|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 122/2024/DS-ST Ngày: 28 - 5 -2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Mỹ Hạnh;
- Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Vũ Thùy Dung – là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 và 28 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân Quận 7, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 465/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2024/QÐST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần X
Địa chỉ trụ sở: Tầng H, Tòa nhà V, số G L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Trần Ngọc Hồng H, sinh năm 1994 (Có mặt) hoặc ông Hoàng Văn Đ (Vắng mặt) (Giấy ủy quyền số 454A/2023/EIB/PMH/UQ-GĐ ngày 27/12/2023).
2. Bị đơn: Ông Lê Thanh T, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số C Tổ F, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần X tại đơn khởi kiện ngày 10/8/2023, trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án có bà Trần Ngọc Hồng H là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần X (nguyên đơn) có ký kết với ông Lê Thanh T (bị đơn) “Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế” được Ngân hàng phê duyệt ngày 27/3/2020 và được hệ thống ngân hàng mã hóa để quản lý theo Hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế VL125952 ngày 27/3/2020 (gọi tắt là hợp đồng tín dụng), với nội dung: Loại thẻ tín dụng: Visa; Số tài khoản thẻ: 210110501000605; hạn mức thẻ tín dụng được cấp ngày 27/3/2020 là: 30.000.000 đồng; Lãi suất thẻ từ ngày cấp thẻ (27/3/2020) đến ngày 27/3/2022 là 28.2%/năm; từ ngày 28/3/2022 đến ngày 31/5/2023 là 30.6%/năm; từ ngày 01/6/2023 đến nay là 33%/năm, và chủ thẻ phải chịu các phí vượt hạn mức (15%/năm/số tiền vượt hạn mức) và phí trễ hạn từ năm 2020 đến ngày 27/3/2022 là 4%/số tiền thanh toán tối thiểu, từ ngày 28/3/2022 đến nay là 5%/số tiền thanh toán tối thiểu; Mục đích: tiêu dùng cá nhân; Hình thức bảo đảm: tín chấp.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 317.002.500 đồng, ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 292.009.000 đồng, trong đó tiền lãi và phí là 4.015.921 đồng và tiền gốc là 287.993.079 đồng. Ông T còn nợ ngân hàng số tiền gốc là 29.009.421 đồng; tiền lãi tạm tính đến ngày 17/5/2024 là 89.082.066 đồng; nợ phí trễ hạn là 153.111.654 đồng; nợ phí vượt hạn mức là 31.053.684 đồng và nợ phí thường niên của năm 2022 là 200.0000 đồng.
Ngoài ra, kể từ ngày 18/5/2024, ông T còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi ông T trả hết nợ theo lãi suất, phí quy định tại giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế được Ngân hàng phê duyệt ngày 27/3/2020.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ thẻ tín dụng nêu trên tạm tính đến ngày 17/5/2024 với tổng số tiền là 302.456.825 đồng. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, kể từ ngày 18/5/2024, ông T còn phải tiếp tục chịu lãi, phí phát sinh cho đến khi ông T trả hết nợ theo lãi suất, phí quy định tại giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế được Ngân hàng phê duyệt ngày 27/3/2020.
Tại phiên tòa:
Bà Trần Ngọc Hồng H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày thêm:
Do hệ thống ngân hàng chỉ sao kê nợ thẻ vào ngày 25 dương lịch hàng tháng, nên nguyên đơn không trích xuất được dữ liệu số tiền nợ của ông T tính đến ngày xét xử là ngày 21/5/2024, mà chỉ xuất được dữ liệu tính đến ngày 17/5/2024. Do đó, số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán là số tiền theo dữ liệu trích xuất tạm tính đến ngày 17/5/2024.
Ngày ông T bắt đầu trễ hạn thanh toán nợ thẻ tín dụng nêu trên là ngày 09/8/2021 của số tiền nợ gốc là 29.009.421 đồng, ngày bắt đầu tính lãi của số tiền nợ gốc 29.009.421 đồng là ngày 10/8/2021. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên đến ngày 18/8/2021, nguyên đơn đã khóa thẻ tín dụng của bị đơn. Số tiền lãi 89.082.066 đồng mà nguyên đơn yêu cầu ông T trả là tiền lãi (Phí tài chính) là phù hợp theo quy định pháp luật. Số tiền lãi hàng tháng nêu trên được tính trên cơ sở: tổng số tiền của số dư nợ thẻ thực tế (tổng số tiền phải thanh toán trên sao kê của tháng trước) x với mức lãi suất hàng tháng theo từng thời điểm/30 x số ngày phát sinh số dư nợ thực tế. Số tiền lãi này được cộng dồn và thể hiện trên kỳ sao kê tiếp theo.
Phí thanh toán trễ hạn: Nếu đến hạn thanh toán ghi trên mỗi kỳ sao kê mà ông T không thanh toán thì ông T phải chịu phí thanh toán trễ hạn là 4% hoặc 5% (tùy tùng thời điểm như đã trình bày ở trên) x số tiền thanh toán tối thiểu chưa thanh toán. Theo đó, số tiền thanh toán tối thiểu được xác định: là khoản tiền tối thiểu ông T phải thanh toán được chỉ định cụ thể trong mỗi kỳ sao kê, bao gồm: Một phần số dư nợ, toàn bộ khoản nợ vượt hạn mức sử dụng của thẻ và số tiền thanh toán tối thiểu chưa được thanh toán của kỳ sao kê trước. Tổng số tiền phí trễ hạn ông T có nghĩa vụ thanh toán tạm tính đến ngày 17/5/2024 là 153.111.654 đồng.
Phí sử dụng vượt hạn mức: là 15%/năm/số tiền vượt hạn mức. Số tiền vượt hạn mức là số dư nợ thực tế vượt hạn mức tín dụng được cấp. Số dư nợ thực tế được tính trên cơ sở bao gồm: số tiền giao dịch phát sinh, phí tài chính (lãi), phí phát sinh, các khoản phải trả khác liên quan đến việc sử dụng thẻ và được thể hiện trong sao kê hàng tháng. Do vậy, mặc dù từng giao dịch ông T thực hiện không vượt hạn mức được cấp là 30.000.000 đồng nhưng khi cộng dồn các khoản lãi, phí theo quy định thì tổng dư nợ thực tế của ông T được xem là vượt hạn mức tín dụng đã cấp. Nên nguyên đơn tính phí sử dụng vượt hạn mức của nguyên đơn tạm tính đến ngày 17/5/2024 với số tiền là 31.053.684 đồng.
Phí thường niên là loại phí ông T phải trả hàng năm để sử dụng các tiện ích của thẻ. Năm 2022, tổng giao dịch của ông T sử dụng phát sinh thuộc trường hợp được miễn 50% phí thường niên. Vì vậy, ông T còn có nghĩa vụ thanh toán tiền nợ phí thường niên của năm 2022 với số tiền là 200.000 đồng.
Do đó, nguyên đơn xác nhận lại yêu cầu khởi kiện: buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn tiền nợ thẻ tín dụng với tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/5/2024 là 302.456.825 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 29.009.421 đồng; tiền nợ lãi là 89.082.066 đồng; tiền nợ phí trễ hạn là 153.111.654 đồng; tiền nợ phí vượt hạn mức là 31.053.684 đồng và nợ phí thường niên của năm 2022 là 200.0000 đồng.
Đề nghị bị đơn trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, kể từ ngày 18/5/2024, ông T còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi T trả hết nợ theo lãi suất, phí quy định tại giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế VL125952 được Ngân hàng phê duyệt ngày 27/3/2020.
Nguyên đơn xác định chỉ cấp phát hành thẻ tín dụng cho cá nhân ông T nên chỉ khởi kiện yêu cầu cá nhân ông T trả nợ, không yêu cầu đối với ai khác.
Về phía bị đơn ông Lê Thanh T, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 7 đã nhiều lần triệu tập ông T đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định pháp luật nhưng ông T không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do, không có văn bản, ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Tuy nhiên về thời hạn chuẩn bị xét xử không đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán tiền nợ gốc là 29.009.421 đồng và thanh toán tiền nợ lãi quá hạn tạm tính đến ngày 21/5/2024 là 25.296.215 đồng. Đề nghị không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền lãi tính đến ngày 17/5/2024 là 63.892.219 đồng, số tiền nợ phí trễ hạn tính đến ngày 17/5/2024 là 153.111.654 đồng, số tiền phí vượt hạn mức tín dụng tính đến ngày 17/5/2024 là 31.053.684 đồng và số tiền phí thường niên của năm 2022 là 200.000 đồng; Về án phí: bị đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận; nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần X khởi kiện tranh chấp về hợp đồng vay tín dụng đối với ông Lê Thanh T có địa chỉ tại Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự, quan hệ tranh chấp là quan hệ tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7 theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.2] Tại đơn khởi kiện nguyên đơn cung cấp địa chỉ cư trú hiện tại của bị đơn là số 362/2/11 Tổ F, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo địa chỉ được ông T ghi trong giao dịch hợp đồng tín dụng và các văn bản khác với Ngân hàng đều thể hiện ông T thường trú tại địa chỉ số C Tổ F, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo kết quả trả lời của Công an phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tại Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 765/2023/QĐ-CCTLCC ngày 25/10/2023 của Tòa án nhân dân Quận 7 thì đương sự Lê Thanh T có hộ khẩu thường tại địa chỉ số C Tổ F, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thực tế cư ngụ tại địa phương, đi đâu không biết.
Vì vậy, trong đơn khởi kiện nguyên đơn đã ghi đúng và đầy đủ địa chỉ nơi cư trú của bị đơn ông Lê Thanh T. Nay ông T vắng mặt tại địa phương nhưng không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới theo quy định tại Khoản 3 Điều 40, Điểm b Khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ Điểm e Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
[1.3] Đối với bị đơn ông Lê Thanh T là trường hợp được coi là cố tình giấu địa chỉ, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh:
Để chứng minh cho yêu cầu của mình ngoài một số tài liệu là bản sao đã được chứng thực, đối chiếu bản chính, nguyên đơn còn cung cấp cho Tòa án bản sao các tài liệu có liên quan nhưng không có bản chính để đối chiếu, sao y. Tòa án đã thực hiện thủ tục thông báo thụ lý vụ án cho các đương sự biết nhưng không có đương sự nào yêu cầu Tòa án cho xem và không có đương sự nào phản đối các tài liệu này. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đều thừa nhận nội dung vụ việc đúng như diễn tiến nêu tại phần trên. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Tòa án sẽ sử dụng các tài liệu này làm căn cứ để giải quyết vụ án.
Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi và không phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi. Căn cứ Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì ông Lê Thanh T đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa tham gia tố tụng, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ việc trên theo những chứng cứ có trong hồ sơ.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế được Ngân hàng phê duyệt ngày 27/3/2020 và được ngân hàng M để quản lý theo Hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế VL125952 ngày 27/3/2020, tạm tính đến ngày 17/5/2024, với tổng số tiền là 302.456.825 đồng, trong đó:
- Số tiền nợ gốc là 29.009.421 đồng;
- Số tiền lãi là 89.082.066 đồng;
- Số tiền phí trễ hạn là 153.111.654 đồng;
- Số tiền phí vượt hạn mức tín dụng là 31.053.684 đồng;
- Số tiền phí thường niên là 200.000 đồng.
Yêu cầu bị đơn trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra kể từ ngày 18/5/2024, bị đơn còn phải chịu tiền lãi, phí phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất, phí quy định tại giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế VL125952 được Ngân hàng phê duyệt ngày 27/3/2020.
Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Đối với yêu cầu trả nợ gốc:
Căn cứ giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế VL125952 được Ngân hàng phê duyệt ngày 27/3/2020 có đủ cơ sở xác định Ngân hàng Thương mại Cổ phần X có cho ông Lê Thanh T mở thẻ tín dụng, hạn mức sử dụng thẻ là 30.000.000 đồng. Ông Lê Thanh T đã sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 317.002.500 đồng, ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 292.009.000 đồng, trong đó tiền lãi và phí là 4.015.921 đồng và tiền gốc là 287.993.079 đồng. Từ ngày 09/8/2021, ông T còn nợ số tiền gốc là 29.009.421 đồng nhưng ông T không thực hiện việc thanh toán theo đúng thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng nên bị đơn là bên có lỗi. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả nợ gốc là 29.009.421 đồng là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả nợ lãi tạm tính đến ngày 17/5/2024 với số tiền là 89.082.066 đồng.
Xét thấy:
Hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và ông T được xác lập sau ngày 01/7/2017. Do đó, căn cứ theo Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm (viết tắt là Nghị quyết số 01/2019) thì lãi, mức lãi suất được xác định trong trường hợp này là lãi trên nợ gốc quá hạn được xác định theo lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi suất áp dụng cho hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất tương ứng với thời hạn vay chưa trả.
Và tại khoản 3, 4 Điều 8 Nghị quyết 01/2019 quy định: “...Thời gian chậm trả tiền nợ gốc bắt đầu kể từ ngày chuyển nợ quá hạn đến thời điểm xét xử sơ thẩm...”. “...Thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày phải trả lãi trên nợ gốc đến thời điểm xét xử sơ thẩm...”.
Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và nguyên đơn xác nhận thì đến hết ngày 09/8/2021 ông T phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ là 29.009.421 đồng, tuy nhiên ông T không thanh toán.
Vì vậy, có cơ sở xác định kể từ ngày 10/8/2021, số tiền nợ gốc quá hạn bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn là 29.009.421 đồng, thời gian chậm trả tiền lãi trên nợ gốc quá hạn được tính kể từ ngày 10/8/2021.
Về mức lãi suất: căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và sự xác nhận của nguyên đơn thì kể từ thời điểm phát hành thẻ tín dụng đến nay có 03 lần thay đổi mức lãi suất, cụ thể như sau: từ ngày cấp thẻ 27/3/202 đến ngày 27/3/2022 là 28.2%/năm, tương đương 2.35%/tháng; từ ngày 28/3/2022 đến ngày 31/5/2023 là 30.6%/năm, tương đương 2.55%/tháng; từ ngày 01/6/2023 đến nay là 33%/năm, tương đương 2.75%/tháng.
[3.2.1] Theo đó, số tiền lãi quá hạn từ ngày 10/8/2021 tạm tính đến ngày 17/5/2024 được tính như sau:
- Số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn 29.009.421 đồng, với mức lãi suất là 28.2%/năm, tương đương 2.35%/tháng, với thời gian từ ngày 10/8/2021 đến ngày 27/3/2022 là: 29.009.421 x 2.35%/30 x 230 ngày = 5.226.531 đồng.
- Số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn 29.009.421 đồng, với mức lãi suất là 30.6%/năm, tương đương 2.55%/tháng, với thời gian từ ngày 28/3/2022 đến ngày 31/5/2023 là: 29.009.421 x 2.55%/30 x 430 ngày = 10.602.943 đồng.
- Số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn 29.009.421 đồng, với mức lãi suất là 33%/năm, tương đương 2.75%/tháng, với thời gian từ ngày 01/6/2023 đến ngày 17/5/2024 là: 29.009.421 x 2.75%/30 x 352 ngày = 9.360.373 đồng.
Tổng số tiền lãi quá hạn tính từ ngày 10/8/2021 đến ngày 17/5/2024 là: 25.189.847 đồng (5.226.531 đồng + 10.602.943 đồng + 9.360.373 đồng).
Việc nguyên đơn tính lãi trên tổng số dư nợ thực tế chứ không tính lãi trên số tiền nợ gốc quá hạn 29.009.421 đồng là không đúng quy định của pháp luật về nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn theo Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 01/2019. Vì số dư nợ thực tế mà nguyên đơn làm căn cứ tính lãi không chỉ bao gồm nợ gốc mà còn bao gồm phí tài chính (lãi), phí phát sinh, các khoản phải trả khác liên quan đến việc sử dụng thẻ và được thể hiện trong sao kê hàng tháng. Việc tính lãi như trên là lãi chồng lãi, nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc tính tiền lãi quá hạn từ ngày 10/8/2021 tạm tính đến ngày 17/5/2024 là 25.189.847 đồng. Đối với số tiền nợ lãi còn lại nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán là 63.892.219 đồng (89.082.066 đồng - 25.189.847 đồng) là không có cơ sở chấp nhận.
[3.2.2] Ngoài ra, tại Điểm a Khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019 quy định “khi quyết định đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì Tòa án quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật”. Do đó, để phù hợp với quy định nêu trên, tiền lãi quá hạn mà bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn sẽ được tiếp tục tính từ ngày 18/5/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 21/5/2024, cụ thể như sau: Số tiền lãi trên nợ gốc quá hạn 29.009.421 đồng, với mức lãi suất là 33%/năm, tương đương 2.75%/tháng, với thời gian từ ngày 18/5/2024 đến ngày 21/5/2024 là: 29.009.421 x 2.75%/30 x 04 ngày = 106.368 đồng.
Vì vậy, tổng số tiền lãi quá hạn bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn tính từ ngày 10/8/2021 tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (21/5/2024) là: [3.2.1] + [3.2.2] = 25.189.847 đồng + 106.368 đồng = 25.296.215 đồng.
[3.3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải chịu phí trễ hạn và phí vượt hạn mức:
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại Điều 4 của Bản thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng quốc tế quy định “...Phí thanh toán trễ hạn: Nếu đến hạn thanh toán, chủ thẻ không thanh toán hoặc thanh toán số tiền nhỏ hơn số tiền thanh toán tối thiểu thì chủ thẻ sẽ chịu mức phí thanh toán trễ hạn là một phần dựa trên số tiền thanh toán tối thiểu chưa thanh toán”. Theo biểu phí dịch vụ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần X thì phí trễ hạn từ năm 2020 đến ngày 27/3/2022 là “4%/số tiền thanh toán thiểu”, từ ngày 28/3/2022 đến nay là “5%/số tiền thanh toán thiểu”. Tại Điều 1 của Bản thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng quốc tế quy định: “Số tiền thanh toán tối thiểu được xác định: là khoản tiền tối thiểu ông T phải thanh toán được chỉ định cụ thể trong mỗi kỳ sao kê, bao gồm: Một phần số dư nợ, toàn bộ khoản nợ vượt hạn mức sử dụng của thẻ và số tiền thanh toán tối thiểu chưa được thanh toán của kỳ sao kê trước”.
Tại Điều 4 của Bản thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng quốc tế quy định: “...Phí sử dụng vượt hạn mức: là khoản phí phát sinh do số dư nợ vượt hạn mức tín dụng đã quy định...”. Theo biểu phí dịch vụ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần X thì phí vượt hạn mức là “15%/năm/số tiền vượt hạn mức”. Theo Điều 1 của Bản thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng quốc tế quy định: “... số dư nợ thẻ (dưới đây gọi tắt là “số dư nợ”): là tổng số tiền Chủ thẻ phải thanh toán cho T bao gồm: giá trị (các) giao dịch thẻ, phí tài chính (lãi vay), phí phát sinh, các khoản phải trả khác liên quan đến việc sử dụng thẻ và được chỉ định trong sao kê hàng tháng”.
Theo Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân (TAND) tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm (Nghị quyết số 01/2019): “Hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận xử lý đối với hành vi không trả nợ đúng hạn của bên vay thì Tòa án xem xét, quyết định theo nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn”.
Tại mục [5] Án lệ số 11/2017/AL được Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao thông qua ngày 14/12/2017 có nội dung việc tính lãi chồng lãi là không đúng pháp luật, không được chấp nhận.
Do đó, quy định của Ngân hàng Thương mại Cổ phần X như trên về phí vượt hạn mức và phí trễ hạn mà thực chất các khoản phí này là một hình thức tính lãi, điều này thể hiện trong bảng kê tính lãi nguyên đơn đã gộp: số tiền lãi, phí trễ hạn và phí vượt hạn mức thành một cột là lãi nói chung và việc tính phí vượt hạn mức và tính phí trễ hạn như trên thực chất là tính thêm tiền lãi, là lãi chồng lãi không phù hợp với nguyên tắc chỉ xử lý một lần đối với mỗi hành vi không trả nợ đúng hạn theo Điều 12 Nghị quyết số 01/2019, vì thực tế số tiền nợ đã được sử dụng để làm căn cứ tính lãi quá hạn.
Vì vậy, đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả: phí trễ hạn tạm tính đến ngày 17/5/2024 với số tiền là 153.111.654 đồng và trả số tiền phí vượt hạn mức tín dụng tạm tính đến ngày 17/5/2024 với số tiền là 31.053.684 đồng là không có cơ sở chấp nhận.
[3.4] Đối với yêu cầu buộc bị đơn thanh toán phí thường niên của năm 2022 với số tiền là 200.000 đồng.
Theo quy định của Ngân hàng được thể hiện tại Điều 4 của Bản thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng quốc tế thì: “...phí thường niên loại phí Chủ thẻ phải trả hàng năm để sử dụng các tiện ích của thẻ...”. Từ ngày 18/8/2021, Ngân hàng đã khóa thẻ tín dụng của ông T nhưng vẫn yêu cầu ông T trả phí thường niên của năm 2022 là không phù hợp. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về tính phí thường niên của năm 2022 số tiền 200.000 đồng/năm.
[4] Về thời hạn trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên với yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về khoản tiền lãi kể từ sau ngày tòa xét xử sơ thẩm: Kể từ ngày 22/5/2024, ông Lê Thanh T còn phải chịu tiền lãi trên số tiền nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trong giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế VL125952 được Ngân hàng phê duyệt ngày 27/3/2020, Bản thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng TMCP X (gọi chung là hợp đồng tín dụng), các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay nên lãi suất mà ông Lê Thanh T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay quy định từng thời điểm.
[6] Về án phí: Ông Lê Thanh T phải có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận; Ngân hàng Thương mại Cổ phần X phải có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định đối với số tiền không được Tòa án chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện.
[7] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[8] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Án lệ số 11/2017/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14/12/2017;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Nghị Quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ Luật thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần X.
1.1. Buộc ông Lê Thanh T thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần X tổng số tiền nợ thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 21/5/2024 theo Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế VL125952 được Ngân hàng phê duyệt ngày 27/3/2020 là 54.305.636 (Năm mươi bốn triệu ba trăm lẻ năm ngàn sáu trăm ba mươi sáu) đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 29.009.421 (Hai mươi chín triệu không trăm lẻ chín ngàn bốn trăm hai mươi một) đồng; số tiền nợ lãi quá hạn là 25.296.215 (Hai mươi lăm triệu hai trăm chín mươi sáu ngàn hai trăm mười lăm) đồng. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành.
1.2. Kể từ ngày 22/5/2024, ông Lê Thanh T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của Ngân hàng nên lãi suất mà ông Lê Thanh T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần X về việc: buộc ông Lê Thanh T trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần X, tổng số tiền tạm tính đến ngày 17/5/2024 là 248.257.557 (Hai trăm bốn mươi tám triệu hai trăm năm mươi bảy ngàn năm trăm năm mươi bảy) đồng, trong đó:
- Số tiền nợ lãi còn lại là 63.892.219 (Sáu mươi ba triệu tám trăm chín mươi hai ngàn hai trăm mười chín) đồng;
- Số tiền nợ phí trễ hạn là 153.111.654 (Một trăm năm mươi ba triệu một trăm mười một ngàn sáu trăm năm mươi bốn) đồng;
- Số tiền nợ phí vượt hạn mức là 31.053.684 (Ba mươi một triệu không trăm năm mươi ba ngàn sáu trăm tám mươi bốn) đồng;
- Số tiền nợ phí thường niên của năm 2022 là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Thanh T phải chịu 2.715.282 (Hai triệu bảy trăm mười lăm ngàn hai trăm tám mươi hai) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần X phải chịu 12.412.878 (Mười hai triệu bốn trăm mười hai ngàn tám trăm bảy mươi tám) đồng án phí dân sự sơ thẩm và được cấn trừ vào số tiền 2.729.566 (Hai triệu bảy trăm hai mươi chín ngàn năm trăm sáu mươi sáu) đồng theo Biên lai thu số AA/2023/0037355 ngày 17 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng Thương mại Cổ phần X còn phải nộp 9.683.312 (Chín triệu sáu trăm tám mươi ba ngàn ba trăm mười hai) đồng.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Luyến |
Bản án số 122/2024/DS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 122/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP XNK Việt Nam khởi kiện ông Lê Thanh T thanh toán tiền nợ
