|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15/4/2024
V/v Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Như Phương
2. Bà Lê Thị Bích Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2024/TLST-HNGĐ ngày 10/01/2024 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1641/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/3/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Pham Thuy T, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Quốc tịch: Hoa Kỳ.
Địa chỉ: 8316 15th Avenue C, T, WA 98404-5917, USA.
Bị đơn: Ông Nguyễn H, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Địa chỉ: 1 Q, Phường H, quận G, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn - bà Pham Thuy T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn H tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42 do Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/3/2018. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống khoảng 03 tuần thì bà trở về Hoa Kỳ còn ông H vẫn ở lại Việt Nam, ông bà chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại. Sau đó ông H thực hiện thủ tục xin định cư tại Hoa Kỳ nhưng không được, từ năm 2020 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung và do mỗi người sống một nơi nên vợ chồng không có điều kiện sống cùng nhau. Từ tháng 01/2021 đến nay vợ chồng không còn liên lạc với nhau nữa, nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về việc nuôi con: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Tại các bản tự khai ngày 19/3/2024 và 29/3/2024, bị đơn - ông Nguyễn H trình bày:
Ông và bà Pham Thuy T kết hôn tại Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 28/3/2018. Sau khi kết hôn bà Pham Thuy T ở lại Việt Nam khoảng 01 tháng rồi trở về Hoa Kỳ, từ đó vợ chồng không gặp nhau mà chỉ liên lạc qua điện thoại. Từ năm 2023 đến nay vợ chồng ít liên lạc vì có nhiều lý do bất đồng. Nay bà Pham Thuy T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn thì ông đồng ý.
Về việc nuôi con: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Tại phiên tòa sơ thẩm,
Bà Pham Thuy T và ông Nguyễn H có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Ngày 14/12/2023, bà Pham Thuy T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn H. Bà Pham Thuy T đang cư trú tại Hoa Kỳ, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Pham Thuy T và ông Nguyễn H có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Trích lục kết hôn số 797/TLKH-BS do Ủy ban nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/12/2023 thì bà Phạm Thuy T1 và ông Nguyễn h có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42 ngày 28/3/2018, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bà Pham Thuy T và ông H đều thừa nhận vợ chồng chung sống một thời gian ngắn, sau đó sống xa cách mỗi người một nơi và có nhiều bất đồng nên vợ chồng ít liên lạc. Nay bà Phạm Thuy T1 yêu cầu ly hôn, ông H đồng ý. Do đó, có cơ sở xác định bà Pham Thuy T và ông H đã không còn tình cảm với nhau, không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, nên căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của bà Pham Thuy T về việc xin ly hôn với ông H.
Về việc nuôi con: Không có.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Pham Thuy T phải chịu án phí đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273, điểm a khoản 5 Điều 477 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Pham Thuy T.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Pham Thuy T được ly hôn với ông Nguyễn H.
- - Về việc nuôi con: Không có.
- - Về tài sản chung: Không có.
- - Về nợ chung: Không có.
- Bà Pham Thuy T phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0031564 ngày 09/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Pham Thuy T đã nộp đủ án phí.
- Ông Nguyễn H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày; bà P Thuy Thi có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Thanh Bình |
4
Bản án số 123/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 123/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
