|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1227/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19/8/2024. V/v "Ly hôn” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN |
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Phong
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: không tham gia.
Trong ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 349/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 341/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/7/2024, và quyết định hoãn phiên tòa số 253/2024/QÐST-HNGĐ ngày 31/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Triệu Thị B– sinh năm: 1988 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: 2 ấp B, xã X, huyện H, Tp
Bị đơn: Ông Kiều Tiến T – sinh năm: 1977 (vắng mặt)
Địa chỉ: 2 ấp B, xã X, huyện H, Tp ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 12/3/2024, bản tự khai và biên bản không tiến hành hòa giải được nguyên đơn bà Triệu Thị B trình bày:
Bà và ông Kiều Tiến T tự nguyện tìm hiểu và tiến đến xây dựng gia đình vào năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Đ, tỉnh ĐăkNông ngày 13/12/2012.
Sau khi cưới vợ chồng bà sống chung không có hạnh phúc phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông T đánh đập bà nhiều lần, lần gần nhất là ngày 08/3/2024 ông T đánh bà và con bà dã man, bà có chụp hình thương tích, hiện nay bà đang bị bệnh, cuộc sống vợ chồng mất lòng tin, không tôn trọng nhau, vợ chồng không còn quan tâm xây dựng gia đình, bà rất lo sợ khi phải sống chung với ông T vì 02 con nên bà đã chịu đựng đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà B xin ly hôn với ông T.
Về con chung: có 02 con chung Kiều Tiến T1 – sinh ngày 19/9/2011, Kiều Phương T2 – sinh ngày 15/02/2016 . Bà yêu cầu nuôi dưỡng Phương T2, ông T nuôi bé Tiến T1, không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Về tài sản chung: Không có.
Nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức các phiên hòa giải bà Triệu Thị B và ông Kiều Tiến T thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng ông T không đến Tòa nên việc hòa giải không tiến hành được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự để Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
Bà Triệu Thị B có đơn xin vắng mặt, về phía bị đơn Kiều Tiến T, Tòa án đã tống đạt niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho ông T nhưng ông T vẫn vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Quan hệ tranh chấp giữa bà Triệu Thị B và ông Kiều Tiến T là ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Bị đơn ông Kiều Tiến T cư trú tại 2 ấp B, xã X, huyện H nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định nói trên theo quy định của pháp luật tố tụng nhưng ông Kiều Tiến T vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa và Quyết định hoãn phiên tòa cũng được tống đạt hợp lệ cho ông T nhưng ông T vắng mặt không lý do, nguyên đơn Triệu Thị B có đơn xin vắng mặt. Tòa án đã triệu tập các đương sự hợp lệ lần thứ hai, do vậy Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ pháp luật: Hội đồng xét xử nhận thấy bà Triệu Thị B và ông Kiều Tiến T tự nguyện xây dựng gia đình từ năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Đ, tỉnh ĐăkNông ngày 13/12/2012.
[3] Về quan hệ vợ chồng: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện bà Triệu Thị B và ông Kiều Tiến T có thời gian sống chung từ năm 2012, có đăng ký kết hôn và có 02 con chung. Mâu thuẩn vợ chồng phát sinh theo lời trình bày của bà B là do vợ chồng thường xuyên gây gỗ do bất đồng trong cuộc sống, ông T thường hay đánh đập bà, gây thương tích cho bà, vợ chồng mất lòng tin và không tôn trọng nhau, vợ chồng không quan tâm chăm sóc và xây dựng gia đình, hiện tại ông bà đã sống ly thân. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ theo quy định để tiến hành hòa giải nhằm tạo điều kiện bà Triệu Thị B và ông Kiều Tiến T trở về đoàn tụ với nhau nhưng ông T không đến, điều này chứng tỏ ông T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét cuộc sống hôn nhân của bà Triệu Thị B và ông Kiều Tiến T đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc ly hôn là cần thiết nên việc bà Triệu Thị B yêu cầu ly hôn với ông Kiều Tiến T là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên có cơ sở chấp nhận.
[4] Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Triệu Thị B và ông Kiều Tiến T có 02 con chung Kiều Tiến T1 – sinh ngày 19/9/2011, Kiều Phương T2 – sinh ngày 15/02/2016 . Bà yêu cầu nuôi dưỡng Phương T2, ông T nuôi bé Tiến T1, không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào. Hội đồng xét xử xét thấy hiện trẻ Tiến T1 đang sống chung với ông T, Phương T2 đang sống với bà B nên việc giao trẻ Phương T2 cho bà B nuôi dưỡng, trẻ Tiến Thái cho ông T nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của trẻ Phương T2 và Tiến T1 nên Hội đồng xét xử quyết định giao Phương T2 cho bà B nuôi dưỡng, trẻ Tiến Thái cho ông T nuôi dưỡng là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về cấp dưỡng: Bà B không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tài sản chung: Đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về nợ chung: Đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bà Triệu Thị B chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 khoản 4 Điều 147 Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự năm 2015;
Áp dụng Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình Việt Nam;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Triệu Thị B.Về quan hệ vợ chồng:
Bà Triệu Thị B được ly hôn với ông Kiều Tiến T.Về con chung:
Giao cho bà Triệu Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Kiều Phương T2 – sinh ngày 15/02/2016, ông Kiếu Tiến T3 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Kiều Tiến T1 – sinh ngày 19/9/2011. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với hai bên cho đến khi có yêu cầu.Vì lợi ích con chung, bên không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết một hoặc cả hai bên có thể yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung:
Trong vụ án này đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.Về nợ chung:
Trong vụ án này đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.Án phí DSST: Bà Triệu Thị B chịu là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, được tính cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà B đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0024389 ngày 26/3/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Anh Phong |
Bản án số 1227/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN về ly hôn
- Số bản án: 1227/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà B yêu cầu ly hôn với ông T
