Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THÀNH

NGHỆ AN

Bản án số: 122/2023/HSST

Ngày: 28-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đồng Thị Lý.
  2. Ông Nguyễn Bá Tấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Tình - Kiểm sát viên

Ngày 28/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 115/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 106/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Như H, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1979 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm V, xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Như H1 và bà Lê Thị P; Có vợ là Nguyễn Thị T và 02 con; Tiền án - Tiền sự: Chưa có; Bị tạm giữ từ ngày 31/3/2023 và tạm giam từ ngày 09/4/2023 cho đến nay; Có mặt.
  2. Vũ Thành C, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1972 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm L, xã H, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Văn C1 (Đã chết) và bà Phạm Thị Đ; Có vợ là Phạm Thị Q và 02 con; Tiền án - Tiền sự: Chưa có; Bị tạm giữ từ ngày 31/3/2023 và tạm giam từ ngày 09/4/2023 cho đến nay; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 31/3/2021, tại khu vực khối C, thị trấn Y, huyện Y, tổ công tác Công an huyện Y phát hiện, bắt quả tang Vũ Thành C đang có hành vi tàng trữ 01 gói nilong màu đen, bên trong có 02 gói nilon chứa chất rắn màu trắng (C khai là ma túy Heroin). Tại cơ quan điều tra, C khai nhận về hành vi phạm tội như sau: Vào lúc 13 giờ 06 phút ngày 31/3/2023, khi C đang ở nhà thì Nguyễn Thế C2 (Sinh năm 1969, trú tại xóm X, xã H, huyện Y) dùng số điện thoại 0354.870.xxx gọi đến số 0373386330 của C và nói ra nhà của C2 để đi công việc giúp C2 thì C đồng ý. C điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA Wave Alpha, BKS 37P1-327.76 (Xe của vợ C - bà Phạm Thị Q) đi đến nhà C2. Khi đến nơi, C2 nhờ C cầm số tiền 7.000.000đ và đi đến khu vực xã L để đưa cho Nguyễn Như H đồng thời Chương đọc số điện thoại của H cho C. Vũ Thành C cầm số tiền C2 đưa rồi điều khiển xe máy đi đến gần khu vực cửa hàng xăng dầu thuộc xã L thì liên lạc với Nguyễn Như H qua số điện thoại 0978.480.xxx rồi đưa tiền cho H. Đến khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, H gọi điện thoại cho C và nói “Ở mô rồi, lên mà lấy”. C hiểu ý H là lên gặp H để lấy ma túy nên nói với H là C sẽ không lấy mà sẽ gọi điện thoại cho C2. Sau đó, C gọi điện thoại cho C2 với ý định chối không nhận ma túy giúp C2. Tuy nhiên, do C2 động viên là sẽ không bị gì nên C đã đồng ý cầm ma túy về cho C2. C gọi điện lại cho H thì H hẹn gặp và giao hàng tại thị trấn Y. Khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA, BKS 37A-0917.07 đi đến khu vực đoạn đường cứu hộ thuộc khu vực khối C thị trấn Y gặp và đưa cho C 01 gói nilong màu đen có chứa chất ma túy. Khi C cầm gói ma túy chuẩn bị đi về thì bị tổ công tác Công an huyện Y phát hiện, bắt quả tang và thu giữ gói ma túy cùng 01 điện thoại di động và 01 chiếc xe máy.

Trên cơ sở lời khai của Vũ Thành C, cơ quan điều tra Công an huyện Y đã thi hành Lệnh bắt khẩn cấp và khám xét đối với Nguyễn Như H. Quá trình khám xét đã thu giữ của H 01 gói nilon màu đen bên trong có chứa chất rắn màu trắng. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Như H khai nhận: Thời gian trước có một người đàn ông sử dụng số điện thoại 0354.870.xxx gọi đến số điện thoại của H và tự xưng tên là C2, ở xã H, sau đó Hải lưu vào danh bạc điện thoại của mình. Vào khoảng 13 giờ ngày 31/3/2023, người này gọi điện cho H nhờ H mua 7.000.000đ ma túy thì H đồng ý. Sau đó, H2 thấy C liên lạc và đưa tiền cho H. Khi nhận được tiền từ C thì H đi đến khu vực ngã tư xã C hỏi và mua được của một người đàn ông làm nghề xe ôm không quen biết số ma túy trong 02 gói nilon màu đen với giá tiền là 8.600.000đ. Trong đó, 7.000.000₫ là C đưa cho H và 1.600.000₫ là H mua cho bản thân. Mua được ma túy, H đã đưa cho C 01 gói nilon màu đen bên trong có 02 gói nilong chứa chất ma túy mà H đã mua với số tiền C đưa cho H. Cơ quan điều tra đã thu giữ của H 01 điện thoại di động và 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA, BKS 37A-0917.07.

Tại bản Kết luận giám định số 396/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 05/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • 02 (Hai) mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Vũ Thành C gửi tới giám định đều là ma túy, loại Heroin, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất rắn thu giữ của Vũ Thành C có tổng khối lượng là 5,98g.
  • Mẫu chất rắn màu trắng (ký hiệu M3) thu giữ của Nguyễn Như H gửi tới giám định là ma túy, loại Heroin, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất rắn thu giữ của Nguyễn Như H có khối lượng là 1,12g.

Qúa trình điều tra, cơ quan điều tra Công an huyện Y đã tiến hành lấy lời khai của Nguyễn Văn C3 cũng như tiến hành đối chất giữa Nguyễn Văn C3 với Vũ Thành CNguyễn Như H. Nguyễn Văn C3 khai nhận có quen biết Vũ Thành C nhưng không quen biết Nguyễn Như H. Ngoài ra, C3 không thừa nhận gọi điện thoại cho H nhờ mua ma túy và cũng không đưa tiền cho C để đưa cho H nhờ H mua ma túy. Quá trình xác minh số điện thoại 0354.870.xxx tên đăng ký chủ thuê bao là Trần Danh N, sinh năm 1999, trú tại xóm V, xã K, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Hiện tại Trần Danh N không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì. Đối với Nguyễn Văn C3 không đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này. Đối với Trần Danh N tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave Alpha, BKS 37P1-327.76. Đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của bà Phạm Thị Q và không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, Vì vậy, cơ quan điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe máy nói trên cho bà Q.

Đối với người đàn ông làm nghề xe ôm đã bán ma túy cho Nguyễn Như H. Do không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên chưa có căn cứ để xử lý trong vụ án này. Hiện cơ quan điều tra Công an huyện Y đang tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Cáo trạng số 119/CT-VKS-YT ngày 27/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành đã quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Như HVũ Thành C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện VKS thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại:

  • Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt Nguyễn Như H 05 năm 02 tháng tù.
  • Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 - khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt Vũ Thành C 05 năm tù.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  • Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 02 chiếc điện thoại di động của các bị cáo. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước chiếc xe ô tô của bị cáo Nguyễn Như H. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại và buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng và bị cáo Vũ Thành C không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Trong phần tranh luận, bị cáo Nguyễn Như H đề nghị không xem xét tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước chiếc xe ô tô của bị cáo. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra và truy tố đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vào chiều ngày 31/3/2023, sau khi liên lạc với nhau bằng điện thoại và C đưa tiền thì H đã đi đến khu vực ngã tư xã C và mua được của một người đàn ông không quen biết 02 gói ma túy với giá tiền 8.600.000đ, trong đó có 7.000.000₫ là của C đưa và 1.600.000₫ là tiền của H. Sau khi mua được ma túy thì C đưa cho H gói ma túy tương ứng với số tiền C đã gửi còn H cầm gói ma túy còn lại về nhà. C sau khi nhận gói ma túy và chuẩn bị đi về thì bị Công an bắt giữ, còn H trong quá trình Công an khám xét khẩn cấp cũng đã thu giữ 01 gói ma túy Heroin.

