Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 122/2024/HS-PT

Ngày 30-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:Bà Bùi Thị Thu Hằng
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Quang Kiên
Bà Bùi Thị Thúy Hà

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 116/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HS-ST ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1989, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và con bà Nguyễn Thị T1; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 21/02/2024; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Ông Bùi Văn B – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H; có mặt.

- Bị hại: Anh Vũ Văn H, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/8/2023, Công an xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng nhận được đơn trình báo của anh Vũ Văn H, sinh năm 1990 về việc anh bị Nguyễn Văn T, cùng ở thôn B, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng chiếm đoạt tài sản là xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ đen, BKS: 16P9-0657. Sau khi nhận được đơn trình báo, Công an xã C đã tiến hành xác minh, lập biên bản và chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T để tiến hành điều tra theo thẩm quyền. Sau khi biết hành vi phạm tội bị phát hiện, T bỏ trốn đến ngày 21/02/2024 T đến Công an huyện T đầu thú.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận: T là người khuyết tật nặng, đang hưởng chế độ trợ cấp theo Quyết định số 13470/QĐ-UBND ngày 31/8/2022 của Ủy ban nhân dân huyện T. Vào khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 23/7/2023 T đang ở nhà thì thấy bạn là anh Vũ Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ đen, BKS: 16P9-0657 đến nhà Trường chơi, anh H bảo T đi mua thuốc lá và giao xe mô tô trên cho T làm phương tiện để đi mua thuốc lá. Sau khi mua được thuốc lá T mang xe về trả cho anh H. Lúc này do cần tiền chi tiêu cá nhân nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của anh H để mang bán. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, thực hiện ý định trên, lợi dụng khi anh H để ví ở đầu giường trong phòng ngủ của T để đi vệ sinh, T đã tự ý mở ví lấy đăng ký xe mô tô BKS: 16P9-0657 cất vào trong người, khi thấy anh H quay lại T nói dối anh H "Tao mượn xe chạy ra đây một tý rồi về", tin lời T, anh H đồng ý. Sau đó, T cầm theo đăng ký và điều khiển xe mô tô BKS: 16P9-0657 của anh H đi thẳng đến cửa hàng mua bán xe cũ của anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1983, nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện T bán với giá 7.000.000 đồng. Khi bán xe T không nói cho anh T2 biết đây là tài sản T lừa đảo mà có. Số tiền bán xe có được T đã một mình sử dụng ăn tiêu hết rồi bỏ trốn.

Người bị hại là anh Vũ Văn H khai nhận: Sau khi cho T mượn xe, thấy T đi lâu không quay lại, anh H gọi điện thoại cho T thì T nói "Anh đi xuống nhà chị để lấy tiền". Sau đó, anh H tiếp tục gọi điện thoại cho T nhiều lần để lấy lại xe nhưng T không nghe máy. Lúc này, anh H mở ví ra kiểm tra thì phát hiện bị mất 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS: 16P9-0657 mang tên Đoàn Mạnh D, địa chỉ số B phố Đ, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng. Lúc này, biết đã bị T chiếm đoạt tài sản nên anh đã đến Công an xã C trình báo. Chiếc xe mô tô trên anh H mua tại cửa hàng mua bán xe cũ của anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1988, nơi cư trú: thôn E, xã A, huyện T từ tháng 9/2021 với giá 12.000.000đ cùng 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS: 16P9 - 0659 mang tên Đoàn Mạnh D địa chỉ: Số B phố Đ, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn T2 trình bày phù hợp với lời khai của Nguyễn Văn T: Anh T2 là chủ cửa hàng mua bán xe máy cũ ở thôn C, xã T, huyện T, khoảng 14 giờ 00 phút ngày 23/7/2023 khi anh đang ở cửa hàng thì có một nam thanh niên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu đỏ đen, BKS: 16P9-0657 đến cửa hàng để bán, đồng thời nam thanh niên này có đưa giấy đăng ký xe, căn cước công dân cho anh xem. Hai bên thoả thuận mua bán xe với giá 7.000.000đ, có viết giấy tờ mua bán xe. Khi mua xe anh T2 không biết chiếc xe mô tô trên là tài sản do phạm tội mà có. Anh T2 đã tự nguyện giao nộp chiếc xe trên cho cơ quan Công an. Số tiền 7.000.000 đồng anh đã được T bồi thường, anh không yêu cầu đề nghị gì khác.

Ngày 29/9/2023, tại Kết luận số 69/KL-HĐĐGTS, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 chiếc xe mô tô BKS: 16P9-0657 nhãn hiệu Yamaha loại xe Jupiter, màu đỏ đen, đã qua sử dụng có giá trị là 5.000.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 83/CT- VKSTN ngày 28/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HS-ST ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, h, i, s, p khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về miễn nộp án phí đối với bị cáo và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội cũng như vai trò của từng bị cáo và xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là phù hợp với pháp luật. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Bị cáo được miễn án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 02/7/2024, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo, Viện Kiểm sát không kháng nghị. Kháng cáo bị cáo Nguyễn Văn T trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn xét xử sơ thẩm; phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Ngày 17/08/2023, bị cáo đã nói dối bị hại H mượn xe mô tô của bị hại đi có việc, sau đó cầm theo đăng ký và điều khiển xe mô tô BKS: 16P9-0657 của bị hại để bán với giá 7.000.000 đồng lấy tiền tiêu dùng cá nhân. Với hành vi nêu trên đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 06 (Sáu) tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật.

- Xét kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo.

[3] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét: Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s, i, p khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đồng thời áp dụng mức hình phạt khởi điểm đối với bị cáo trong khung hình phạt là không nặng. Tuy nhiên tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa cấp phúc thẩm, bị cáo không đưa ra được tài liệu, chứng cứ mới. Tài liệu trong hồ sơ thể hiện: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhưng bị cáo thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú. Như vậy, việc bị cáo thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú thì không đủ điều kiện để được hưởng án treo, chính quyền địa phương không thể giám sát, giáo dục bị cáo được. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo; cần giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HS-ST ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm. Tuy nhiên, do bị cáo Nguyễn Văn T là người khuyết tật nặng nên được miễn án phí hình sự phúc thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HS-ST ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, h, i, s, p khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Nguyễn Văn T tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Tiếp tục duy trì Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Văn T cho đến khi bị cáo Nguyễn Văn T đi thi hành án phạt tù.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn T là người khuyết tật nặng nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HS-ST ngày 24/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1-TANDTC;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Thủy Nguyên;
  • - TAND huyện Thủy Nguyên;
  • - PV06 Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT huyện Thủy Nguyên;
  • - Cơ quan THAHS huyện Thủy Nguyên;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu Hằng

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HS-PT ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 122/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự phúc thẩm xét xử về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger