Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/DS-ST

Ngày: 30/7/2024.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRỊ, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Hồ Thị Yến Nhi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hoàng Tân.

Ông Trần Văn Chu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như, thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba tri, tỉnh Bến Tre

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba tri tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba tri, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 149/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2024/QĐXX- ST ngày 16 tháng 07 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phan Huy T, sinh năm 1966 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số I ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị Yến N, sinh năm 1990 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Bị đơn: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1962 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Bà Lê Thị T1 có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 28/6/2024.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn T2, sinh năm 1963 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Ông Trần Văn T2 có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 28/6/2024.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 28/3/2024 và trong quá trình tố tụng sơ thẩm cũng như tại phiên Tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chị Lê Thị Yến N trình bày:

Ông Phan Huy T là chủ cơ sở mua bán thức ăn chăn nuôi H (tên gọi khác là Huy T3) tại xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. Vào khoảng năm 2020, ông có bán thức ăn chăn nuôi gà cho vợ chồng bà T1, ông T2, hai bên thỏa thuận ông T sẽ giao thức ăn cho ông bà có sổ theo dõi khi ông bà bán gà sẽ thanh toán tiền cho ông T. Hai bên mua bán thuận lợi cho đến ngày 10/6/2022, ông T có tổng kết số tiền bà T1, ông T2 còn nợ là 49.855.000 đồng và yêu cầu trả tiền thì vợ chồng bà T1, ông T2 hứa đến đầu năm 2023 sẽ trả tất nợ nên ông T đã ngưng giao thức ăn cho bà T1, ông T2. Mục đích bà T1, ông T2 chăn nuôi để phát triển kinh tế gia đình.

Đến ngày 8/5/2023, ông T tiếp tục yêu cầu vợ chồng bà T1, ông T2 trả tiền thì bà T1 có viết giấy xác nhận nợ là còn nợ số tiền 49.855.000 đồng. Đồng thời bà T1 có ký tên và ghi họ tên vào giấy xác nhận nợ.

Sau đó, ông T đã nhiều lần đến nhà bà T1, ông T2 để yêu cầu thanh toán nợ theo giấy xác nhận nợ đề ngày 08/5/2023 nhưng bà T1, ông T2 không thanh toán cho ông. Đến ngày 14/12/2023, bà T1 lại viết giấy xác nhận nợ cho ông T. Theo nội dung giấy xác nhận nợ, bà T1 ghi tên cả hai vợ chồng bà còn nợ ông T số tiền 49.855.000 đồng và ký tên, ghi họ tên bà T1.

Do đó, nay ông T làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ba Tri giải quyết buộc bà Lê Thị T1 và ông Trần Văn T2 có trách nhiệm liên đới trả cho ông T số tiền 49.855.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 09/6/2024 cho đến khi giải quyết xét xử xong vụ án (tính đến ngày xét xử vụ án là 13 tháng 21 ngày) với mức lãi suất 0,83%/tháng,.

Như vậy, tổng cộng số tiền ông T yêu cầu bà Lê Thị T1 và ông Trần Văn T2 có trách nhiệm liên đới trả là 55.523.000 đồng. Trong đó, nợ gốc là 49.855.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày xét xử là 5.668.000 đồng.

* Tại Bản tự khai đề ngày 28/6/2024, bị đơn bà Lê Thị T1 trình bày:

Bà thừa nhận bà và ông T2 là vợ chồng. Trước đây, bà có mua thức ăn nuôi gà của ông Phan Huy T. Tuy nhiên, do nuôi gà thua lỗ nên vợ chồng bà còn nợ ông T số tiền là 49.855.000 đồng. Đồng thời bà thừa nhận chữ viết, chữ ký trong giấy nợ đề ngày 14/12/2023 là của bà.

Qua yêu cầu khởi kiện của ông T, bà đồng ý liên đới với ông T2 trả số tiền mua thức ăn còn nợ cho ông Phan Huy T. Tuy nhiên do nuôi gà thua lỗ, gia đình gặp khó khăn về kinh tế nên bà xin được trả dần số tiền gốc còn nợ và không đồng ý trả số tiền lãi.

* Tại Bản tự khai đề ngày 28/6/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T2 trình bày:

Ông thừa nhận ông và bà Lê Thị T1 là vợ chồng. Trước đây, ông và bà T1 có chăn nuôi gà và mua thức ăn gà của ông Phan Huy T. Do nuôi gà bị chết nên vợ chồng ông còn nợ ông T số tiền mua thức ăn là 49.855.000 đồng.

Qua yêu cầu khởi kiện của ông T, ông đồng ý liên đới với bà T1 trả số tiền mua thức ăn gà còn nợ cho ông Phan Huy T là 49.855.000 đồng. Hiện nay, do hoàn cảnh kinh tế gặp khó khăn xin trả dần số tiền gốc còn nợ là 49.855.000 đồng và không đồng ý trả lãi đối với số tiền còn nợ.

* Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thấy rằng Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư khách quan, độc lập khi xét xử. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng điều 430, 434, 440, 468 Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Huy T, buộc bà Lê Thị T1 và ông Trần Văn T2 phải trả cho ông T số tiền 49.855.000đ + lãi suất.
  • Về án phí dân sự sơ thẩm: đương sự nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà Lê Thị T1 và ông Trần Văn T2 có đăng ký thường trú và hiện còn đang sinh sống tại ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

[2] Bị đơn bà Lê Thị T1 và ông Trần Văn T2 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 28/6/2024 (Bút lục 38, 42) nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T1, ông T2 là phù hợp quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ là 49.855.000 đồng.

Cơ sở chứng cứ:

+ Sổ tay mua bán, trong đó có trang giấy kết nợ ghi ngày 14 tháng 12 năm 2023 có chữ ký của bà Lê Thị T1.

Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông T và bị đơn bà T1 đều xác định được giữa hai bên có giao dịch mua bán thức ăn nuôi gà với nhau, đến ngày 14/12/2023, hai bên kết nợ lại, bà T1 còn nợ ông T số tiền là 49.855.000 đồng. Lời thừa nhận này là tự nguyện, phù hợp với lời khai của nguyên đơn và chứng cứ do nguyên đơn giao nộp có trong hồ sơ vụ án, cụ thể sổ tay mua bán, trong đó có trang giấy kết nợ ghi ngày 14 tháng 12 năm 2023 có chữ ký của bà Lê Thị T1, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh và công nhận sự thật nêu trên.

Thấy rằng bà T1 đã sử dụng hết quyền nhận tài sản, nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ cho nguyên đơn, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà T1 trả nợ tiền mua tài sản còn thiếu là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 430, 440 của Bộ luật dân sự năm 2015, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về lãi suất:

Do bà Lê Thị T1 chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền thức ăn nên ông Phan Huy T yêu cầu trả lãi từ ngày 09/06/2023 cho đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm (tính đến ngày 30/7/2024 là 13 tháng 21 ngày) với lãi suất 0.83%/tháng là phù hợp với quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cụ thể:

(49.855.000 đồng x 0,83%/tháng x 13 tháng) + (49.855.000 đồng x 0,83%: 30 ngày * 21 ngày) = 5.669.012 đồng.

Như vậy tổng cộng gốc và lãi bà T1 có nghĩa vụ trả cho ông T với số tiền là 49.855.000 đồng (gốc) + 5.669.012 đồng (lãi) = 55.524.012 đồng.

Ghi nhận ý kiến của nguyên đơn về việc trả nợ trong giai đoạn thi hành án nếu bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trả nợ tốt, nguyên đơn sẽ xem xét giảm lãi trong gia đoạn thi hành án.

[5] Xét trách nhiệm liên đối của ông Trần Văn T2, Hội đồng xét xử, xét thấy:

Căn cứ vào Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa bà Lê Thị T1 và ông Trần Văn T2 (Bút lục số 28), bà T1 và ông T2 có đăng ký kết hôn vào năm 1996 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre nên ông, bà là vợ chồng hợp pháp, hiện tại vẫn sống và sinh hoạt chung gia đình với nhau, cùng làm ăn kinh tế chung tại địa phương. Đồng thời bà T1 và ông T2 đều thừa nhận đây là nợ chung của vợ chồng nên ông Trần Văn T2 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền còn nợ cho ông Phan Huy T là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 27 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Đối với lời trình bày của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba tri về quan điểm giải quyết vụ án: Phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Huy T được chấp nhận toàn bộ, nên bà Lê Thị T1 và ông Trần Văn T2 phải liên đới chịu án phí của số tiền 55.524.012 đồng, số tiền án phí được tính là 2.776.000 đồng (Hai triệu bảy trăm bảy mươi sáu nghìn đồng). Tuy nhiên, bà T1 và ông T2 là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền án phí, nên ông, bà được miễn nộp toàn bộ số tiền án phí ông, bà phải chịu theo quy định

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 357, 430, 440, 468 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ vào các Điều 27, 30, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Lê Thị T1 và ông Trần Văn T2 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Phan Huy T số tiền nợ mua thức ăn là 55.524.012 đồng (Năm mươi lăm triệu năm trăm hai mươi bốn nghìn không trăm mười hai đồng). Trong đó tiền vốn gốc là 49.855.000 đồng, tiền lãi là 5.669.012 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoán tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị T1 và ông Trần Văn T2 được miễn nộp toàn bộ số tiền mà ông, bà phải chịu.

Hoàn trả cho ông Phan Huy T số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp 1.339.000 đồng (Một triệu ba trăm ba mươi chín nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001061 ngày 08/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Tri.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm ngày), kể từ ngày tuyên án. Đối với bà Lê Thị T1 và ông Trần Văn T2 vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (phòng KTNV và THA);
  • - VKSND huyện Ba tri;
  • - Chi cục THADS huyện Ba tri;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hồ Thị Yến Nhi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng mua bán

  • Số bản án: 122/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger