Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/10/2024

“V/v: tranh chấp ly hôn, nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG

NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Hồng
  • - Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Hiền và bà Lê Thu Thuý
  • - Thư ký phiên tòa: bà Vũ Phương Thanh - Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: ông Phạm Nam Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý: số: 196/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 212/2024/QÐST-HNGĐ ngày 27/9/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Phan Thị L, sinh năm 1997; nơi cư trú: tổ B, khu A, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
  • - Bị đơn: anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1993; nơi cư trú: tổ B, khu A, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phan Thị L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: chị L và anh K chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh vào năm 2018. Sau kết hôn, anh, chị sinh sống tại tổ B, khu A, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh tại ngôi nhà do 02 vợ chồng xây dựng trên đất (quyền sử dụng thửa đất là tài sản riêng của chị L). Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Hơn thế, do anh K sa đà vào việc chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. Xuất phát từ đó, vợ chồng không còn sự tin tưởng, yêu thương, quý trọng lẫn nhau. Thực trạng mâu thuẫn vợ chồng kéo dài không cải thiện được dẫn đến anh, chị đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2024 đến nay, không ai còn quan tâm đến ai về mọi mặt. Trong thời gian ly thân chị L cùng con chung đã về nhà mẹ đẻ chị L sinh sống, còn anh K về nhà bố mẹ mình ở L, Q sinh sống. Nay hôn nhân giữa anh, chị không có hạnh phúc, chị L đề nghị Toà án giải quyết cho chị L được ly hôn với anh K.

- Về con chung: anh, chị có 01 con chung Nguyễn Phan Bảo A, sinh ngày 06/11/2018. Chị L đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng con chung và yêu cầu anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với chị L mỗi tháng 3.000.000 đồng kể từ tháng 9 năm 2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về tài sản và khoản nợ chung: anh, chị tự thoả thuận không đề nghị Toà án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Văn K trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: anh K xác nhận việc chung sống, kết hôn, việc vợ chồng sống ly thân như nội dung lời khai của chị L nêu trên. Về Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến 02 bên gia đình bố mẹ đẻ chị L và bố mẹ đẻ anh K phát sinh mâu thuẫn. Anh, chị hiện đã sống ly thân, trong thời gian sống ly thân anh K về sinh sống tại địa bàn xã L, thị xã Q. Nay tình cảm vợ chồng khó có thể cải thiện được nên anh K nhất trí với quan điểm của chị L về việc ly hôn.

- Về con chung: anh K xác nhận anh, chị có 01 con chung, tên tuổi như chị L trình bày nêu trên. Anh K đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trường hợp chị L được quyền trực tiếp nuôi con thì anh K chỉ nhất trí cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, kể từ ngày Bản án, Quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về tài sản và khoản nợ chung: anh, chị tự thoả thuận không đề nghị Toà án giải quyết.

* Các tài liệu nguyên đơn cung cấp kèm theo đơn khởi kiện gồm: 01 giấy chứng nhận kết hôn; 01 căn cước công dân mang tên Phan Thị L; 01 giấy khai sinh mang tên Nguyễn Phan Bảo A1; 01 thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; 01 đơn trình bày v/v không cung cấp được căn cước của anh K

* Các tài liệu do Toà án thu thập gồm:

  • - Các Biên bản xác minh ngày 28/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, thể hiện nội dung:

    Chị Phan Thị L sinh ra và lớn lên ở địa bàn phường Đ, có đăng ký kết hôn và chung sống với anh Nguyễn Văn K là người ở địa bàn Q vào năm 2017. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại địa bàn tổ B, khu A, phường Đ. Quá trình chung sống, anh chị cùng xây dựng 01 ngôi nhà trên thửa đất đứng tên chị L, thửa đất này có nguồn gốc do bố mẹ đẻ chị L tặng cho chị L trước khi anh, chị kết hôn. Thời gian đầu anh chị chung sống hoà thuận hạnh phúc không có điều tiếng gì tại địa phương. Tuy nhiên, thời gian gần đây anh, chị xảy ra nhiều bất hoà và đã sống ly thân được khoảng vài tháng nay. Theo năm bắt tại địa phương thì nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị là do anh K có việc nợ tiền làm ảnh hưởng đến kinh tế, chất lượng cuộc sống của gia đình. Theo phản ánh của gia đình chị L thì việc nợ nần trên do anh K sa đà vào việc chơi cờ bạc. Hiện nay anh chị không còn chung sống tại ngôi nhà nêu trên nữa, mà chị L đưa con chung về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, còn anh K không còn sinh sống tại địa bàn tổ B, khu A, phường Đ, đi đâu, làm gì thì đại diện tổ dân không nắm được. Từ thời điểm ly thân đến nay, anh chị chưa lần nào trở về chung sống cùng nhau.

    Về con chung: anh chị có 1 con chung sinh năm 2018, được biết từ nhỏ con chung học tập tại nơi chị L làm giáo viên (là 1 trường mầm non ở địa bàn phường H, thành phố H). Về trách nhiệm đối với con chung, cả hai anh chị đều quan tâm, chăm sóc con chung như bao gia đình khác. Tuy nhiên việc chăm sóc con chung phần lớn là do chị L đảm nhiệm và do tính chất công việc của chị L nên việc giáo dục con chung có nhiều thuận lợi hơn.

    Về lối sống của anh K và chị L: chị L có công việc và thu nhập ổn định, có lối sống lành mạnh, là người hiền lành, chịu khó chăm lo cho gia đình, chưa bao giờ có điều tiếng xấu gì tại địa phương, còn anh K năm 2017 mới về sinh sống tại địa phương đến thời điểm hiện tại cũng chưa có điều tiếng gì, mà chỉ nghe bố mẹ đẻ chị L cung cấp về lối sống của anh K như nêu trên. Quá trình chung sống với chị L, anh K thường xuyên không có mặt ở nhà, anh K làm công việc, nghề nghiệp gì thì đại diện tổ dân không nắm được.

  • - Tài liệu do nguyên đơn cung cấp theo thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ của Toà án, gồm:

    • + Hợp đồng lao động không xác định thời hạn ký kết giữa đại diện Công ty P – Mầm non Hoàng tử với chị Phan Thị L và đơn xin xác nhận lương của chị L thể hiện: chị L làm việc không xác định thời hạn tại Công ty trên và có mức thu nhập ổn định mỗi tháng 15.000.000đ.
    • + Giấy xác nhận ngày 23/8/2024 của chị Phan Thị L thể hiện nội dung: Hiệu trưởng trường mầm non H2 sáng xác nhận con chung của anh, chị K – L đã học mầm non tại Mầm non Học viện T1 từ năm 2022 đến 2024, lớp mẫu giáo 3-5 tuổi.
    • + Đơn xin xác nhận ngày 23/8/2024 của chị Phan Thị L thể hiện nội dung: Trường tiểu học Đ xác nhận con chung của anh, chị K – Lan nhập học tại lớp 1A1 năm học 2024 -2025 tại Trường tiểu học Đ.
    • + Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 38 tờ bản đồ số 16, địa chỉ: tổ B, khu A, phường Đ, thành phố H, diện tích: 142,2m², tên người sử dụng đất: bà Phan Thị L.
    • + Giấy đặt cọc, có chữ ký của anh K và chị L, trang cuối cùng hợp đồng có nội dung viết tay: “tôi là Bùi Thúy H, CCCD: 0333190008991 vợ anh Nguyễn Huy T hôm nay ngày 2/7/2024, tôi đã nhận đủ số tiền 700.000.000₫ (bảy trăm triệu đồng của ông Phan Nguyên H1 và bà Đinh Thị C (là bố mẹ đẻ của chị Phan Thị L”, cuối dòng chữ là chữ ký, chữ viết Bùi Thúy H.
    • + Ảnh chụp giấy đặt cọc nêu trên và bản gốc căn cước công dân của anh, chị L – Khiển và Nguyễn Huy T, số căn cước: [...]
    • + Giấy tờ về vay tín dụng tên khách hàng Nguyễn Văn K.
    • + 02 Ảnh về giao dịch chuyển khoản tại ngân hàng B.
    • + Bản phô tô tin nhắn đòi nợ anh K.

* Tại phiên tòa:

- Chị L nhất trí với quan điểm của anh K về mức cấp dưỡng và thời điểm cấp dưỡng nuôi con chung, cụ thể: anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với chị L mỗi tháng 2.000.000đ kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi; các yêu cầu khởi kiện khác giữ nguyên.

- Kiểm sát Viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến như sau:

  • + Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự được đảm bảo đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự, của nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại các Điều: 70, 71 và 72 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

  • + Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các Điều: 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị L về việc ly hôn, nuôi con, cụ thể: xử cho chị L ly hôn với anh K; giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với chị L mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Đơn khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con của chị Phan Thị L là tranh chấp quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng Dân sự; tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án bị đơn có nơi đăng ký thường trú tại địa bàn phố H. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long thụ lý, giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định tại khoản điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự về thẩm quyền.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ, nhưng bị đơn vắng mặt. Tại phiên tòa sơ thẩm mở lần thứ nhất vào ngày 27/9/2024 bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng vẫn vắng mặt. Do đó việc xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa sơ thẩm mở lần 2 đảm bảo đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và do Toà án tiến hành thu thập theo đúng trình tự pháp luật quy định, các đương sự không có ý kiến gì. Do đó, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được sử dụng là căn cứ giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Toà án thu thập nêu trên, thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: đủ căn cứ xác định chị Phan Thị L và anh Nguyễn Văn K kết hôn, chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp vào năm 2018. Sau kết hôn, anh chị chung sống hoà thuận đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, anh, chị đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2024 đến nay, không còn ai quan tâm đến ai về mọi mặt. Trong thời gian sống thân chị L ở nhà bố mẹ đẻ chị L tại địa bàn phường Đ, còn anh K ở nhà bố mẹ đẻ tại địa bàn xã L, thị xã Q. Về nguyên nhân mâu thuẫn anh, chị đều thừa nhận do bất đồng quan điểm sống. Ngoài ra, chị L khai do anh K sa đà vào việc chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần, làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình. Nội dung lời khai của chị L về việc anh K có việc nợ nần phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương và tài liệu, chứng cứ do chị L cung cấp. Do đó, đủ căn cứ xác định nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do anh, chị bất đồng quan điểm sống và có việc anh K nợ nần làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình. Xét hôn nhân giữa anh, chị đã rơi vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nay anh K nhất trí với quan điểm của chị L về việc ly hôn. Do đó, cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị L, xử cho chị L ly hôn với anh K.

- Về con chung: anh, chị trình bày có 01 con chung tên tuổi như trên, phù hợp với tài liệu trong hồ sơ vụ án, các đương sự đều đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, Hội đồng xét xử thấy:

Toà án đã ra thông báo yêu cầu các đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh điều kiện đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung, trong thời hạn quy định chị L đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh, kết hợp với kết quả xác minh đủ cơ sở xác định: chị L là người sinh ra, lớn lên và hiện sinh sống ổn định ở tại địa bàn phường Đ, có lối sống lành mạnh, có công việc và thu nhập ổn định, có trách nhiệm, quan tâm, gắn bó đối với con chung, có đủ điều kiện, khả năng trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Mặt khác, con chung của anh, chị đã và đang sinh sống ổn định tại địa bàn phường Đ và nay đã làm thủ tục nhập học tại trường tiểu học Đ năm học 2024 -2025. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con, cần giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Về yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung của anh K, trong thời gian quy định anh K không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh có đủ điều kiện đảm bảo được quyền lợi mọi mặt của con chung theo thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ của Toà án. Mặt khác, do anh K đang sinh sống tại địa bàn thị xã Q nên việc giao con chung cho anh K trực tiếp nuôi dưỡng sẽ làm xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con chung. Do đó, yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung của anh K không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh, chị đều cùng thống nhất quan điểm anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ ngày bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xét sự thống nhất của anh, chị là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần ghi nhận.

- Về tài sản, khoản nợ chung: các đương sự đều không đề nghị Toà án giải quyết, nên không xét.

[3] Về án phí: chị Phan Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều: 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[2] Tuyên xử:

* Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phan Thị L về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”:

- Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Phan Thị L ly hôn với Nguyễn Văn K.

- Về con chung: giao cho chị Phan Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Phan Bảo A1, sinh ngày 06/11/2018 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Văn K phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với chị Phan Thị L mỗi tháng 2.000.000₫ (hai triệu đồng), kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung thành niên.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

* Về án phí: buộc chị Phan Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị L đã nộp, theo biên lai thu số 0001070 ngày 01/8/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

* Về quyền kháng cáo: nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Hạ Long;
  • - VKSND Tỉnh Quảng Ninh;
  • - Ủy ban nhân dân phường Liên Hòa, TX Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Thi hành án dân sự TP Hạ Long;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/HNGĐ-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 123/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Thị L - Nguyễn Văn K (ly hôn)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger