành vi bị cáo Nguyễn Viết T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Viết T với tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương. Toà án sơ thẩm khi lượng hình đã xem xét đầy đủ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, đánh giá vai trò của bị cáo trong toàn bộ vụ án, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 05 (năm) năm tù về tội “Tham ô tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt.

Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm:

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Viết T; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2024/HS-ST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết T phạm tội “Tham ô tài sản”

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T 05 (Năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị bắt, tạm giam từ ngày 20/01/2022 đến ngày 19/5/2022.

2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 85/2024/HSST ngày 31/5/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - PV 27 Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ;
  • - Công an thị xã Phú Mỹ;
  • - Chi cục THADS thị xã Phú Mỹ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HS-PT ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự phúc thẩm (tham ô tài sản)

  • Số bản án: 123/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tham ô tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Viết T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger