Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122A/2024/HS -ST
Ngày: 10.12. 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Trung Thành
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thi
  • Bà Trần Thị Huệ
  • - Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Bích Loan, Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 97/2024/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST HS ngày 14/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/HSST-QĐ ngày 25/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/HSST-QĐ ngày 08/11/2024, đối với các bị cáo:

  1. Hạ Thị N, sinh năm 2002; Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa lớp 09/12. Con ông: Hạ Văn T; Con bà: Nguyễn Hiền N1; Chồng: Khổng Văn M, sinh năm 1993; Có 03 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021.

    Tiền án, tiền sự: Không

    Nhân thân: Ngày 15/07/2024, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 06 tháng tù giam về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngày 07/10/2024 chấp hành xong hình phạt tù; Tạm giam 21/12/2023 đến 30/12/2023. Có mặt tại phiên toà.

  2. Khổng Văn M, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa lớp 08/12. Con ông: Khổng Văn V; Con bà: Chu Thị N2; Vợ: Hạ Thị N, sinh năm 2002; Có 03 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021.

    Tiền án: Không.

Nhân thân: Ngày 31/01/2024, Công an xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt vi phạm hành chính 6.500.000đ về hành vi Cố ý gây thương tích.

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trúi; có mặt tại phiên toà.

- Bị hại:

  • + Anh Bùi Văn T1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
  • + Anh Phạm Văn H, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
  • + Chị Cao Trang L, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Trung D, sinh năm 1989; Địa chỉ: TDP C, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.
  • + Anh Trần Ngọc D1, sinh năm 1996; Địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.

- Người có quyền và nghĩa vụ liên quan :

  • RCOMH’DJÊM, Sinh năm 1988; Địa chỉ: xã H huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm và thu nhập nên, khoảng tháng 10/2023, vợ chồng Hạ Thị N và Khổng Văn M đã trao đổi, bàn bạc và thống nhất cách thức lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác để chia nhau như sau:

M sẽ sử dụng tài khoản Facebook “Mạnh Ka” tham gia các hội, nhóm hỗ trợ làm hồ sơ vay vốn, mở thẻ tín dụng trên mạng xã hội Facebook để đăng bài viết với nội dung hỗ trợ, tư vấn, nhận mở hồ sơ vay vốn, thẻ tín dụng...rồi để lại số điện thoại: 0865.199.xxx là số điện thoại M đang sử dụng. Khi tìm được khách có nhu cầu hoặc có khách chủ động liên hệ vào số điện thoại 0865.199.xxx thì M sẽ trao đổi trực tiếp hoặc sử dụng tài khoản Zalo được lập và đăng ký từ số điện thoại 0865.199.xxx mang tên “Khánh Bảnh” để nhắn tin, trao đổi với khách. Để khách tin tưởng, thì M nói với khách là sẽ giới thiệu khách đến nhân viên ngân hàng tư vấn hỗ trợ thủ tục cụ thể, chi tiết và mở luôn hồ sơ. Nếu khách đồng ý thì M sẽ giới thiệu khách với N để N thực hiện các bước lừa đảo tiếp theo. Sau khi được M giới thiệu khách liên hệ với N hoặc cho N số điện thoại của khách thì N dùng số điện thoại 0971.999.xxx, đăng ký tài khoản Zalo tên “Khánh Hằng” để gọi điện, nhắn tin tư vấn cho những khách hàng có nhu cầu mà M giới thiệu. Để khách hàng tin tưởng và đồng ý mở thẻ, mở hồ sơ vay vốn thì Ngọc tự giới thiệu mình là nhân viên ngân hàng và có khả năng tư vấn, mở thẻ tín dụng, vay vốn hạn mức cao, mặc dù khách hàng thuộc diện nợ xấu hoặc đã có khoản vay.

N tự giới thiệu tên là H1, lập tài khoản Zalo tên “Khánh Hằng”, sau đó lại đổi thành “Nguyễn H1” để giao dịch với khách. Trong quá trình tư vấn, trao đổi, N đều yêu cầu khách hàng phải cung cấp: Ảnh chân dung, ảnh căn cước công dân, sao kê lịch sử giao dịch tài khoản Ngân hàng trong 03 tháng đến 06 tháng và cung cấp số điện thoại của người thân để giống với thủ tục của ngân hàng. Để tiếp tục tạo lòng tin, N trao đổi với khách là sẽ kiểm tra thông tin dư nợ, điểm tín dụng, các khoản nợ xấu, khoản vay... của khách ở các Ngân hàng trên cả nước. Sau đó, N sẽ đưa ra các thông tin về hạn mức vay, hạn mức thẻ tín dụng có thể mở cho khách lựa chọn. Sau khi khách tin tưởng và đề nghị N hỗ trợ lập hồ sơ, mở thẻ thì N bắt đầu tạo ra các khoản chi phí phải nộp (thông thường từ 1.000.000 đồng - 2.000.000 đồng hoặc cao hơn tuỳ theo hạn mức) để có thể làm hồ sơ theo yêu cầu như: Chuyển tiền để sửa hồ sơ, chuyển tiền để phát hành thẻ, chuyển tiền để đóng bảo hiểm thẻ tín dụng, chuyển tiền để kích hoạt thẻ, chuyển tiền mua sao kê...”. Khi khách hàng đồng ý chuyển tiền thì N yêu cầu khách chuyển vào tài khoản nhận tiền là tài khoản số 19039042255011 mang tên “Khổng Duy B” mở tại ngân hàng TMCP K (T4). Đây là tài khoản do Ngọc T2 thực hiện việc đăng ký mở tài khoản thông qua hình thức trực tuyến qua mạng internet trên ứng dụng Ngân hàng T4 và đăng ký số điện thoại mở tài khoản này bằng số điện thoại của N là 0971.999.xxx. Khi khách hàng hỏi sao lại chuyển vào tài khoản mang tên Khổng Duy B chứ không phải tài khoản của N (khi đó đang giới thiệu tên là H1) thì N nói dối là chuyển vào tài khoản của người sửa và thẩm định hồ sơ. Sau khi nhận được tiền khách chuyển vào tài khoản, để xác nhận việc đã đăng ký thành công khoản vay hoặc mở thẻ tín dụng, N tự học trên mạng Internet cách tạo các hình ảnh có nội dung xác nhận giống như các Ngân hàng. Cụ thể: N sử dụng điện thoại Iphone 14 Promax có kết nối internet để tải các mẫu hình ảnh xác nhận của Ngân hàng, sau đó N chỉnh sửa hình ảnh “Picsart” trên điện thoại để sửa thông tin xác nhận trên mẫu của Ngân hàng thành thông tin của khách hàng cùng với khoản vay hoặc hạn mức tín dụng như đã thoả thuận với khách, rồi N gửi các hình ảnh này cho khách hàng. Khi khách hàng tin tưởng thì N lại đưa ra các thông tin về chi phí phải nộp để khách chuyển thêm tiền vào tài khoản cho N. Khi khách phát hiện bị lừa đảo thì N chặn số điện thoại, chặn liên lạc Zalo và nếu khách hàng liên lạc với Khổng Văn M thì M nói là không biết thông tin cụ thể của H1.

Tháng 10/2023, anh Bùi Văn T1, sinh năm 1977, trú tại: thôn T, xã T, thị xã S, thành phố Hà Nội lên mạng xã hội để tìm hiểu thì thấy bài viết đăng trên mạng xã hội hỗ trợ vay vốn, kèm theo số điện thoại 0865.199.xxx của Khổng Văn M. Anh T1 đã gọi điện thoại trao đổi với M về việc anh T1 có đất, nhà ở thôn T, xã T, thị xã S đang thế chấp Ngân hàng để vay số tiền 800.000.000 đồng nhưng anh T1 muốn vay thêm tiền nên hỏi M tư vấn. M đến nhà anh T1 gặp và bảo anh T1 cho chụp ảnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản phô tô và căn cước của hai vợ chồng. Sau đó, M giả gửi thông tin này cho 01 người tên L1 quen biết

qua mạng xã hội Facebook nhờ L1 thẩm định hồ sơ nhưng L1 nói nhà anh T1 xây trên hai thửa đất nên không thể làm hồ sơ cho vay được. Lúc này, M lừa bảo anh T1 mở thẻ tín dụng vì M có quen biết người bên ngân hàng có thể mở thẻ tín dụng. Anh T1 đồng ý. M cho anh T1 số điện thoại của N là 0971.999.xxx để liên lạc trao đổi về việc mở thẻ.

Sau khi được M cho các thông tin của anh T1 thì N nhắn tin qua Zalo của anh T1 sử dụng số điện thoại 0983.100.xxx, tài khoản Zalo tên “Klca” để trao đổi việc mở thẻ tín dụng. N giới thiệu tên là H1 và làm được thẻ tín dụng của các ngân hàng nên anh T1 đã nhờ N mở thẻ tín dụng. N yêu cầu anh T1 chụp ảnh gửi các giấy tờ cá nhân cho N để kiểm tra. Sau đó, N bảo anh T1 là đủ điều kiện mở 03 thẻ tín dụng gồm 02 thẻ tín dụng hạn mức 200.000.000 đồng và 01 thẻ tín dụng hạn mức 650.000.000 đồng. Anh T1 đồng ý. N trao đổi với anh T1: hiện đang vay ngân hàng và nằm trong danh sách chậm trả tiền vay nên để mở được thẻ tín dụng cần phải sửa hồ sơ để không nằm trong danh sách chậm trả tiền, việc sửa hồ sơ sẽ mất phí. Anh T1 đồng ý.

Từ ngày 17/11/2023 đến ngày 02/12/2023, N đã yêu cầu anh T1 chuyển khoản 14 lần với tổng số tiền 59.900.000 đồng từ tài khoản số 45110000057216 mang tên Bùi Văn T1 mở tại ngân hàng TMCP Đ (B2) đến 2 tài khoản do N cung cấp, gồm: tài khoản T4 mang tên “Khổng Duy B” nhận 13 lần là 54.900.000 đồng và tài khoản số: 0987128680 mang tên Nguyễn Thị H2 mở tại Ngân hàng B2 nhận 01 lần 5.000.000 đồng. Đây là tài khoản của chị Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1997, trú tại: Thôn Y, xã C, huyện V, Vĩnh Phúc là bạn của N. N nói với chị H2 là tài khoản của N bị lỗi nên không nhận được tiền nên N mượn tài khoản số 0987128680 của H2 để nhận chuyển khoản. Sau khi tiền vào tài khoản thì H2 đưa lại cho N 5.000.000 đồng tiền mặt.

Sau khi anh T1 chuyển tiền thành công thì N sử dụng ứng dụng Picsart để chỉnh sửa mẫu hình ảnh xác nhận gửi lại cho anh T1 làm tin rồi chặn các số liên lạc với anh T1. Vì không liên lạc được với N và biết mình bị lừa nên ngày 15/12/2023, anh T1 đã làm đơn trình báo Công an thị xã S để điều tra làm rõ.

Đến ngày 20/12/2023, N lại nảy sinh ý định lừa chiếm đoạt tiền của anh T1 nên nhắn tin bảo anh T1 mang 15.000.000 đồng đến quán C ở xã P, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc để nhận 03 thẻ tín dụng. Vì biết bị lừa nên anh T1 đồng ý và báo cho Cơ quan Công an thị xã S biết sự việc để giải quyết. Sau đó N đến gặp bạn là Nguyễn Thị H2 mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH, màu sơn đen, BKS: 88L1-632.16 để đi công việc riêng. H2 đồng ý cho N mượn xe và đưa giấy chứng nhận đăng ký xe máy số 054086 của xe cho N. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 20/12/2023, N đi đến quán cà phê B1 gặp anh T1 thì N đưa cho anh T1 xem một giấy chứng nhận đăng ký xe máy của chị H2. Khi anh T1 hỏi giấy đăng ký xe của ai thì N nói: đây là giấy tờ xe của em. Trong khi, N và anh T1 đang

trao đổi thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thị xã S đến mời N cùng anh T1 về Cơ quan điều tra để làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, N đã khai nhận rõ việc cùng M thực hiện hành lừa đảo chiếm đoạt 59.900.000 đồng của anh T1. Sau đó N chia cho M 6.500.000 đồng, số tiền còn lại N ăn tiêu hết.

Quá trình điều tra còn làm rõ: Với phương thức thủ đoạn như trên, thì trong tháng 12/2023, Hạ Thị N và Khổng Văn M còn thực hiện 04 lần lừa đảo chiếm đoạt tiền đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Cụ thể như sau:

Lần thứ 1: Khoảng tháng 12/2023, anh Phạm Văn H, sinh năm1993, trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, lên mạng thì thấy bài đăng và số điện thoại của Khổng Văn M từ tài khoản Facebook “Mạnh Ka”, thì anh H sử dụng số điện thoại 0865.923.xxx đăng ký tài khoản Zalo “Hải Pv Pkdt” kết bạn với số điện thoại của M là tài khoản Zalo “Khánh Bảnh”. Khi biết anh H nói muốn làm thẻ tín dụng thì M đã giới thiệu cho anh H số điện thoại 0971.999.xxx của N. Sau đó, anh H kết bạn với tài khoản Zalo số điện thoại 0971.999.xxx tên “Nguyễn Hằng” của N nhắn tin hỏi thủ tục làm hồ sơ mở thẻ tín dụng. Lúc này, N giới thiệu mình tên H1 là nhân viên ngân hàng hỗ trợ làm thẻ tín dụng và N yêu cầu anh H gửi số tài khoản ngân hàng của anh H để kiểm tra. Sau đó, N nhắn tin cho anh H nói là tài khoản ngân hàng bị nợ xấu phải mất phí làm hồ sơ thì anh H đồng ý. N hướng dẫn anh H chụp ảnh căn cước công dân, ảnh chân dung và sao kê lịch sử giao dịch của 03 tháng gần nhất, rồi gửi thông tin cho N qua mạng xã hội Zalo để N làm hồ sơ. N tư vấn cho anh H là mở được 01 thẻ tín dụng hạn mức 70.000.000 đồng của ngân hàng TMCP Q (MB). Sau đó N đưa ra các lý do như: Tài khoản giao dịch ít phải mua sao kê, phí phát hành thẻ, bảo hiểm thẻ tín dụng.... để anh H tin tưởng chuyển tiền.

Trong thời gian từ ngày 11/12/2023 đến ngày 15/12/2023, anh H đã chuyển 06 lần tiền với tổng số tiền là 13.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng số: 03030117045001 mang tên Phạm Văn H mở tại ngân hàng M1 đến tài khoản ngân hàng số 19039042255011 mang tên Khổng Duy B mở tại ngân hàng T4 theo yêu cầu của N. Sau khi nhận được tiền thì N sử dụng ứng dụng Picsart để chỉnh sửa mẫu hình ảnh xác nhận của ngân hàng gửi lại cho anh H làm tin rồi chặn mọi liên lạc với anh H. Như vậy, N chiếm đoạt 13.000.000 đồng của anh H và tiêu sài cho cá nhân hết.

Lần thứ 2: Tháng 12/2023, chị Cao Trang L, sinh năm 1985, ở thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, lên mạng thấy bài viết đăng về hỗ trợ làm thẻ tín dụng, hồ sơ vay vốn, kèm theo số điện thoại 0865.199.xxx của M. Do vậy, chị L sử dụng số điện thoại 0888.703.xxx đăng ký tài khoản Zalo “Cao Trang L” liên hệ với M qua tài khoản Zalo tên “Khánh Bảnh” đặt vấn đề làm thẻ tín dụng thì M giới thiệu cho chị L số điện thoại 0971.999.xxx của N để liên hệ. Chị L đã kết bạn Z với tài khoản “Nguyễn Hằng” mà N đang sử dụng để hỏi thủ tục làm hồ sơ mở

thẻ tín dụng. Lúc này, N giới thiệu tên H1, là nhân viên Ngân hàng làm ở thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc hỗ trợ làm thẻ tín dụng. Khi chị L cho biết là tài khoản ngân hàng của mình bị nợ xấu thì N nói phải mất phí làm hồ sơ. Chị L đồng ý. N bảo chị L chụp ảnh căn cước công dân, ảnh chân dung và sao kê lịch sử giao dịch của 03 tháng gần nhất gửi cho N để N kiểm tra. Sau đó, N nói thẻ của chị L hạn mức vay được 50.000.000 đồng nhưng phải mất tiền phí làm hồ sơ, mua bảo hiểm khoản vay..., chị L đồng ý. Ngày 18/12/2023 và ngày 19/12/2023, chị L đã chuyển khoản 03 lần với tổng số tiền 6.500.000 đồng từ tài khoản ngân hàng số: [...] mang tên Cao Trang L mở tại ngân hàng TMCP C1 (V1) đến tài khoản ngân hàng số 19039042255011 mang tên “Khổng Duy B” mở tại ngân hàng T4 theo yêu cầu của N. Sau khi nhận được tiền, thì N sử dụng ứng dụng Picsart để chỉnh sửa mẫu hình ảnh xác nhận khoản vay từ ngân hàng gửi lại cho chị L tin tưởng rồi chặn mọi liên lạc với chị L. Sau đó khi chiếm đoạt được 6.500.000 đồng của chị L thì N chia cho M 1.000.000 đồng, số tiền còn lại N ăn tiêu hết.

Lần thứ 3: Tháng 12/2023, anh Nguyễn Trung D, sinh năm 1989, trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc lên mạng thì thấy bài đăng của Facebook “Mạnh Ka” hỗ trợ làm thẻ tín dụng, hồ sơ vay vốn, kèm theo số điện thoại 0865.199.xxx của M. Thấy vậy, anh D dùng số điện thoại 0977.354.xxx, tài khoản Zalo “Nguyễn D” liên hệ số điện thoại 0865.199.xxx, tài khoản Zalo “Khánh Bảnh” của M để hỏi về việc muốn vay tiền hoặc làm thẻ tín dụng. Lúc này, M giới thiệu và cho anh D số điện thoại của N là 0971.999.xxx để anh D liên lạc với N. M cũng thông báo và cho N số điện thoại của anh D. Sau đó, N sử dụng tài khoản Z “Nguyễn H1” nhắn tin đến tài khoản Zalo “Nguyễn D” tư vấn cho anh D làm thẻ tín dụng. N yêu cầu anh D gửi số tài khoản ngân hàng, số căn cước công dân để N kiểm tra. Sau khi nhận được thông tin của anh D thì N nói tài khoản của anh D mở được 01 thẻ tín dụng hạn mức 70.000.000 đồng nhưng do anh D nợ xấu nên phải mất phí sửa hồ sơ với số tiền 2.550.000 đồng. Anh D2 đồng ý.

Vào các ngày 04/12/2023 và ngày 07/12/2023, anh D2 đang chở khách tại thị xã S thì N yêu cầu anh D2 chuyển tiền để làm thẻ. Do vậy, ngày 04/12/2023, anh D2 đã chuyển 1.000.000 đồng từ tài khoản 51521315 mang tên Nguyễn Trung D mở tại Ngân hàng V2 đến tài khoản ngân hàng số 19039042255011 mang tên Khổng Duy B mở tại ngân hàng T4. Và ngày 07/12/2023, anh D đã chuyển 1.500.000 đồng từ tài khoản 51521315 mang tên Nguyễn Trung D mở tại Ngân hàng V2 chuyển 1.550.000 đồng đến tài khoản số: 0987128680 mang tên Nguyễn Thị H2 mở tại Ngân hàng B2. Sau khi nhận được tiền thì Ngọc chặn mọi liên lạc với anh D và chiếm đoạt 2.550.000 đồng của anh Nguyễn Trung D và ăn tiêu cá nhân hết.

Lần thứ 4: Tháng 12/2023, anh Trần Ngọc D1, sinh năm: 1996, trú tại: Xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc, lên mạng xã hội thì thấy bài đăng tư vấn hỗ trợ vay vốn, mở thẻ tín dụng của Khổng Văn M. Do vậy, anh D1 dùng tài khoản Zalo “Dũng Peugeot Vĩnh P” nhắn tin đến tài khoản Zalo “Khánh Bảnh” của M theo số điện thoại 0865.199.xxx để hỏi thủ tục làm thẻ tín dụng. Thấy vậy, M giới thiệu số điện thoại của N là 0971.999.xxx và M cho N số điện thoại của anh D1 và thông báo cho N biết việc anh D1 muốn làm thẻ tín dụng. Sau đó, N sử dụng tài khoản Z “Nguyễn H1” nhắn tin đến tài khoản Zalo của anh D1 và giới thiệu tên H1 là nhân viên ngân hàng ở thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi anh D1 nhờ N tư vấn làm thẻ tín dụng và nói tài khoản ngân hàng mình bị dư nợ cao thì N nói là xử lý được nhưng phải mất phí để mua sao kê giao dịch ngân hàng, làm hồ sơ là 2.000.000 đồng. Anh D2 đồng ý. N bảo anh D2 chụp ảnh căn cước công dân, ảnh chân dung và sao kê lịch sử giao dịch ngân hàng rồi gửi cho N để làm hồ sơ. Ngày 12/12/2023 anh D2 đã chuyển 02 lần tiền; mỗi lần chuyển 1.000.000 đồng từ tài khoản số 6196888686 mang tên Trần Ngọc D1 mở tại ngân hàng T4 đến tài khoản số 19039042255011 mang tên Khổng Duy B mở tại ngân hàng T4 theo yêu cầu của N. Sau khi nhận tiền, N dùng ứng dụng Picsart chỉnh sửa mẫu hình ảnh xác nhận thành công của ngân hàng gửi cho anh D1 để anh D1 thấy tin tưởng rồi chặn mọi liên lạc và chiếm đoạt 2.000.000 đồng của anh D1 và ăn tiêu cá nhân hết. Do anh D1 không nhớ địa điểm chuyển tiền cho N nên khi biết thông tin vụ án thì anh D1 đã đến Cơ quan CSĐT, Công an thị xã S làm việc và trình báo.

Cơ quan CSĐT, Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc và Cơ quan CSĐT, Công an huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc cùng Cơ quan CSĐT, Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã có văn bản ủy quyền cho Cơ quan CSĐT, Công an thị xã S tiếp tục điều tra xử lý hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Hạ Thị N và Khổng Văn M theo quy định.

Tại cơ quan điều tra, Hạ Thị N và Khổng Văn M đã khai nhận rõ hành vi phạm tội. M khai nhận: Sau khi cùng N lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh T1 và chị L thì N chia cho M 7.500.000 đồng; M đã sử dụng mua sữa cho con và ăn tiêu hết.

Quá trình điều tra còn làm rõ: Trong thời gian Hạ Thị N được tại ngoại để phục vụ điều tra thì N tiếp tục đến thành phố L, tỉnh Lào Cai để thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vụ án đã được đưa ra xét xử, tại bản án số: 75/2024/HS-ST ngày 15/7/2024, của Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã xử phạt Hạ Thị N 06 tháng tù giam về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ngoài ra, ngày 30/5/2024, Cơ quan CSĐT, Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Hạ Thị N để điều tra về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tuy nhiên, do vụ án còn nhiều nội

dung, tình tiết chưa được Cơ quan CSĐT, Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc làm rõ nên Cơ quan CSĐT, Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc vẫn đang tiếp tục điều tra.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Hạ Thị Ngọc gồm:

  • - 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, vỏ ngoài màu tím, số Imei: 359265383983356, số I: 359265384791584, bên trong lắp sim số 0971999004. đã qua sử dụng. Đây là chiếc điện thoại của N sử dụng vào việc liên lạc, trao đổi thực hiện hành vi phạm tội.
  • - 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe Mô tô, xe máy, Biển số đăng ký: 88L1-632.16, tên chủ xe: Nguyễn Thị H2.

Cơ quan CSĐT, Công an thị xã S đã tiến hành trưng cầu giám định phục hồi dữ liệu điện tử đối với chiếc điện thoại di động đã thu giữ của Hạ Thị N. Tại bản kết luận giám định số: 1617/KL-KTHS ngày 05/04/2024, của V3 - Bộ C2 có kết quả:

  • - Trích xuất được: 2276 nhật ký cuộc gọi, 419 tin nhắn SMS, 7889 tin nhắn Facebook, 9598 tin nhắn Zalo. Chi tiết thể hiện trong thư mục “DATA” lưu trữ trong đĩa DVD kèm theo.
  • - Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn trong sim.

Qua nghiên cứu dữ liệu giám định phát hiện các đoạn tin nhắn trong ứng dụng Z, tài khoản “Khánh Hằng” và “Nguyễn Hằng” của Hạ Thị N có liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của N và M gồm:

  • - Tài khoản Zalo “Khánh Bảnh” được xác định là của Khổng Văn M, sinh năm: 1993, trú tại: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Nội dung liên quan đến việc bàn bạc thống nhất trao đổi, gửi thông tin của những người trên cho Hạ Thị N để lừa đảo dưới hình thức mở thẻ tín dung.
  • - Tài khoản Z tên “K1” được xác định là của anh Bùi Văn T1, sinh năm: 1977, trú tại: Thôn T, xã T, thị xã S, Hà Nội.
  • - Tài khoản Zalo tên “Hải Pv P1” được xác định là của là anh Phạm Văn H, sinh năm: 1993, HKTT và chỗ ở: Thôn L, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • - Tài khoản Zalo tên “Cao Trang L” là chị Cao Trang L, sinh năm: 1985, HKTT: Khu A, thị trấn L, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • - Tài khoản Zalo tên “Diêm Single” là chị RCOM H’DJIÊM, sinh năm: 1988, HKTT: Tổ 10 Đoàn Kết, thị xã A, Gia Lai; Chỗ ở hiện nay: Xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc
  • - Tài khoản Zalo tên “Nguyễn D” là anh Nguyễn Trung D, sinh năm: 1989, trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc:
  • - Tài khoản Zalo tên “Dũng Peugeot Vĩnh P” là của anh Trần Ngọc D1, sinh năm: 1996, trú tại: xã L, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc

Cơ quan điều tra đã trả lại 01(một) giấy chứng nhận đăng ký mô tô xe máy số: 054086 cho chị Nguyễn Thị H2.

Đối với anh Khổng Duy B, sinh năm 1998, trú tại thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, là bạn ở cùng thôn với N. Khoảng tháng 4/2023, N hỏi mượn Căn cước công dân và ảnh chân dung để có việc riêng thì anh B đồng ý và gửi qua Zalo cho N. Việc N sử dụng căn cước công dân, ảnh chân dung của B để đăng ký mở tài khoản trên ứng dụng T4 sau đó sử dụng vào việc phạm tội thì anh B không biết nên không có căn cứ để xử đối với anh Khổng Duy B.

Đối với chị Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1997, trú tại: thôn Y, xã C, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc là người đã cho N mượn xe máy, giấy tờ để đi gặp anh T1; Và ngày 22/11/2023 và ngày 07/12/2023, chị H2 đã cho N mượn số tài khoản của mình để anh Bùi Văn T1 và anh Nguyễn Trung D chuyển tiền đến, chị H2 đã trả lại tiền cho N. Chị H2 không biết N mượn tài khoản cùng xe máy và giấy tờ xe để thực hiện hành vi lừa đảo nên không có căn cứ để xử lý đối với chị Nguyễn Thị H2. Do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại giấy chứng nhận đăng ký xe Mô tô, xe máy cho chị H2. Chị H2 nhận lại giấy tờ liên quan đến xe máy và không yêu cầu gì nữa.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn xác định: Tháng 12/2023, bằng thủ đoạn như trên, Hạ Thị N và Khổng Văn M còn chiếm đoạt của chị RCOM H’DJIÊM, trú tại: xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, số tiền 1.500.000 đồng. Tuy nhiên, do N và M chưa có tiền án, tiền sự gì về hành vi chiếm đoạt tài sản và số tiền chiếm đoạt chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do vậy, Công an thị xã S đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Hạ Thị N.

Về dân sự: Các bị hại trong vụ án là anh Bùi Văn T1, anh Phạm Văn H, chị Cao Trang L, anh Nguyễn Trung D, Trần Ngọc D1 đều yêu cầu Hạ Thị N và Khổng Văn M trả lại số tiền đã chiếm đoạt như nêu trên. Chị RCOM H’DJIÊM yêu cầu trả lại tiền chiếm đoạt.

Vật chứng chuyển theo hồ sơ gồm: 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số Imei 1: 359265383983356, số Imei 2: 359265384791584, bên trong lắp sim số 0971999004, đã qua sử dụng.

Bản cáo trạng số 98/CT ngày 27/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố Hạ Thị N và Khổng Văn M về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội, tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố các bị cáo Hạ Thị N và Khổng Văn M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự và đề nghị:

Áp dụng khoản 2 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.

  • + Xử phạt bị cáo Hạ Thị N từ 36 đến 42 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam.

Áp dụng khoản 2 Điều 174, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự.

  • + Xử phạt bị cáo Khổng Văn M từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, Thời hạn thử thách gấp đôi tính từ ngày tuyên án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Hạ Thị N và Khổng Văn M phải liên đới bồi thường cho 05 bị hại với tổng số tiền là 83.950,000đ, chị RCOM H’DJIÊM số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo M đã nộp lại số tiền 7.500.000,đ tiền được ăn chia tại thi hành án Sơn tây, nên M được trừ đi số tiền đã nộp.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu phát mại sung công 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím, số Imei 1: 359265383983356, số Imei 2: 359265384791584, bên trong lắp sim số 0971999004.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của các bị cáo và lời khai của những bị hại, người liên quan tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được đã có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Từ ngày 17/11/2023 đến ngày 19/12/2023, Hạ Thị N và Khổng Văn M là vợ chồng do hoàn cảnh khó khăn nên đã bàn bạc, thống nhất đưa ra thông tin

không đúng sự thật về hỗ trợ, tư vấn, nhận mở hồ sơ vay vốn, thẻ tín dụng rồi yêu cầu nộp phí. N và M đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Bùi Văn T1, anh Phạm Văn H, chị Cao Trang L, anh Nguyễn Trung D và anh Trần Ngọc D1 với tổng số tiền là 83.950.000đ. Chị RCOM H’DJIÊM số tiền 1.500.000 đồng. N chia cho M 7.500.000 đồng và cả hai đã chi tiêu hết. Hành vi của các bị cáo Hạ Thị N và Khổng Văn M đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự . Đúng với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát thị xã S, Thành phố Hà Nội đã truy tố.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã lợi dụng danh nghĩa ngân hàng, xâm phạm đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng trong hoạt động mở thẻ ngân hàng O. Các bị cáo đều là thanh niên còn trẻ, bản thân không chịu lao động, tu dưỡng rèn luyện, vì muốn có tiền chi tiêu nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, nên cần có hình phạt nghiêm đối với các bị cáo.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét vai trò của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo không có sự bàn bạc phân công chặt chẽ nên là đồng phạm giản đơn. Trong vụ án bị cáo Hạ Thị N có vai trò chính là người chủ động bàn bạc với M giúp sức trong việc tìm kiếm khách hàng giới thiệu đến cho N. N cũng là người trực tiếp thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong vụ án này, bị cáo M là người giúp sức tìm kiếm 5 người để giới thiệu cho N để N thực hiện lừa 5 người bị hại, chiếm đoạt tồng số tiền 83.950.000đ, N chia cho M 7.500.000đ. Như vậy, tổng số tiền mà bị cáo N chiếm đoạt là 76.450.000đ. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt đối với Hạ Thị Ngọc cao hơn Khổng Văn M.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hạ Thị N và Khổng Văn M phạm tội nhiều lần thuộc điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Hạ Thị N và Khổng Văn M đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Khi phạm tội N đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Mạnh trước khi xét xử có nộp lại số tiền 7.500.000,đ tại Cơ quan Thi hành án Thị xã S để khắc phục hậu quả. M đang nuôi 3 con nhỏ, bố mẹ M đang bị bệnh nặng đang phải điều trị

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần cách ly các bị cáo N ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Đối với M lẽ ra phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới thỏa đáng, tuy nhiên trong vụ án M tham gia có mức độ, M và N là vợ chồng, hiện M đang phải nuôi 3 con nhỏ, bố mẹ già đang điều trị bệnh nên có

thể xem xét chiếu cố đặc biệt và cho hưởng án treo để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về dân sự: Buộc bị cáo Hạ Thị N và Khổng Văn M phải liên đới bồi thường cho 05 bị hại với tổng số tiền là 83.950.000đồng. Trả lại cho Chị RCOM H’DJIÊM số tiền 1.500.000 đồng. Cụ thể mỗi Bị cáo phải bồi thường 42.725.000,đ. Bị cáo M đã nộp trước khi xét xử số tiền 7.500.000,đ. Còn phải nộp tiếp 35.225.000,đ.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, không có khả năng và điều kiện về kinh tế để thi hành án. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím thu của Hạ Thị N, là điện thoại mà bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu phát mại xung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 174 ; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 ; Điều 38 Bộ luật hình sự.

  • + Xử phạt: Bị cáo Hạ Thị N 36 ( Ba mươi sáu ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ 21/12/2023 đến 30/12/2023. Về tội : “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 174 ; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 ; Điều 65 Bộ luật hình sự.

  • + Xử phạt: Bị cáo Khổng Văn M 30 ( Ba mươi ) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, Thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án. Về tội : “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Giao bị cáo Khổng Văn M cho UBND xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi làm việc, nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Hạ Thị N và Khổng Văn M phải liên đới bồi thường cho 05 bị hại : Bùi Văn T1, anh Phạm Văn H, chị Cao Trang L, anh Nguyễn Trung D và anh Trần Ngọc D1 tổng số tiền là 83.950.000,đồng. Bồi thường cho chị RCOM

H’DJIÊM số tiền 1.500.000,đồng. Cụ thể: Mỗi bị cáo phải bồi thường 42.725.000,₫ .

  • Bị cáo Hạ Thị N bồi thường cho anh Bùi Văn T1 29.950.000,đ, anh Phạm Văn H 6.500.000,đ, chị Cao Trang L 3.250.000,đ, anh Nguyễn Trung D 1.275.000,đ, anh Trần Ngọc D1 1.000.000,đ, chị RCOM H’DJIÊM 750.000,đ.
  • Bị cáo Khổng Văn M bồi thường cho anh Bùi Văn T1 29.950.000,đ, anh Phạm Văn H 6.500.000,đ, chị Cao Trang L 3.250.000,đ, anh Nguyễn Trung D 1.275.000,đ, anh Trần Ngọc D1 1.000.000,đ, chị RCOM H’DJIÊM 750.000,đ. Bị cáo M đã nộp trước khi xét xử số tiền 7.500.000,đ. Còn phải nộp tiếp 35.225.000,đ. Tiếp tục bảo thủ số tiền 7.500.000,đ bị cáo M đã nộp để đảm bảo việc thi hành án. ( Số tiền nộp tại biên lai thu số 0001172 ngày 09/12/2024 tại Chi cục thi hành án Thị xã Sơn tây ).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu phát mại sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max, màu tím (Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/09/2024 giữa Công an thị xã S và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Hạ Thị N và Khổng Văn M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. N phải nộp 2.136.250,đ, M phải nộp 1.762.750,đ án phí dân sự.

Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại, Người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Trung T3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122A/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (fraudulent appropriation of property)

  • Số bản án: 122A/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Fraudulent appropriation of property)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger