TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 123/2023/HC-ST Ngày: 16-11-2023 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Tương
Ông Đào Văn Sáng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 113/2023/TLST-HC ngày 18 tháng 7 năm 2023, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2023/QĐXXST-HC ngày 30 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1982
Địa chỉ: Thôn I Đ, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam.
Địa chỉ liên hệ: Xóm B, thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Kim H1, sinh năm 1998; Địa chỉ: Tổ B, thôn N, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Tấn T1 – Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Phan Thiết
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tấn T1 – Phó Giám đốc Chi nhánh
2
Văn phòng Đ.
- Ủy ban nhân dân thành phố P
Tại phiên toà, vắng mặt tất cả các đương sự. Bà Lê Thị Kim H1, ông Nguyễn Anh T, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân P có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Kim H1 là người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện trình bày:
Ngày 18/9/2020, ông Nguyễn Văn H nhận chuyển nhượng của ông Đặng Văn S thửa đất số 1196, tờ bản đồ số 9, diện tích 156,3m² (trong đó: đất ở nông thôn là 100,3m²; đất trồng cây lâu năm là 56m²) tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 749863 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 09/10/2018, cập nhật biến động ngày 06/3/2019 và ngày 20/3/2019. Việc chuyển nhượng được xác lập theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C chứng nhận số 03413, quyền số 04TP/CC-SCC/HĐGD với giá chuyển nhượng là 400.000.000 đồng.
Sau khi hoàn tất việc ký kết Hợp đồng chuyển nhượng tại tổ chức hành nghề công chứng, ông Nguyễn Văn H đã liên hệ Chi nhánh Văn phòng Đ để nộp hồ sơ đăng ký cập nhật biến động sang tên theo Biên nhận số 2022-22777/TNHS. Tuy nhiên, Chi nhánh Văn phòng Đ đã ban hành Thông báo số 1869/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/11/2022 về việc hoàn trả hồ sơ, từ chối cập nhật biến động nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông H. Nên nay, ông Nguyễn Văn H khởi kiện ra Tòa án yêu cầu:
- Hủy Thông báo số 1869/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ.
- Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện cập nhật biến động sang tên chủ sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn H đối với tài sản là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 749863 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 09/10/2018, cập nhật biến động ngày 06/3/2019 và ngày 20/3/2019.
Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận có ý kiến tại Văn bản số 1987/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 22/8/2023 như sau:
Ngày 07/11/2022, ông Nguyễn Văn H nộp hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Giấy chứng nhận số CO 749863 do Sở Tài nguyên và Môi trường
3
tỉnh Bình Thuận cấp ngày 09/10/2018, cập nhật biến động ngày 06/3/2019 và ngày 20/3/2019. Qua thẩm tra hồ sơ, xét thấy phần diện tích 100,3 m² đất ở tại nông thôn có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất không phù hợp quy hoạch theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Đối với nội dung vướng mắc nêu trên, Ủy ban nhân dân thành phố P đã có Báo cáo số 275/BC-UBND ngày 04/8/2020 báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận về tình hình thực hiện và khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng; đến nay vẫn chưa có ý kiến chỉ đạo thực hiện. Do đó, ngày 21/11/2022, Chi nhánh Văn phòng Đ đã ban hành Thông báo số 1869/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H.
Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận xét thấy việc Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1869/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/11/2022 về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H gửi ông Nguyễn Văn H được biết việc sai sót trong quá trình giải quyết hồ sơ chuyển mục đích trước đây và tạm dừng giải quyết hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H là có cơ sở. Sau khi Ủy ban nhân dân thành phố P xử lý xong việc sai sót nêu trên thì Chi nhánh Văn phòng Đ sẽ thông báo đến ông Nguyễn Văn H2 nộp lại hồ sơ và giải quyết theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ có ý kiến tại văn bản số 7543/CNVPĐKĐĐPT ngày 18/8/2023 như sau:
Ngày 07/11/2022, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H, biên nhận số 2022-22777/TNHS, đối với thửa đất số 1196, tờ bản đồ số 9, diện tích 156,3m² gồm 100,3m² đất ở nông thôn và 56m² đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 749863 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 09/10/2018, cập nhật biến động ngày 06/3/2019 và ngày 20/3/2019.
Tuy nhiên, qua kiểm tra lại hồ sơ thì Giấy chứng nhận số CO 749863 có nguồn gốc từ chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 4399/QĐ-UBND ngày 19/7/2017 của Ủy ban nhân dân thành phố P, về việc cho phép bà Huỳnh Ngọc Hoàng K được chuyển mục đích sử dụng đất. Qua kiểm tra Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận thì
4
vị trí xin chuyển mục đích sử dụng đất nằm trong quy hoạch đất không phù hợp quy hoạch sử dụng đất.
Do đó, Chi nhánh Văn phòng thực hiện theo nội dung chỉ đạo tại Thông báo số 387/TB-UBND ngày 02/7/2020 của Ủy ban nhân dân thành phố P, Chi nhánh Văn phòng đã có Công văn số 4046/CNVPĐKĐĐPT ngày 20/7/2020, về việc xin ý kiến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh, liên quan đến đất chuyển mục đích trước đây chưa đảm bảo theo quy định. Đến ngày 03/9/2020 Chi nhánh Văn phòng nhận được văn bản phúc đáp của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 có ý kiến như sau: “Liên quan đến nội dung vướng mắc của Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân thành phố P đã có Báo cáo số 275/BC-UBND ngày 04/8/2020 báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh V tình hình thực hiện và khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng theo Kết luận Thanh tra số 1696/KL-UBND ngày 16/5/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Sau khi Ủy ban nhân dân tỉnh C1 ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc theo đề xuất của Ủy ban nhân dân thành phố P thì thực hiện theo chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh.”
Như vậy, căn cứ Công văn số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh, hiện nay vẫn chưa có ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ chuyển quyền nhưng thửa đất đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 21/11/2022 Chi nhánh Văn phòng đã ban hành Công văn số 1869/TB-CNVPĐKĐĐPT, về việc hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân thành phố P không có văn bản trình bày ý kiến.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Đặng Văn S không có văn bản trình bày ý kiến.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H:
- Hủy Thông báo số 1869/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H.
5
- Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận và Chi nhánh văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật.
- Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận chịu án phí theo đúng quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận, Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân thành phố P, người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện nhưng tất cả đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ Điều 157, Điều 158 và Điều 168 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng quy định.
Đối với ông Đặng Hoài S1, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; tuy nhiên căn cứ vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng số 03413 ngày 18/9/2020 tại Văn phòng C, giữa ông Đặng Hoài S1 với Nguyễn Văn H và đối tượng bị khởi kiện trong vụ án này thì Hội đồng xét xử nhận thấy ông Đặng Hoài S1 không phải là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án nên không cần đưa ông S1 vào tham gia tố tụng tại phiên tòa.
[2] Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết: Người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hủy Thông báo số 1869/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ về việc hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H; Xét thấy Thông báo số 1869/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ có nội dung dừng giải quyết và trả hồ sơ nhận chuyển nhượng đất của ông H, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của đương sự nên được xác định là quyết định hành chính bị kiện. Như vậy đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính. Theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật tố tụng hành chính thì khiếu kiện trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
[3] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 21/11/2022, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1869/TB-CNVPĐKĐĐPT. Ngày 30/12/2022, ông H khởi kiện đối với thông báo trên là còn thời hiệu theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
6
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 749863 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 09/10/2018, cập nhật biến động ngày 06/3/2019 và ngày 20/3/2019 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Đặng Hoài S1.
Ngày 18/9/2020, ông Đặng Hoài S1 đã ký hợp đồng chuyển nhượng thừa đất nêu trên cho ông H. Việc chuyển nhượng được các bên thực hiện đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, ông H đã kê khai đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai và nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng Đ để thực hiện thủ tục đăng ký cập nhật biến động thừa đất nêu trên. Ngày 21/11/2022, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1869/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc thông báo hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H, trong đó có nội dung tạm ngưng việc giải quyết hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên với lý do có một phần diện tích là 100,3m² có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Xét thấy, trong quá trình thực hiện thủ tục hành chính về cấp mới, cấp đổi và chuyển quyền sử dụng đất thì ngày 20/7/2020, Chi nhánh Văn phòng Đ đã ban hành Văn bản số 4046/CNVPĐKĐĐPT báo cáo về sai sót trong việc cho chuyển mục đích đất ở trên địa bàn thành phố P không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất tại quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận, kèm theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 nhưng đến nay Ủy ban nhân dân thành phố P vẫn không có ý kiến về việc xử lý các sai sót trong việc cho chuyển mục đích đất ở mà Chi nhánh Văn phòng Đ đã kiến nghị.
Theo quy định tại Điều 106 Luật đất đai năm 2013, quy định về đính chính, thu hồi giấy chứng nhận đã cấp như sau:
- Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:
- Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;
- Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.
- Nhà nước thu hồi giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:
- Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;
7
- Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;
- Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
- Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.
- Khoản 1 Điều 167 và khoản 1 Điều 168 Luật đất đai, quy định: Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất, ... khi có giấy chứng nhận...; Trường hợp người sử dụng đất được chậm thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc được ghi nợ nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện xong nghĩa vụ tài chính trước khi thực hiện các quyền.
- Khoản 1 Điều 188 Luật đất đai, quy định người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
- Có giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
- Đất không có tranh chấp;
- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
- Trong thời hạn sử dụng đất.
- Khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung điểm b và điểm c khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014 như sau:
- Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hiện giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì kiểm tra lại, thông báo cho người sử dụng đất biết rõ lý do và quyết định thu hồi giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định;
- Trường hợp người sử dụng đất phát hiện giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai thì gửi kiến nghị bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng
8
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có trách nhiệm kiểm tra, xem xét quyết định thu hồi giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai.
Căn cứ vào các quy định pháp luật viện dẫn nêu trên, thấy rằng: ông H thực hiện quyền nhận chuyển nhượng thửa đất số 1196, diện tích 156,3m² đất nêu trên là đúng quy định tại khoản 1 Điều 167, khoản 1 Điều 168, điểm b khoản 1 Điều 169, khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013. Hơn nữa, việc nhận chuyển nhượng thửa đất nêu trên không làm thay đổi hiện trạng, diện tích, mục đích sử dụng đất. Do đó, việc Chi nhánh Văn phòng Đ là cơ quan trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận không thực hiện thủ tục hành chính giải quyết hồ sơ nhận chuyển nhượng thửa đất số 1196, diện tích 156,3m² của ông H là trái quy định pháp luật. Đồng thời, ban hành Thông báo số 1869/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/11/2022 về việc thông báo hoàn trả hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H là không có căn cứ pháp luật và đã ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của những người nhận chuyển nhượng đối với thửa đất nêu trên nên cần tuyên hủy là phù hợp.
Từ nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, Điều 157, 158, 168, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;
Khoản 7 Điều 22, điểm c khoản 1 Điều 99, Điều 106, khoản 1 Điều 167, khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 188 Luật đất đai; Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Nguyễn Văn H.
- Hủy Thông báo số 1869/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ.
- Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận và Chi nhánh Văn phòng Đ
9
thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
2/ Về án phí hành chính sơ thẩm:
Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn H 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0020029 ngày 17/7/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Minh Tuấn |
Bản án số 123/2023/HC-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 123/2023/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 18/9/2020, ông Nguyễn Văn H nhận chuyển nhượng của ông Đặng Văn S thửa đất số 1196, tờ bản đồ số 9, diện tích 156,3m2 (trong đó: đất ở nông thôn là 100,3m2; đất trồng cây lâu năm là 56m2) tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 749863 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 09/10/2018, cập nhật biến động ngày 06/3/2019 và ngày 20/3/2019. Việc chuyển nhượng được xác lập theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C chứng nhận số 03413, quyển số 04TP/CC-SCC/HĐGD với giá chuyển nhượng là 400.000.000 đồng. Sau khi hoàn tất việc ký kết Hợp đồng chuyển nhượng tại tổ chức hành nghề công chứng, ông Nguyễn Văn H đã liên hệ Chi nhánh Văn phòng Đ để nộp hồ sơ đăng ký cập nhật biến động sang tên theo Biên nhận số 2022-22777/TNHS. Tuy nhiên, Chi nhánh Văn phòng Đ đã ban hành Thông báo số 1869/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/11/2022 về việc hoàn trả hồ sơ, từ chối cập nhật biến động nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông H. Nên nay, ông Nguyễn Văn H khởi kiện ra Tòa án yêu cầu: - Hủy Thông báo số 1869/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 21/11/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố Đ. - Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện cập nhật biến động sang tên chủ sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn H đối với tài sản là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 749863 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 09/10/2018, cập nhật biến động ngày 06/3/2019 và ngày 20/3/2019.