Thấy rằng lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là thống nhất với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo Vũ Thành C đã có hành vi tàng trữ 5,98g H. Bị cáo Nguyễn Như H phải chịu trách nhiệm đối với số Heroin mà C tàng trữ cũng như số Heroin thu được khi khám xét khẩn cấp đối với bị cáo. Như vậy, bị cáo Nguyễn Như H đã tàng trữ 7,1g H. Bị cáo H tàng trữ 1,12g Heroin với mục đích để sử dụng. Bị cáo H và bị cáo C4 cùng tàng trữ 5,98g Heroin mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Vì vậy, các bị cáo Nguyễn Như HVũ Thành C đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 BLHS đúng như nội dung truy tố của Cáo trạng.

[2.2] Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng. Các bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng các loại ma túy nói chung và H3 nói riêng là chất gây nghiện được Nhà nước thống nhất quản lý, nghiêm cấm hành vi tàng trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và lên cho các bị cáo một mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, cải tạo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục các bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.

Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội có tình chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Như H là người trực tiếp thực hiện hành vi mua ma túy cũng như tàng trữ số lượng ma túy nhiều hơn. Vì vậy, cần phải xử phạt Nguyễn Như H nghiêm khắc hơn Vũ Thành C.

Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Bố đẻ của Vũ Thành C (Ông Võ Văn C1) là người tham gia cách mạng và được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 - khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.

[2.3] Hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo điều kiện kinh tế khó khăn và không có tài sản. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[2.4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã thu giữ của Vũ Thành C 5,98g Heroin và 01 điện thoại di động; thu giữ của Nguyễn Như H 1,12g Heroin, 01 chiếc điện thoại di động và 01 xe ô tô.

Đối với số ma túy 7,1g Heroin thu giữ của các bị cáo thì đã trích 0,3g gửi giám định, còn lại 6,8g ma túy Heroin cùng vỏ bao niêm phong vật chứng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 điện thoại di động thu giữ của các bị cáo thì xét thấy, đây là phương tiện các bị cáo dùng để liên lạc trao đổi việc mua ma túy liên quan đến hành vi phạm tội, cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA, BKS 37A-0917.07. Xét thấy, đây là tài sản chung của gia đình bị cáo Nguyễn Như H và không phải là phương tiện liên quan trực tiếp đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Như H. Vì vậy, không có căn cứ để tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước chiếc xe ô tô nói trên như đề xuất của đại diện Viện kiểm sát. Cần trả lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA, BKS 37A-0917.07 cho bị cáo Nguyễn Như H.

[3] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 BLHS. Xử phạt Nguyễn Như H 05 (Năm) năm 02 (Hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/3/2023.
  • Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 - khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 BLHS. Xử phạt Vũ Thành C 05 (Năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/3/2023.
  • Căn cứ Điều 106 BLTTHS và Điều 47 BLHS.
    • Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 thu giữ của Nguyễn Như H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen thu giữ của Vũ Thành C. Tịch thu tiêu hủy 6,8g Heroin cùng phong bì niêm phong vật chứng. (Tất cả có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng lập vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 14/11/2023 giữa cơ quan Điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành).
    • Trả lại cho bị cáo Nguyễn Như H 01 chiếc xe ô tô ô tô nhãn hiệu KIA, BKS 37A-0917.07. (Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Y, tỉnh Nghệ An).
  • Căn cứ Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Buộc Nguyễn Như HVũ Thành C mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
  • Các bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND và Công an huyện Yên Thành;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Thành;
  • - Các bị cáo;
  • - UBND xã nơi các bị cáo cư trú;
  • - Lưu HSVA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hoài Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2023/HSST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 122/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 05 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger