TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 122/2024/HS-ST Ngày: 31-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Đăng Tố
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Trọng Vinh
- Ông Đinh Văn Thông
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Đình Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 137/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Lê Ngọc T, sinh năm 1980, tại: Bình Định.
Nơi cư trú: số E, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn T1, sinh năm 1944; con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1954; có vợ: Dương Thị Bích V, sinh năm 1990; có 02 người con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 29-01-2024 cho đến nay, (Có mặt).
- Nguyễn Văn T2, sinh năm 1994, tại: Phú Yên.
Nơi đăng ký thường trú: tổ G, khu phố B, Phường G, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nơi cư trú: khu phố N, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Kỹ sư xây dựng; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn H, sinh năm 1961; con bà: Trần Thị Thanh T3, sinh năm 1967; có vợ: Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1999; có 01 người con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 06-9-2023 cho đến nay, (Có mặt).
- Bị hại: ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1987 (chết ngày 04-02-2023).
Đại diện hợp pháp của bị hại: (1) Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1968 và bà Lâm Thị T4, sinh năm 1966 (cha, mẹ bị hại), cùng địa chỉ: ấp B, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang;
(2) Chị Trần Bích C, sinh năm 2004, (sống chung như vợ chồng với bị hại), địa chỉ: ấp X, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, (ông N có mặt; bà T4, chị C vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH T7. Địa chỉ: số A, đường H, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Do ông Hà Anh T5 - Chức vụ: Phó giám đốc, địa chỉ: khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai là đại diện, (Theo Giấy uỷ quyền lập ngày 06-02-2023), (Có mặt).
- Người làm chứng: ông Sơn Quốc C1, sinh năm 1997. Địa chỉ: ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Cổ phần X, địa chỉ trụ sở: 29/7/8 L, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là Công ty X) được thành lập, đăng ký doanh nghiệp lần đầu vào ngày 16-3-2012 và đăng ký thay đổi lần thứ 6 vào ngày 14-10-2020 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần S1: 0311633083 của Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H với lĩnh vực kinh doanh là: Thi công các công trình xây dựng nhà ở. Người đại diện theo pháp luật của công ty là Lê Ngọc T, chức danh: Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc công ty.
Ngày 10-01-2021, Công ty X ký hợp đồng thi công số 02/2021/HĐXL với Công ty trách nhiệm hữu hạn T7, địa chỉ trụ sở: Lầu A, số A, đường H, khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (sau đây gọi tắt là Công ty T7). Trong đó, Công ty T7 bàn giao cho Công ty X được thi công phần móng và cổ cột của các khu nhà tại Công trình xây dựng Nhà ở xã hội phường B, thuộc khu phố S, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Đến ngày 15-12-2022, Công ty T7 và Công ty X tiếp tục ký kết với nhau Phụ lục Hợp đồng số 03/PLHĐ-2022, để bổ sung cho Hợp đồng thi công số 02/2021/HĐXL ngày 10-01-2021 nêu trên. Theo đó, Công ty T7 bàn giao cho Công ty X được thi công thêm phần ngầm, móng, đà kiềng, khung BTCT khu LKV9 + LKV15 + LKV16 của Công trình xây dựng nhà ở xã hội phường B.
Trên cơ sở các Hợp đồng thi công và phụ lục hợp đồng đã ký kết, ngày 13-12-2022, T đã ký Quyết định thành lập Ban Chỉ huy công trường thi công công trình khu Nhà ở xã hội tại phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, trong đó giao cho Nguyễn Văn T2 - Nhân viên, kỹ sư xây dựng của Công ty X làm Đội trưởng thi công - Chỉ huy trưởng công trình, kiêm cán bộ kỹ thuật và cán bộ an toàn lao động tại công trình. Hằng ngày, T2 thực hiện nhiệm vụ giám sát thi công, phân công nhiệm vụ cho người lao động và báo cáo kết quả trực tiếp cho T.
Ngày 03-02-2023, anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1987; trú tại: ấp B, xã Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang cùng anh Sơn Quốc C1, sinh năm 1997, trú tại: ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu đến công trình xây dựng nhà ở xã hội để xin việc làm, anh S vào vị trí thợ khoan bê tông, anh C1 vào vị trí thợ hàn sắt, thép.
Sau khi trao đổi và thỏa thuận, T đã đồng ý nhận anh S, C1 vào làm việc và thỏa thuận thử việc 01 ngày không lương ở các hố đất tại khu vực LKV15 nhằm để đánh giá khả năng lao động trước khi chính thức ký kết hợp đồng và giao cho T2 nhiệm vụ phổ biến các quy định về an toàn lao động, giám sát, theo dõi, đánh giá quá trình thử việc của anh S, C1.
Đến sáng ngày 04-02-2023, T2 tiến hành kiểm tra các hố đất để đánh giá mức độ an toàn, thấy không có vấn đề gì nên đã trang bị cho anh S, C1 mỗi người 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa, 01 bao tay và phân công xuống hố đất để thi công, thử việc. Đồng thời, sau khi đã làm xong công việc ở hố đất được giao, anh S, C1 phải thông báo cho T2 biết để tiến hành kiểm tra, đánh giá kết quả. Khi xác định đã làm xong phần việc được giao, T2 mới tiếp tục kiểm tra hố đất khác và phân công nhiệm vụ mới. Các hố đất ở khu vực LKV15 đều không bố trí kết cấu chống đỡ tạm hoặc các biện pháp phù hợp khác để ngăn ngừa đất, đá hoặc vật liệu khác bị sạt lở, trượt, rơi xuống hố.
Đến khoảng 14 giờ 30 cùng ngày, T2 đi khảo sát ở khu vực khác cách vị trí anh S làm việc khoảng 500m, do không chú ý quản lý hố đất nơi anh S làm việc nên khi chưa hoàn thành xong công việc tại hố đất được giao thì anh S đã tự ý chuyển sang hố đất dài 53m, rộng 4m, sâu 1,95m thuộc khu vực LKV15 gần đó để khoan bê tông. Trong lúc đang thi công, bất ngờ đất ở thành hố bị sạt lở và đè lên người dẫn đến anh S bị ngã đập vùng mặt vào vỉ sắt hình hộp chữ nhật được đặt giữa hố đất. Anh S được đưa đến Bệnh viện Đ để cấp cứu nhưng do thương tích nặng nên đã chết ngay sau đó.
Tại Công văn số 2257/SLĐTBXH-TTr ngày 12-5-2023, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Đ xác định:
- Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn lao động
- Các tổ chức, cá nhân có lỗi trong vụ tai nạn
- Chưa tổ chức huấn luyện công tác an toàn, vệ sinh lao động cho ông Nguyễn Thanh S (là người lao động làm việc trong thời gian thử việc) trước khi bố trí làm việc nhằm trang bị đủ kiến thức, kỹ năng cần thiết về đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình lao động, phù hợp với vị trí công việc được giao. Hành vi này vi phạm khoản 4 Điều 14 Luật An toàn, Vệ sinh lao động năm 2015, Chương III của Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15-5-2016, Nghị định số 140/2018/NĐ-CP ngày 08-10-2018 của Chính phủ.
- Chưa trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động (bao gồm người thử việc) để thực hiện công việc phá bê tông, phụ nề (thiếu: Quần, áo lao động phổ thông, mũ chống chấn thương sọ não, găng tay vải bạt, giày vải bạt thấp cổ, kính chống bụi hoặc chống chấn thương cơ học). Hành vi này vi phạm Điều 23 Luật An toàn, Vệ sinh lao động năm 2015, Thông tư số 04/2014/TT-BLĐTBXH ngày 12-02-2014 của Bộ L1 (Mục XXII của Phụ lục I - Danh mục trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân trang bị cho người lao động làm nghề, công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại).
Do đơn vị thi công chưa thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn cho người lao động khi tổ chức làm công việc khoan, phá bê tông dưới hố đất, nên trong quá trình ông Nguyễn Thanh S thao tác thực hiện công việc bị khối đất (kích thước dài 3,5m, cao 1,95m, ngang 0,3m) sạt, lở đè lên người ông S gây ra tai nạn.
Ông Lê Ngọc T - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần X là người sử dụng lao động, chịu trách nhiệm trước pháp luật về thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động có lỗi:
Ông Nguyễn Văn T2 (người chịu trách nhiệm quản lý, điều hành, giám sát an toàn tại công trình):
- Triển khai thực hiện thi công móng băng tại công trình chưa đúng theo bản vẽ thiết kế biện pháp thi công móng băng do Công ty Cổ phần X ban hành. Hành vi này vi phạm khoản 1 Điều 17 Luật An toàn, Vệ sinh lao động năm 2015.
- Chưa tham mưu, giúp người sử dụng lao động tổ chức huấn luyện công tác an toàn, vệ sinh lao động cho người thử việc trước khi tuyển dụng hoặc bố trí làm việc. Hành vi này vi phạm khoản 2 Điều 72 Luật An toàn, Vệ sinh lao động năm 2015.
- Thiếu kiểm tra, giám sát để người lao động làm việc một mình trong khu vực hố đào. Hành vi này vi phạm Điểm 2.8.1.3 của QCVN 18:2021/BXD được ban hành kèm theo Thông tư số 16/2021/TT-BXD ngày 20-12-2021 của Bộ X1, điểm b khoản 18 Điều 13 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26-02-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng.
Ông Nguyễn Thanh S (người bị nạn):
Trong quá trình thực hiện công việc, ông S chưa chấp hành nghiêm nhiệm vụ do ông Nguyễn Văn T2 giao, cụ thể: ông S chưa thực hiện xong công việc khoan bê tông ở hố đất được giao đã sang hố đất (nơi xảy ra tai nạn) để làm việc dẫn đến bị khối đất sạt, lở đè lên người gây tai nạn. Như vậy, ông S chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Hành vi này vi phạm khoản 2 Điều 6 và Điều 17 Luật An toàn, Vệ sinh lao động năm 2015.
Tại Kết luận giám định số 205/KLGĐ-PC09 ngày 21-02-2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, xác định nguyên nhân chết của anh S là do: chấn thương sọ não và vùng mặt hở vỡ lún xương hộp sọ, dập não, gãy xương mũi, xương gò má.
Về trách nhiệm dân sự: Lê Ngọc T và Nguyễn Văn T2 đã bồi thường cho gia đình của anh Nguyễn Thanh S số tiền là 195.000.000 đồng. Gia đình của anh S đã nhận đủ tiền, không có yêu cầu gì khác về dân sự.
Tại Cáo trạng số 125/CT-VKS-TPLK ngày 08 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố các bị cáo về tội: “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị như sau: (1) Về tội danh: đề nghị tuyên bố các bị cáo phạm tội: “Vi phạm quy định về an toàn lao động”. (2) Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo T2 mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo T 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách của các bị cáo theo quy định.
- Ý kiến tranh luận của các bị cáo: các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tham gia tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ý kiến tranh luận của đại diện hợp pháp của bị hại (ông N): sự việc xảy ra không ai mong muốn, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt nhẹ nhất cho các bị cáo.
- Lời nói sau cùng của các bị cáo:
Bị cáo T: qua sự việc xảy ra, bị cáo đã có được kinh nghiệm trong việc đảm bảo an toàn cho người lao động trong quá trình thi công, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo T2: bị cáo đã nhận thức được sai lầm của bị cáo trong công tác đảm bảo an toàn cho người lao động, bị cáo sẽ chú ý hơn để đảm bảo an toàn cho người lao động khi thi công công trình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, sơ đồ và bản ảnh hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác, đủ cơ sở kết luận: bị cáo Lê Văn T6 là đại diện theo pháp luật của Công ty X (đơn vị thi công) và bị cáo Nguyễn Văn T2 (đội trưởng đội thi công, chỉ huy công trình kiêm cán bộ kỹ thuật, cán bộ an toàn lao động) đã chưa thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn cho người lao động khi tổ chức làm công việc khoan, phá bê tông dưới hố đất trong quá trình hạng mục phần móng, cổ cột, đà khiêng, khung bê tông cốt thép khu LKV9 + LKV15 + LKV16 của công trình nhà ở xã hội phường B. Hành vi của bị cáo T6 vi phạm vi phạm khoản 4 Điều 14 Luật An toàn, Vệ sinh lao động năm 2015, Chương III của Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15-5-2016; Nghị định số 140/2018/NĐ-CP ngày 08-10-2018 của Chính phủ; Điều 23 Luật An toàn, Vệ sinh lao động năm 2015, Thông tư số 04/2014/TT-BLĐTBXH ngày 12-02-2014 của Bộ L1 (Mục XXII của Phụ lục I - Danh mục trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân trang bị cho người lao động làm nghề, công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại). Hành vi của bị cáo T2 vi phạm khoản 1 Điều 17 Luật An toàn, Vệ sinh lao động năm 2015; khoản 2 Điều 72 Luật An toàn, Vệ sinh lao động năm 2015; điểm 2.8.1.3 của QCVN 18:2021/BXD được ban hành kèm theo Thông tư số 16/2021/TT-BXD ngày 20-12-2021 của Bộ X1, điểm b khoản 18 Điều 13 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 26-02-2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng. Từ các vi phạm nêu trên của các bị cáo, nên trong quá trình ông Nguyễn Thanh S (là người lao động thử việc) thao tác thực hiện công việc bị khối đất (kích thước dài 3,5m, cao 1,95m, ngang 0,3m) sạt, lở đè lên người ông S gây ra vụ tai nạn lao động, hậu quả làm ông S bị thương tích nặng, sau đó tử vong tại Bệnh viện Đ. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về an toàn lao động”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn công cộng; trong quá trình lao động, sản xuất, các bị cáo đã không tuân thủ các quy định về an toàn lao động, dẫn đến xảy ra vụ tai nạn lao động, hậu quả làm người lao động tử vong. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến tính mạng của bị hại mà còn ảnh hưởng đến trật tự, trị an tại địa phương. Do đó, việc xử lý các bị cáo theo pháp luật hình sự là cần thiết, nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội, cần có hình phạt đủ nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra.
[4] Về nhân thân:
Các bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho các bị cáo các tình tiết giảm nhẹ sau đây: (1) Quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; (2) Tích cực bồi thường thiệt hại theo các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Ngoài ra, các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình có con nhỏ; trong vụ tai nạn lao động, bị hại Nguyễn Thanh S có lỗi một phần do chưa thực hiện xong công việc khoan bê tông ở hố đất được giao đã sang hố đất (nơi xảy ra tai nạn) để làm việc dẫn đến bị khối đất sạt, lở đè lên người gây tai nạn, chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc, vi phạm khoản 2 Điều 6 và Điều 17 Luật An toàn, Vệ sinh lao động năm 2015, từ lý do trên nên áp dụng thêm cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[7] Về các căn cứ khác để quyết định hình phạt:
Các bị cáo đều có các hành vi vi phạm Luật An toàn, Vệ sinh lao động, đều là nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn lao động, lỗi của các bị cáo trong vụ án là ngang nhau. Tuy nhiên, với vai trò là người đứng đầu doanh nghiệp, chịu trách nhiệm trước pháp luật về công tác an toàn, vệ sinh lao động, bị cáo T6 phải là người chịu trách nhiệm lớn hơn, nên hình phạt của bị cáo T6 phải nghiêm khắc hơn bị cáo T2. Ngoài ra, vụ tai nạn lao động xảy ra một phần lỗi do người lao động, vì vậy khi quyết định hình phạt, cần phải xem xét, cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[8] Về hình phạt chính:
Nhận thấy, các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội do lỗi vô ý, đã thật sự ăn năn, hối cải về hành vi của mình, được đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, tại phiên toà xin giảm nhẹ hình phạt; lỗi một phần trong vụ án thuộc về bị hại. Các bị cáo đều là người có trình độ học vấn, có khả năng tự cải tạo, giáo dục nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách là đủ nghiêm, tạo điều kiện cho các bị cáo tiếp tục lao động để cống hiến cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[9] Về hình phạt bổ sung: miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo, vì các bị cáo hiện là lao động chính, đều có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi.
[10] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, các bị cáo đã bồi thường thiệt hại số tiền 195.000.000đ (Một trăm chín mươi lăm triệu đồng) cho gia đình bị hại. Đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Về luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà:
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà về đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, tuy nhiên Kiểm sát viên phân hoá vai trò của bị cáo T2 cao hơn bị cáo T6 là không phù hợp, bởi lẽ bị cáo T6 là người sử dụng lao động, nên phải là người chịu trách nhiệm chính về công tác an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình thi công công trình, vì vậy chỉ chấp nhận một phần đề nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015;
- Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15-4-2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
1. Về tội danh: tuyên bố các bị cáo Lê Ngọc T, Nguyễn Văn T2 phạm tội: “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lê Ngọc T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, (ngày 31-7-2024).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, (ngày 31-7-2024).
Giao bị cáo Lê Ngọc T cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; giao bị cáo Nguyễn Văn T2 cho Ủy ban nhân dân phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
3. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại (ông N); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; đại diện hợp pháp của bị hại (bà T4, chị C) được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đăng Tố |
Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về an toàn lao động
- Số bản án: 122/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Ngọc Toàn và đồng phạm có hành vi vi phạm an toàn lao động
