|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 112/2024/HS-ST;
Ngày: 29-8-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Trang;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tất Ái;
- Bà Nguyễn Thị Nhung.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Như Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phước - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2024/HSST ngày 15 tháng 4 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/HSST-QĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/HSST-QĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2024/HSST-QĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Đỗ Văn M (tên gọi khác Q) sinh năm 2002, tại tỉnh Long An; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú; Chỗ ở hiện nay: Ấp V, xã A, thành phố T, tỉnh Long An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; con ông Đỗ Văn K (đã chết) và con bà: Vo danh; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền sự: 01 lần. Ngày 26/12/2021, bị Công an thành phố T, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (QĐ số 183/QĐ-XPHC).
Tiền án: 01 lần. Ngày 25/4/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (Bản án số 27/HSST). Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2022.
Về nhân thân: Ngày 29/11/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 96/HSST). Bị
- 2 -
cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/6/2021, lúc phạm tội chưa thành niên nên được coi là không có án tích; Ngày 31/7/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ tỉnh Long An xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 14/HSST). Bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Long An, có mặt tại phiên tòa.
- Trần An L (Tên gọi khác H) sinh ngày 22 tháng 5 năm 1996, tại tỉnh Long An; Số CCCD [...]; Nơi cư trú: Số H Quốc lộ A, phường B, thành phố T, tỉnh Long An; Nơi ở hiện nay: Ấp V, xã A, thành phố T, tỉnh Long An; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Trần Văn A sinh năm 1966 và bà Đỗ Thị Thùy D sinh năm 1972; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 23/09/2023, tạm giam ngày 02/10/2023. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an thành phố M, có mặt phiên tòa.
Bị hại:
- Trần Minh T sinh năm 1989 (vắng mặt);
- Phan Thị Kim Thư sinh năm 2005 (vắng mặt);
Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: số I ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Trần Văn Bé T1, sinh năm 1962 (vắng mặt);
- Phan Thị Mỹ H1, sinh năm 1978 (có mặt);
- Lê Minh T2 sinh năm 1990 (vắng mặt);
Nơi cư trú: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: tổ A ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Đỗ Văn M và bị cáo Trần An L là anh em cô, cậu ở chung nhà. Do muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo M rủ bị cáo L đi trộm tài sản, được L đồng ý. Vào ngày 10/8/2023 và ngày 06/9/2023, bị cáo M và bị cáo L đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố M, tỉnh Tiền Giang, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Sáng ngày 10/8/2023, bị cáo Đỗ Văn M điều khiển xe mô tô loại Wave, màu đỏ có gắn biển số 62N4-8053 của bị cáo M chở bị cáo L từ thành phố T, tỉnh Long An đến thành phố M, tỉnh Tiền Giang tìm tài sản trộm. Khoảng 13 giờ 19 phút cùng ngày tại dãy nhà trọ số A, ấp D, xã Đ, thành phố M, bị cáo M
- 3 -
thấy xe mô tô loại Wave, màu đỏ-xám-đen, biển số 63B2-003.06 (xe của anh Trần Minh T) dựng trong lối đi dãy nhà trọ không người trông coi, bị cáo M dừng xe lại đi bộ vào trong, bị cáo L ngồi bên ngoài đợi. Sau đó, bị cáo M vào trong trộm xe dẫn ra ngoài, do xe không có chìa khóa nên bị cáo M lên xe ngồi để bị cáo L từ phía sau điều khiển dùng chân đẩy xe bị cáo M chạy về thành phố T. Tại đây, bị cáo M hoán đổi biển số của hai xe, rồi bán xe của bị cáo M có gắn biển số 63B2-003.06 tại điểm thu mua phế liệu tại phường E, thành phố T, tỉnh Long An, không nhớ số tiền tiêu xài cá nhân.
Vụ thứ hai: Trưa ngày 06/9/2023, bị cáo M sử dụng xe mô tô trộm của anh Trần Minh T gắn biển số 62N4-8053 tiếp tục chở bị cáo L đi trộm tài sản, trước khi đi bị cáo M đem theo 01 đoạn kim loại. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, cả hai thấy xe mô tô loại Future FI, màu đen-đỏ, biển số 63B4-181.34 (xe của chị Phan Thị Kim T3) dựng trên vĩa hè trước quán trà dâu “Kim Sài G” tại số F đường L, phường D, thành phố M không người trông coi nên quay lại. Bị cáo M xuống xe dùng thanh kim loại bẻ khóa lấy trộm xe rồi cả hai chạy về tỉnh Long An. Khi về đến nhà tại tỉnh Long An, bị cáo M tháo biển số 63B4-181.34 ra và gọi điện thoại cho người tên Lê Sơn T4 sinh năm 1996, ngụ: Số H đường N, phường K, thành phố T, tỉnh Long An đến nhờ bán xe Future. T4 đem xe bán được 4.000.000 đồng, bị cáo M cho T4 500.000 đồng, chia bị cáo L 1.500.000 đồng, số còn lại bị cáo M tiêu xài cá nhân. Sau đó, bị cáo M đem xe Wave trộm của anh Trần Minh T (vụ thứ nhất) đến huyện Đ, tỉnh Long An bán cho người nam (không họ, tên, địa chỉ) được 1.500.000 đồng tiêu xài cá nhân. Sau khi bán xe bị cáo M ném bỏ biển số 62N4-8053 ở ven đường.
Sau đó, bị cáo L bị bắt giữ để điều tra. Riêng bị cáo M sau khi phạm tội đã bỏ trốn nên sau khi khởi tố bị can, ngày 26/9/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T ra quyết định truy nã đối với bị cáo M. Đến ngày 09/3/2024, bị cáo M bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Long An bắt tạm giam trong vụ án khác.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 1003 ngày 02/10/2023; số 1147 ngày 01/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M kết luận: Xe mô tô hiệu Honda, biển số 63B2-003.06, màu đỏ-xám-đen số khung: 4315BY087552, số máy: C43E-1633304, trị giá 5.400.000 đồng; Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future FI, màu đen-đỏ, biển số: 63B4-181.34, số khung 5343DY000251, số máy: C54E-1001147, trị giá 9.600.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 50/CT-VKSMT ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã truy tố bị cáo Đỗ Văn M và Trần An L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho vẫn giữ nguyên quan điểm về tội danh và khung hình phạt như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Văn M từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị tổng hợp hình phạt với Bản án Bản án số 14/HSST ngày 31-7-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự xử
- 4 -
phạt bị cáo Trần An Lộc M1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tạm giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Mỹ Tho 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu trắng, qua tra cứu là xe loại Wave màu trắng-đen-bạc, có số máy: JA39E0121841, số khung: RLHJA3906HY121764 để giải quyết theo quy định.
Trả lại cho bị hại Phan Thị Kim T3 biển số 62M1-463.23.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 đôi dép bằng nhựa màu xanh, loại dép kẹp; 01 đôi dép bằng cao su màu xám có quai màu đen; 01 đoạn kim loại màu trắng có một đầu uốn cong; 01 đoạn kim loại màu đen có một đầu mũi nhọn; 01 áo sơ mi màu xanh dài tay trên cổ áo có chữ “Give Collection"; 01 áo sơ mi dài tay sọc caro đen trắng; 01 nón bảo hiểm màu xanh có chữ “Nón sơn”.
Đề nghị tạm giữ 01 điện thoại di động hiệu Samsung và 01 điện thoại di động hiệu OPPO để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo Đỗ Văn M và Trần An L có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Trần Minh T số tiền 5.400.000 đồng, và bồi thường cho bị hại Phan Thị Kim T3 số tiền 9.600.000 đồng.
Phát biểu tự bào chữa của bị cáo Đỗ Văn M và Trần An L: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không có khiếu nại hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và trong quá trình điều tra, những người tham gia tố tụng nêu trên đã có lời khai cụ thể, đầy đủ, rõ ràng. Xét thấy sự vắng mặt của họ không gây khó khăn cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 và Điều 299 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên theo thủ tục chung.
[3] Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Văn M và Trần An L đã khai nhận về hành vi phạm tội như sau: Vào ngày 10/8/2023 và ngày 06/9/2023 Đỗ Văn M và Trần An L đã lợi dụng sự chủ quan của bị hại khi để tài sản không có người trông coi. Bị
- 5 -
cáo M và bị cáo L cùng nhau thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản gồm xe mô tô loại Future FI, biển số 63B4-181.34 và xe mô tô loại Wave, biển số 63B2-003.06 trên địa bàn thành phố M, tỉnh Tiền Giang của các bị hại Trần Minh T và Phan Thị Kim T3 với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 15.000.000 đồng. Bị cáo M và bị cáo L là người có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được hành vi lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài và lười lao động nên các bị cáo đã cố ý phạm tội. Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Văn M và Trần An L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản. Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, bị cáo M là người rủ rê và cùng bị cáo L trực tiếp thực hiện tội phạm. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã đưa ra chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo M và bị cáo L về tội phạm nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo M và bị cáo L đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, hành vi đó không chỉ làm thiệt hại đến tài sản của người khác mà còn gây hoang mang làm cho nhân dân không an tâm lao động, sản xuất, gây mất trật tự xã hội. Do vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc là cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục cho các bị cáo biết tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung.
[4] Đối với người tên Lê Sơn T4 bán dùm xe bị cáo M và được bị cáo M cho 500.000 đồng từ việc bán xe. Qua xác minh Lê Sơn T4 không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa triệu tập làm việc được, hiện tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý trong vụ án khác là phù hợp với quy định pháp luật.
[5] Về nhân thân của bị cáo Đỗ Văn M: Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” và có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra vào năm 2019 và tháng 7 năm 2024, bị cáo M bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”. Hội đồng xét xử nhận định bị cáo M có nhân thân không tốt, bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật và không có ý thức tu dưỡng bản thân để trở thành công dân tốt.
Về nhân thân của bị cáo Trần An L: Bị cáo không có tiền sự, không có tiền án.
[6] Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo M và bị cáo L đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo M và bị cáo L đều cùng thực hiện hai vụ trộm nên thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Ngày 31/7/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ tỉnh Long An xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (Bản án số 27/HSST ngày 25-4-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An xử phạt bị cáo mạnh 09 tháng tù về tội “Trộm
- 6 -
cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự). Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm”.
[7] Về vật chứng: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu trắng, qua tra cứu là xe loại Wave màu trắng-đen-bạc, biển số 62M1-463.23 có số máy: JA39E0121841, số khung: RLHJA3906HY121764 do anh Lê Minh T2, sinh năm 1990, ngụ: Ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An đứng tên sở hữu vào năm 2017, đến năm 2018 anh T2 đã bán lại xe cùng giấy tờ cho người tên T5 (không rõ họ tên, địa chỉ) nhưng không làm thủ tục mua, bán. Anh T2 không có yêu cầu gì đối với chiếc xe. Bị cáo M khai đã trộm xe mô tô trên địa bàn huyện B, tỉnh Long An nhưng không nhớ rõ thời gian. Sau khi trộm bị cáo M đã tháo biển số ném bỏ xuống sông. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có văn bản thông báo đến Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Long An để truy tìm bị hại xử lý theo thẩm quyền. Do đó, cần tiếp tục giao cho Cảnh sát điều tra Công an thành phố M tạm giữ để giải quyết theo quy định.
Đối với biển số 63B4-181.34 là biển số xe của bị hại Phan Thị Kim T3 nên cần trả lại cho bị hại Phan Thị Kim T3.
Đối với các vật chứng gồm: 01 đôi dép bằng nhựa màu xanh, loại dép kẹp; 01 đôi dép bằng cao su màu xám có quai màu đen; 01 đoạn kim loại màu trắng có một đầu uốn cong; 01 đoạn kim loại màu đen có một đầu mũi nhọn; 01 áo sơ mi màu xanh dài tay trên cổ áo có chữ “Give Collection”; 01 áo sơ mi dài tay sọc caro đen trắng; 01 nón bảo hiểm màu xanh có chữ “Nón sơn” là tài sản của các bị cáo. Các bị cáo đều không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu S1 là tài sản của bị cáo L và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen là tài sản của bị cáo M. Cả hai bị cáo đều không có yêu cầu nhận lại nên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Minh T và Phan Thị Kim T3 yêu cầu các bị cáo bồi thường theo kết quả định giá tài sản, cả hai bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường. Do đó, bị cáo Đỗ Văn M và Trần An L có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho bị hại Trần Minh T số tiền 5.400.000 đồng và bồi thường cho bị hại Phan Thị Kim T3 số tiền 9.600.000 đồng.
[9] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về mức hình phạt là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
[10] Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn M và Trần An L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo bị cáo Đỗ Văn M và bị cáo Trần An L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn M 02 (hai) năm tù.
- 7 -
Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tổng hợp hình phạt với Bản án số 14/2024/HSST ngày 31-7-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ tỉnh Long An, buộc bị cáo Đỗ Văn M phải chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là 01 tháng 3 năm 2024.
Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần An L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 23 tháng 9 năm 2023.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 và Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Mỹ Tho 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave alpha màu trắng. Tình trạng khi nhận xe: Xe không nổ máy, không kính chiếu hậu, không kiểm tra được bên trong cũng như chất lượng xe, có số máy JA39E-0121841, không tìm thấy số khung.
Trả cho bị hại Phan Thị Kim T3 biển số 63B4-181.34.
Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động màu bạc, phía sau có chữ S, model Sm-J510FN/DS (Tình trạng khi tiếp nhận, máy không lên nguồn, không kiểm tra được bên trong cũng như chất lượng điện thoại) và 01 điện thoại di động màu đen phía sau có chữ OPPO (Tình trạng khi tiếp nhận, máy không lên nguồn, không kiểm tra được bên trong cũng như chất lượng điện thoại).
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 đôi dép bằng nhựa màu xanh, loại dép kẹp; 01 đôi dép bằng cao su màu xám có quai màu đen; 01 đoạn kim loại màu trắng có một đầu uốn cong; 01 đoạn kim loại màu đen có một đầu mũi nhọn; 01 áo sơ mi màu xanh dài tay trên cổ áo có chữ “Give Collection”; 01 áo sơ mi dài tay sọc caro đen trắng; 01 nón bảo hiểm màu xanh có chữ “Nón sơn”.
Hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đang giữ toàn bộ các vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584 và Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015.
Bị cáo Đỗ Văn M và Trần An L có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho bị hại Trần Minh T số tiền 5.400.000 đồng (năm triệu bốn trăm nghìn đồng).
Bị cáo Đỗ Văn M và Trần An L có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho bị hại Phan Thị Kim T3 số tiền 9.600.000 đồng (chín triệu sáu trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bị hại Trần Minh T, Phan Thị Kim T3 có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo Đỗ Văn M và bị cáo Trần An L không trả số tiền nêu trên thì các bị cáo còn phải trả tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
- 8 -
Bị cáo Đỗ Văn M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần An L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Đỗ Văn M và bị cáo Trần An L có nghĩa vụ liên đới chịu 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án số 112/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 112/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: PHAT TU
