Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/DS-PT

Ngày: 09 – 5 – 2024

V/v “Tranh chấp QSD đất”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Thanh Bình

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Minh Nhựt

Bà Trần Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Linda - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bà Nguyễn Hoàng Thế Anh – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 265/2023/TLPT-DS ngày 27 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân TP Long Khánh, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 128/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Số nhà B tổ I, khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện hợp pháp của Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị Thu H: Ông Vũ Văn T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp B, xã B, thành phố L, Đồng Nai.

Bị đơn: Bà Lê Thị Tú T1, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Tổ 1, khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện hợp pháp của bà Lê Thị Tú T1: Ông Nguyễn Xuân D, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (Giấy ủy quyền ngày 20/12/2023)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1973;

Địa chỉ: Số nhà A, tổ I, khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị D1: ông Vũ Văn T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

2. Ông Mai Đức H1, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1964.

Địa chỉ: 3 khu phố P, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

3. Ông Phan Văn N, sinh năm 1958 và bà Hoàng Thị T3, sinh năm 1960.

Địa chỉ: Tổ 1, khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

4. Bà Lê Thị N1, sinh năm 1952.

5. Bà Lê Thị Ngọc T4, sinh năm 1970.

Cùng địa chỉ: Khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện hợp pháp của bà Lê Thị N1, bà Lê Thị Ngọc T4: ông Nguyễn Xuân D, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

(Giấy ủy quyền ngày 20/12/2023)

6. Ông Hoàng L, sinh năm 1988 và bà Hứa Thị Kim T5, sinh năm 1957.

Địa chỉ: Khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

(Ông T, ông D, bà T1, bà T4, bà N1 có mặt; ông N, bà T3, bà Kim A, ông H1, bà T5, ông L có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nội dung bản án sơ thẩm:

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, các bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Ngày 09/10/1994 nguyên đơn nhận chuyển nhượng của ông Mai Đức H1 diện tích đất ngang 15,5m dài 10,5m tại xã S, thị xã L (nay là phường S, thành phố L) với giá 15 chỉ vàng 24k, mua bằng giấy tay có bà Lê Thị N1, ông Võ Văn N2 và trưởng ấp ông Nguyễn Kim T6 ký làm chứng, xác nhận, tuy nhiên trong giấy tay sang nhượng đất chỉ ghi giá mua bán 05 chỉ vàng 24k, tứ cận thửa đất: Đông giáp bà Lê Thị N1, Tây giáp ông Trương Văn L1, Nam giáp ông Phan Văn N, Bắc giáp đường đi. Nguồn gốc diện tích đất này là của bà Lê Thị N1 chuyển nhượng lại cho ông H1, nhưng do thời điểm đó chưa ai đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không biết số tờ, số thửa. Đến năm 1999 nguyên đơn tiếp tục nhận chuyển nhượng của ông Phan Văn N diện tích đất ngang 13,5m dài 15m nối liền với phần đất đã mua của ông H1 với giá 15 chỉ vàng 24k, khi mua do đất cũng chưa có giấy tờ nên chỉ viết giấy tay. Tổng diện tích mà nguyên đơn đã nhận chuyển nhượng của ông H1, ông Nghĩa 1 khoảng 364m².

Khi nguyên đơn mua đất của ông H1 trên đất đã có sẵn căn nhà gỗ của gia đình ông H1 sử dụng và nguyên đơn ở đến năm 2003 thì xây dựng nhà cấp 4 giáp đất của gia đình bà N1. Đối với phần đất của bà N1 cũng xây dựng nhà giáp với đất của nguyên đơn. Năm 2001, nguyên đơn đã chuyển nhượng bằng giấy tay một phần cho ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị D1 diện tích ngang 5,5m, dài khoảng 26m và ông T2, bà D1 đã xây nhà ở ổn định đến nay.

Năm 2005 bà Lê Thị N1 là mẹ của bị đơn, bà Lê Thị Tú T1 đã đi đăng ký kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì kê khai luôn phần đất nguyên đơn đã mua của ông H1, ông N vào thửa đất của bà. Thời điểm kê khai bà N1 nói với nguyên đơn là bắt buộc phải kê khai luôn phần đất nguyên đơn vào thì mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi đã được cấp bà sẽ đưa giấy cho nguyên đơn làm thủ tục tách thửa. Tuy nhiên sau khi được cấp giấy thì bà N1 đã tặng cho lại con gái là Lê Thị Tú T1. Mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bà T1 cho mượn giấy để tách thửa nhưng bà T1 không đồng ý nên năm 2014, nguyên đơn đã gửi đơn đến UBND xã S yêu cầu giải quyết. Tại buổi làm việc, bị đơn bà T1 thừa nhận diện tích ngang 15,5m dài hết thửa đất thuộc một phần thửa 131, tờ bản đồ 49 xã S (nay là phường S), thành phố L là của nguyên đơn, đồng thời yêu cầu nguyên đơn hỗ trợ 20.000.000 đồng nhưng sau khi về nhà bà T1 lại không đưa giấy chứng nhận mà nói là đã đem đi thế chấp ngân hàng.

Phần đất mà nguyên đơn mua của ông H1, ông N đã được nguyên đơn sử dụng ổn định từ khi mua đến nay không ai tranh chấp. Hiện nay toàn bộ phần đất trên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung vào thửa 131, tờ bản đồ 49 bản đồ địa chính phường S của bà Lê Thị Tú T1 nhưng bà T1 không tạo điều kiện để nguyên đơn làm thủ tục tách thửa.

Nay nguyên đơn đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng diện tích 389,2m² đất, thuộc một phần thửa 131, tờ bản đồ 49 bản đồ địa chính phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai cho nguyên đơn theo Trích lục và đo vẽ bản đồ địa chính số 54 ngày 26/12/2022 của Văn phòng Đ1 chi nhánh L2.

Theo bản tự khai ngày 16/11/2022 bị đơn bà Lê Thị Tú T1 trình bày:

Nguồn gốc đất tranh chấp là của chị bà T1 đứng tên, hiện tại do bà T1 đứng tên. Theo yêu cầu của bà T1 nguyên đơn phải thương lượng với bà. Hiện tại bề ngang diện tích đất của nguyên đơn là 10,5m dài 15m, còn lại bao nhiêu phải trả lại cho bà. Nếu nguyên đơn muốn tách sổ phải cho bà 500.000.000 đồng, nếu không đồng ý thì bà sẽ trả cho nguyên đơn 01 tỷ và nguyên đơn phải dọn đi nơi khác, giao đất lại cho bà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía bị đơn là bà Lê Thị N1: không có lời khai.

Tại phiên tòa, bà Lê Thị Ngọc T4 trình bày: Nguồn gốc phần đất các bên đang tranh chấp là do Nông trường cao su cấp cho tôi, đến năm 2009 Ủy ban nhân dân tỉnh Đ hóa giá nhà cho công nhân cao su. Vào năm 2010 tôi đã kê khai đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng toàn bộ diện tích, tôi không nhớ diện tích bao nhiêu nhưng tôi có kê khai phần đất ông Phan Văn N chuyển nhượng cho nguyên đơn, lý do tôi kê khai luôn phần đất này là vì nguyên đơn nhờ tôi kê khai để được giảm tiền thuế theo diện công nhân cao su. Tôi không biết việc sang nhượng đất giữa ông Mai Văn H2 với nguyên đơn, sau khi xem xét giấy viết tay ngày 09/10/1994 tôi không biết có phải chữ ký của mẹ tôi, bà Lê Thị N1 hay không, tôi không viết hộ giấy sang nhượng này. Tôi biết mẹ tôi cho ông Mai Văn H2 ở nhờ từ rất lâu, sau đó gia đình nguyên đơn xây dựng nhà ở trên đất, tôi không nhớ năm nào nhưng gia đình tôi cũng không có ý kiến gì. Nay thửa đất trên tôi đã chuyển nhượng cho người khác, hiện tại em gái tôi là Lê Thị Tú T1 đứng tên nên tôi không có ý kiến gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị D1 do ông Vũ Văn T làm đại diện trình bày: năm 2001 ông bà nhận chuyển nhượng lại của nguyên đơn diện tích đất phía trước ngang 5,5m, phía sau 05m dài 26m thuộc 01 phần thửa đất số 131, tờ bản đồ 49 phường S, thành phố long K. Nguồn gốc thửa đất là do nguyên đơn mua của ông Mai Văn H2 và Phan Văn N. Khi mua chỉ mua miệng do phần đất của nguyên đơn vẫn còn nằm chung trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn bà Lê Thị Tú T1. Nguyên đơn có cam kết khi nào tách sổ sẽ làm thủ tục tách cho ông bà. Nay nguyên đơn khởi kiện ông bà không có yêu cầu gì, hoàn toàn đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Đức H1, bà Nguyễn Thị Kim A trình bày: ông bà có sang nhượng cho nguyên đơn diện tích đất như nguyên đơn trình bày là đúng. Nguồn gốc diện tích đất trên là do ông bà mua của bà Lê Thị N1 vào năm 1985 có chiều ngang mặt đường đất (đường số C hiện nay) là 15,5m; rộng 10,5m. Thời điểm mua do Nông trường cao su mới tạm giao đất cho bà N1 chứ Nhà nước chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi ông bà mua đất giữa hai bên không thỏa thuận cụ thể về giá cả mà ông bà chỉ trả tiền dần bằng cách đưa tiền cho bà N1 đi chợ hoặc khi bà cần giải quyết công việc. Sau khi mua đất ông bà dựng 01 căn nhà gỗ để ở. Đến năm 1994 ông bà sang nhượng lại cả nhà và đất cho nguyên đơn, chính con gái bà N1 là Lê Thị Ngọc T4 viết giúp giấy tay sang nhượng đất vào ngày 09/10/1994, bà N1 là người làm chứng cùng ông Võ Văn N2, trưởng ấp N. Hiện nay ông T6 đã chết, chỉ còn ông N2 nhưng cũng bị tai biến không đi lại được.

Ông bà xác định bán đất cho nguyên đơn với giá 15 chỉ vàng 24k nhưng do lúc đó bà N1 đòi ông bà phải trả thêm 05 chỉ vàng mới đồng ý ký vào giấy mua bán cho nguyên đơn, nên ông bà mới viết giấy ghi giá chuyển nhượng là 05 chỉ vàng, sau đó ông bà có năn nỉ và trả thêm cho bà N1 03 chỉ vàng 24k. Ông bà đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có ý kiến gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn N, bà Hoàng Thị T3 trình bày: Năm 1999 ông bà có cắt phần đuôi đất khoảng 15m để chuyển nhượng cho nguyên đơn. Ông Nghĩa là người viết giấy sang nhượng đất ngày 24/4/999. Phần đất ông bà bán cho ông C không liên quan gì đến phần đất bà N1. Nguyên đơn đã trả tiền đủ và ông bà xây tường làm ranh giữa hai bên. Ông N xác định được phần đất ông chuyển nhượng cho ông C, bà H là phần cuối căn nhà của ông, có chiều ngang bằng với hiện trạng căn nhà ông đang sử dụng là khoảng 14,5m, dài khỏang 13,5m, có tứ cận Đông giáp thửa 128, 129, 130; Tây giáp phần đất còn lại của ông N; Bắc giáp thửa 101, 133; Nam giáp phần đất ông C mua của ông H1. Thời điểm mua bán ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông bà không có tranh chấp gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng L, bà Hứa Thị Kim T5 trình bày: Nguồn gốc thửa đất các đương sự đang tranh chấp là do bà Hứa Thị Kim T5 nhận sang nhượng của bà Lê Thị Ngọc T4, chị ruột bà Lê Thị Tú T1 vào tháng 6/2012, khi đó là thửa đất số 902, tờ bản đồ 08 xã S (là thửa 131, tờ bản đồ 49 hiện nay). Khi sang nhượng hai bên thỏa thuận chỉ mua căn nhà của gia đình bà T4 đang ở. Bà T5 không nhớ phía sau là nhà của ai vì thời gian đã lâu nhưng bà xác định không mua phần diện tích phía sau căn nhà. Sau khi mua do bà T4 nói cho bà ở nhờ một thời gian nên bà T5 chưa nhận nhà. Đến tháng 10/2012 bà T5 sang nhượng lại cho bà Lê Thị Tú T1, có thỏa thuận bà T1 chịu trách nhiệm sang tên tách thửa cho những người ở phía sau, còn bà T5 không liên quan. Việc sang nhượng đất chỉ do một mình bà T5 thực hiện với bà T4, sau đó là bà T1. Còn con trai bà là Hoàng L không liên quan mà do bà cho đứng tên chung trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc tranh chấp giữa các bên bà T5, ông L không có ý kiến vì không liên quan.

Người làm chứng ông Nguyễn Văn C1 trình bày: Ông là hàng xóm của nguyên đơn và bị đơn cũng như bà Lê Thị N1, mẹ bị đơn. Vì ông là dân địa phương, sinh sống ở khu phố N, phường S từ khi mới sinh ra (năm 1964) nên biết nguồn gốc thửa đất các bên tranh chấp là của gia đình bà Lê Thị N1, sau đó bà N1 bán cho ông Mai Đức Huỳnh p đất phía sau, bán lúc nào thì ông không nhớ, vợ ông H1 là bà con của bà N1. Ông không biết các bên mua bán giá cả thế nào nhưng thấy gia đình ông Huỳnh d 01 căn nhà gỗ để ở và sau đó bán lại cho nguyên đơn. Ông biết nguyên đơn đã ở trên thửa đất này từ năm 1994. Ông cũng không biết diện tích đất ông H1 bán cho nguyên đơn bao nhiêu, chỉ biết mặt tiền đất nhà nguyên đơn theo đường số 3 hiện nay (lúc trước là đường đất) giống như trước đây không thay đổi, sau đó nguyên đơn mua thêm đất của ông Phan Văn N để nối với diện tích đất đã mua của ông Mai Văn H2.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị N3 trình bày: Bà là hàng xóm của nguyên đơn và gia đình bà Lê Thị N1, bà không biết bà N1 bán đất cho ông Mai Văn H2 như thế nào nhưng biết gia đình ông H2 đã ở trên thửa đất này rất lâu, bà có biết việc ông Huỳnh b lại đất cho nguyên đơn và nguyên đơn đã sử dụng đến nay, bà không biết nguyên đơn mua đất của ông Phan Văn N. Bà không biết việc chồng bà là ông Võ Văn N2 ký làm chứng vào giấy sang nhượng đất ngày 09/10/1994 nhưng sau khi được Tòa án cho xem thì bà xác nhận đúng là chữ ký của ông N2, hiện nay ông N2 đã bị tai biến nên không thể làm việc được với Tòa án.

Người làm chứng ông Võ Trung Đ trình bày: Ông là hàng xóm của nguyên đơn và bà Lê Thị N1. Từ lúc còn nhỏ ông đã hay qua nhà ông H2, là thửa đất hiện nay nguyên đơn đang ở. Sau đó ông biết ông Huỳnh b lại đất cho nguyên đơn. Trước đây nhà ông H2 bằng gỗ, chiều rộng mặt trước nhà cũng giống như hiện nay, không có gì thay đổi, ông cũng có nghe nói nguyên đơn có mua them đất của ông Phan Văn N tiếp giáp với phần đất đã mua của ông H2.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2023/DS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân TP Long Khánh, tỉnh Đồng Nai quyết định:

- Căn cứ các điều 26, 35, 157, 165, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Các điều 13, 176, 690, 705 của Bộ luật dân sự 1995; các điều 688, 689, 691 của Bộ luật dân sự năm 2005; các điều 129, 688 của Bộ luật dân sự 2015; các điều 95, 166, 171 và 203 của Luật Đất đai năm 2013;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Thu H về tranh chấp quyền sử dụng đất.

1. Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Thu H diện tích 349,6m² trong đó có diện tích đất thổ cư là 186,7m², đất trồng cây lâu năm 162,9m², thuộc thửa đất số 131, tờ bản đồ 49 bản đồ địa chính phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, được giới hạn bởi các điểm (C, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, D, C) theo Trích vẽ bổ sung số 2584 ngày 21/8/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ1 – Chi nhánh L2.

2. Buộc bị đơn bà Lê Thị Tú T1 có nghĩa vụ giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 180302 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp cho bị đơn Lê Thị Tú T1 ngày 27/11/2015 cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Thu H để thực hiện thụ tục tách thửa, đăng ký chuyển quyền sử dụng đất đối với phần đất được công nhận.

Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký tách thửa theo quy định.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, trách nhiệm thi hành án, quyền yêu cầu và thời hiệu thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 05/10/2023 bà T1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án vì cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên, đề nghị HĐXX phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà T1 đề nghị hủy án sơ thẩm vì vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, áp dụng sai lầm về đường lối khi không tuân thủ quy định về tách thửa đất tại địa phương. Trường hợp nguyên đơn muốn lấy toàn bộ đất thì phải thanh toán lại cho bà T1 giá trị diện tích đất được giới hạn bởi các điểm (A, 19, D, 9, 8, 7, 6, 5, 21, c, 20, B) tức là phần đất ngang 5m, dài hết đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm bà T4 trình bày: Nguồn gốc diện tích thửa 131 tờ 49 (thửa cũ 902 tờ bản đồ số 8) phường S, TP L, tỉnh Đồng Nai là do bà T4 và bà N1 được mua nhà đất theo Nghị định 61/CP, bà N1 đồng ý giao cho bà T4 được đứng tên được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bà T4 được cấp theo Quyết định 823 ngày 21/3/2003 của U. Việc ông C, ông Huỳnh c đất của bà N1 là trái quy định của pháp luật. Tôi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB890848 ngày 16/10/2010, sau đó tôi bán cho ông L bà T5, tới năm 2012 bà T1 mua lại của ông L, bà T5 thửa đất trên. Chữ viết trong “Giấy sang nhượng đất” ngày 09/10/1994 không phải chữ viết của bà T4. Bà T4 đồng ý hủy án như bà T1 trình bày.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà N1 thống nhất ý kiến bà T4.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về thủ tục tố tụng: Cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng và đầy đủ.

Về đường lối giải quyết vụ án: Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ. Việc kháng cáo của bà Lê Thị Tú T1 là không có căn cứ pháp luật. Đề nghị cấp phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của bà T1 làm trong hạn luật định, đóng tạm ứng án phí đúng quy định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Cấp sơ thẩm đã xác định đúng và đầy đủ tư cách tố tụng.

Ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Thu H, ông T2, bà D1 ủy quyền tham gia tố tụng cho ông Vũ Văn T. Bà Lê Thị Tú T1, bà Lê Thị Ngọc T4, bà Lê Thị N1 ủy quyền cho ông Vũ Xuân D2. Xét việc ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là tự nguyện, quyền và lợi ích hợp pháp không bị đối lập trong cùng vụ án nên chấp nhận.

Bà Hứa Thị Kim T5, anh Hoàng L có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; Ông Mai Đức H1, bà Nguyễn Thị Kim A, ông Phan Văn N, bà Hoàng Thị T3, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người này là phù hợp.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách đương sự: cấp sơ thẩm đã xác định đúng và đầy đủ.

[2] Về nội dung vụ án:

Nguồn gốc thửa đất 131, tờ bản đồ 49 phường S là của Nông trường cao su cho bà Lê Thị N1 và con gái Lê Thị Ngọc T4 là công nhân cao su thuê, đến năm 2009 Ủy ban nhân dân tỉnh Đ có quyết định phê duyệt giá bán nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước cho người đang thuê là bà Lê Thị Ngọc T4, nhưng trong đó có phần miễn giảm tiền nhà ở cho hai người là bà Lê Thị Ngọc T4, Lê Thị N1, được chứng minh tại Phiếu thẩm định hồ sơ bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo Nghị định 61/CP ngày 29/6/2009. Ngày 16/10/2010 UBND thị xã L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 890848 cho bà T4 với diện tích 650m² (trong đó được cấp 521,7m²; không được cấp 128,3m²) tại thửa 902, tờ bản đồ 08 bản đồ địa chính xã S, thị xã L. Ngày 05/6/2012 bà Lê Thị Ngọc T4 chuyển nhượng cho ông Hoàng L, bà Hứa Thị Kim T5, đến ngày 24/10/2012 ông L, bà T5 đã chuyển nhượng lại cho bị đơn bà Lê Thị Tú T1.

Ông C, bà H khai vào năm 1994 có nhận chuyển nhượng của ông Mai Văn H2 diện tích ngang 15,5m dài 10,5m; nguồn gốc đất của ông Huỳnh m lại của bà Lê Thị N1 vào năm 1984. Đến năm 1999 mua tiếp của ông Phan Văn N diện tích khoảng 13,5m x 15m nối với phần đất mua của ông H2. Nguyên đơn cung cấp chứng cứ chứng minh là các giấy viết tay sang nhượng đất ngày 09/10/1994 và ngày 24/4/1999. Bà Lê Thị N1 không đến Tòa án sơ thẩm làm việc nên không có căn cứ xác định chữ ký người làm chứng mang tên Lê Thị N1 là của bà, tại phiên tòa phúc thẩm bà N1 và bà T4 trình bày chữ kí và chữ viết trong các Giấy sang nhượng đất không phải là của bà T4 và bà N1 nhưng không có yêu cầu gì. Lời khai và chứng cứ nguyên đơn đưa ra là có căn cứ, được ông Mai Văn H2, ông Phan Văn N thừa nhận, phù hợp với lời khai của những người làm chứng là hàng xóm của hai bên đương sự nên có căn cứ xác định: năm 1984 ông H2 đã mua của bà N1 diện tích đất bằng với diện tích đã chuyển nhượng cho nguyên đơn, người làm chứng là những người hàng xóm của hai bên đương sự đều khẳng định gia đình ông H2 đã ở trên thửa đất từ năm 1984 và sau đó bán lại cho nguyên đơn.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cho rằng chỉ cho nhà ông Mai Văn H2 ở nhờ, không có việc mua bán và có yêu cầu đối chất với ông H2 nhưng Tòa án triệu tập để đối chất thì bị đơn không có mặt. Theo các tài liệu chứng cứ thể hiện năm 2010 bà Lê Thị Ngọc T4 là người được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không phải bà Lê Thị N1. Tuy nhiên, việc sang nhượng đất giữa bà N1 với ông Mai Văn H2 đã thực hiện từ năm 1984, trước khi thửa đất được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, sau đó ông H2 chuyển nhượng lại cho nguyên đơn ở ổn định đến nay, các con của bà N1 không ai tranh chấp hay khiếu nại, thắc mắc gì. Như vậy, chứng minh được thực tế phần đất của ông H2 bán cho nguyên đơn là ông H2 đã mua của gia đình bị đơn, không phải ở nhờ như trình bày của bị đơn.

Tại bản tường trình ngày 16/11/2022 của bị đơn Lê Thị Tú T1 cũng thừa nhận: “………Hiện tại yêu cầu bề ngang mặt tiền nhà ông 10,05m bề dài 15m; còn bao nhiêu dư đất phải trả lại cho tôi...còn phần đất nhà ông N liền với sổ của tôi, tôi không tranh chấp”. Tại biên bản hòa giải ngày 17/10/2014 của UBND xã S thể hiện bị đơn thừa nhận có chuyển nhượng diện tích 15,5m x 10,5m là dư 0,5m x 10,5m so với thực tế, khi chuyển nhượng phần đất này gia đình ông C phải tính toán hợp lý, trả cho bà T1 khoản tiền hợp lý khi đóng thuế là quyền sử dụng đất; Tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 13/12/2022, bà T1 cũng chỉ ranh mốc phần đất của nguyên đơn đã mua của ông H2 là hiện trạng đất trừ đi 05m ngang tính từ ranh giáp với căn nhà của bị đơn theo mặt đường số C. Nguyên đơn cho rằng diện tích đất mua của ông Mai Văn H2 là ngang 15,5m tính theo mặt đường số 3 hiện nay, theo nội dung giấy sang nhượng đất ngày 09/10/1994 giữa nguyên đơn với ông Mai Văn H2 thể hiện ông H2 bán cho ông C 01 căn nhà, diện tích đất gồm dài 15,5m x rộng 10,5m là 162m², tứ cận: Đông giáp bà Lê Thị N1, T7 giáp Trương Văn L1, Nam giáp Phan Văn N, Bắc giáp đường đi. Quá trình làm việc tại Tòa án, ông H2 thừa nhận ông chuyển nhượng cho ông C 15,5m đất ở phía mặt tiền giáp với đường số 3 hiện nay, những người làm chứng cũng khẳng định hiện trạng nhà ông H2 ở lúc trước và nhà nguyên đơn ở hiện nay không thay đổi. Điều này phù hợp với các số liệu đo đạc tại Trích lục và đo vẽ bản đồ địa chính số 54 ngày 26/12/2022, cụ thể: chiều dài thửa đất cặp theo ranh nhà bị đơn đến giáp góc nhà ông Phan Văn N (từ mốc 20 đến mốc 6) là 12,60m; chiều dài thửa đất ở mặt tiền giáp đường số 3 (từ mốc 18 đến mốc 20) là 15,80m. Do đó, việc bị đơn cho rằng chiều ngang 10,5m trong giấy mua bán được tính từ mốc số 18 đến mốc 19 (cặp theo mặt tiền đường số C) theo Trích lục đo vẽ trên nên nguyên đơn phải trả lại cho bị đơn 05m ngang đất dư là không phù hợp và nếu tính theo bị đơn lấy chiều dài 15,5m là phía cặp theo ranh đất nhà bị đơn thì không đúng với số liệu đo đạc mà sẽ bị lấn qua phần đất nguyên đơn mua của ông Phan Văn N.

Tại phiên tòa, bị đơn thừa nhận gia đình nguyên đơn đã xây dựng nhà kiên cố, ở ổn định từ rất lâu nhưng gia đình bị đơn không có ý kiến gì, bị đơn chị T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Ngọc T4 cũng thừa nhận việc sang nhượng đất giữa ông Mai Văn H2 với nguyên đơn, các chị không có ý kiến gì nhưng yêu cầu được tính chiều ngang 10,5m theo giấy sang nhượng ngày 09/10/1994 là tính theo mặt đường số 3 hiện nay, phần còn lại trả cho bị đơn nhưng không có chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ.

Xét các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Mai Văn H2, ông Phan Văn N với nguyên đơn: việc chuyển nhượng giữa các bên hoàn toàn tự nguyện, bên mua đã giao đủ tiền và nhận đủ diện tích đất, đã làm nhà ở kiên cố và sử dụng ổn định cho đến nay, hiện nay giữa người mua và người bán không có tranh chấp nên căn cứ hướng dẫn tại mục 2.3 phần II Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 01/8/2004 cũng như quy định tại Điều 129 của Bộ luật dân sự năm 2015; ông Mai Văn H2, ông Phan Văn N cũng thừa nhận có chuyển nhượng như lời trình bày của nguyên đơn và hiện nay không tranh chấp gì nên công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Thu H với vợ chồng ông Mai Văn H2, vợ chồng ông Phan Văn N. Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn thừa nhận không tranh chấp phần diện tích đất nguyên đơn nhận chuyển nhượng của ông N.

Nguyên đơn yêu cầu Tòa án công nhận diện tích 389,2m² đất, thuộc 01 phần thửa đất số 131, tờ bản đồ 49 bản đồ địa chính phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Toàn bộ diện tích đất trên thuộc 01 phần của diện tích 666,0m² đất tại thửa 131, tờ bản đồ 49 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 180302 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp cho bị đơn Lê Thị Tú T1 ngày 27/11/2015. Từ những phân tích trên thấy rằng, phần đất nguyên đơn đang tranh chấp với bị đơn là của nguyên đơn, có được từ việc nhận chuyển nhượng của ông Mai Văn H2, Phan Văn N, sử dụng ổn định từ năm 1994 đến nay không ai tranh chấp nhưng bị đơn đã kê khai để cấp giấy chung vào thửa đất của bị đơn sau đó không tạo điều kiện để nguyên đơn tách thửa, thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là không phù hợp quy định pháp luật.

Tại Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất số 54 ngày 26/12/2022 và Trích đo vẽ bổ sung số 2584 ngày 21/8/2023 thể hiện, trong diện tích 389,2m² nguyên đơn yêu cầu công nhận quyền sử dụng có 37,6m² đất không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời, phần giới hạn bởi các điểm 5,6,20,21,5 theo Trích lục số 54 ngày 26/12/2022 có diện tích 02m² chưa tạo thành 01 đường thẳng nối với đất nguyên đơn mua của ông N nên chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận quyền sử dụng phần diện tích còn lại là 389,2m² – 37,6m² – 02m² = 349,6m². Sau khi trừ đi diện tích công nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn thì phần đất còn lại của bị đơn là 278,8m², trong đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 215,3m², không được cấp giấy 63,5m².

Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 180302 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp cho bị đơn Lê Thị Tú T1 ngày 27/11/2015 có diện tích đất ở tại nông thôn 400m², đất trồng cây lâu năm 164,9m². Tại thời điểm chuyển nhượng đất các bên không thỏa thuận chuyển nhượng đất thổ cư hay đất trồng cây lâu năm do đất chưa được cấp giấy. Tại phiên tòa nguyên đơn có ý kiến đối với diện tích đất của bị đơn, sau khi trừ đi phần đất không được cấp giấy thì nguyên đơn đồng ý toàn bộ diện tích đất của bị đơn là thổ cư, phần thổ cư còn lại theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn. Xét đề nghị này phù hợp với mục đích sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 180302 ngày 27/11/2015 của bị đơn và có lợi cho bị đơn nên chấp nhận, công nhận quyền sử dụng cho nguyên đơn diện tích 349,6m² trong đó có diện tích đất thổ cư là 400m² – 215,3m² = 186,7m² đất thổ cư, phần còn lại là đất trồng cây lâu năm. Đối với lời trình bày của bị đơn về số tiền bị đơn đóng để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ cấp sơ thẩm bị đơn không yêu cầu và không chứng minh một số tiền cụ thể, không nộp chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình nên không có căn cứ xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn yêu cầu nếu nguyên đơn muốn nhận đất phải trả cho bị đơn giá trị đất như chứng thư thẩm định giá, bị đơn không tranh chấp phần đất nguyên đơn mua của ông N. Quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm bị đơn không có yêu cầu phản tố, không trình bày yêu cầu và nay lại thay đổi lời khai nhưng không có chứng cứ hay nộp thêm chứng cứ gì mới nên không có căn cứ chấp nhận.

[3] Bà T1 kháng cáo nhưng tại cấp phúc thẩm không cung cấp giấy tờ, tài liệu, chứng cứ gì mới chứng minh cho yêu cầu và lời trình bày của mình, xét bản án sơ thẩm đã xem xét toàn bộ nội dung vụ án phù hợp với quy định của pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Án phí: Bị đơn kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí DSPT là 300.000đ được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị y án sơ thẩm phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Tú T1;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2023/DS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân TP Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ các điều 26, 35, 157, 165, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các điều 13, 176, 690, 705 của Bộ luật dân sự 1995; các điều 688, 689, 691 của Bộ luật dân sự năm 2005; các điều 129, 688 của Bộ luật dân sự 2015; các điều 95, 166, 171 và 203 của Luật Đất đai năm 2013;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Thu H về tranh chấp quyền sử dụng đất.

1. Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Thu H diện tích 349,6m² trong đó có diện tích đất thổ cư là 186,7m², đất trồng cây lâu năm 162,9m², thuộc thửa đất số 131, tờ bản đồ 49 bản đồ địa chính phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, được giới hạn bởi các điểm (C, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, D, C) theo Trích vẽ bổ sung số 2584 ngày 21/8/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ1 – Chi nhánh L2.

2. Buộc bị đơn bà Lê Thị Tú T1 có nghĩa vụ giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 180302 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp cho bị đơn Lê Thị Tú T1 ngày 27/11/2015 cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Thu H để thực hiện thụ tục tách thửa, đăng ký chuyển quyền sử dụng đất đối với phần đất được công nhận.

Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký tách thửa theo quy định.

3. Về chi phí tố tụng: Đã giải quyết xong.

4. Về án phí:

Án phí DSST: Bà Lê Thị Tú T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị Thu H số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005784 ngày 29/6/2022 của Chi cục Thi hành án thành phố Long Khánh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung).

Án phí DSPT: Bà Lê Thị Tú T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 8315 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND H;
  • - VKSND T. Đồng Nai;
  • - CCTHADS H;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Thị Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/DS-PT ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 123/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BĐ kháng cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger