|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 122/2024/HS-ST Ngày: 27/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ma Quốc Thể.
- Ông Nguyễn Văn Quang.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 27/9/2024, tại điểm cầu trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần phòng xét xử Trại tạm giam Công an tỉnh T, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/TLST-HS, ngày 10/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Trung T, sinh ngày 03/10/1988 tại thành phố T, tỉnh Tuyên Quang;
Nơi cư trú: Xóm H, xã T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T1 (đã chết), con bà Lê Thị L, sinh năm 1959; vợ, con: Chưa có; Gia đình có 04 anh chị em: Bị cáo là con thứ 04;
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 96/HSST ngày 12/9/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 05/6/2023 chấp hành xong bản án;
Nhân thân: Ngày 17 tháng 3 năm 2005 bị Công an huyện Y, tỉnh Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Triệu Văn S, sinh năm 1989; trú tại: Thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 29/6/2024, Nguyễn Trung T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave Alpha, biển số 22T1-078.45 (xe mượn của Triệu Văn S, trú tại thôn B, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, là bạn của T) đến khu vực thôn Đ, xã T, huyện S, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. T gặp và mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ được 01 gói ma túy gói bằng giấy màu trắng có chữ và dòng kẻ màu xanh, với số tiền 300.000đ, sau đó T cho gói ma túy vào 01 lọ màu xanh lá cây cất giấu trên người, khi vừa điều khiển xe đi được một đoàn đường thì gặp tổ công tác Công an xã T, huyện S đang làm nhiệm vụ phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 12 giờ 30 phút cùng ngày.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy bên trong cơ thể Nguyễn Trung T, kết quả (+) dương tính với ma túy.
Kết luận giám định số 887/KL - KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T. Kết luận: Số chất bột thu giữ của Nguyễn Trung T gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là D; khối lượng 0,130 gam (không phẩy một ba không gam).
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã tạm giữ 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định); 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave Alpha, biển số 22T1-078.45, xe cũ đã qua sử dụng; số tiền 100.000đ.
Tại Cáo trạng số 121/CT-VKSSD, ngày 09/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Nguyễn Trung T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (29/6/2024).
- Do bị cáo không có tài sản có giá trị lớn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất ma túy (đã giám định) mặt sau trên các mép dán có chữ ký của Nguyễn Trung T các thành phần tham gia và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
- + Trả lại cho anh Triệu Văn S 01 xe xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave Alpha, biển số 22T1-078.45, xe cũ đã qua sử dụng.
- + Trả lại bị cáo số tiền 100.000đ, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 29/6/2024 tại đoạn đường thuộc thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Trung T có hành vi tàng trữ trái phép 0,130 gam (không phẩy một ba không gam), loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố bị cáo Nguyễn Trung T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân, bản thân bị cáo đã từng bị xử phạt về cùng hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án, nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo mình trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục sử dụng ma túy và phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Ngày 12/9/2022 Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 05/6/2023 chấp hành xong bản án, nhưng chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo trong mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị như vậy là phù hợp.
Quá trình điều tra xác định sau khi phạm tội bị cáo đã bị Công ty Đ cho thôi việc hiện bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[4] Về vật chứng:
Đối với 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có 01 lọ nhựa màu xanh được đóng nắp kín, bên trong lọ có 01 gói ma túy (đã giám định), có đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả như trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Nguyễn Trung T; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Trung T giám định ngày 29/6/2024”. Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 100.000đ thu giữ của bị cáo là tiền riêng của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo, nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, biển số 22T1-078.45, xe đã qua sử dụng, xe không có 02 gương chiếu hậu của anh Triệu Văn S, anh S cho mượn, nhưng không biết việc bị cáo T sử dụng xe làm phương tiện đi mua ma túy, nên trả lại cho anh Triệu Văn S.
[5] Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại khu vực đường thuộc thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Trung T, Công an huyện S đã chuyển tài liệu đến Công an thành phố T, tỉnh Tuyên Quang để xử lý theo thẩm quyền.
Đối với anh Triệu Văn S, cho bị cáo mượn xe mô tô, nhưng không biết việc bị cáo Nguyễn Trung T sử dụng xe làm phương tiện đi mua ma túy nên không đề cập xử lý.
Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h (tái phạm) khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
1. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (29/6/2024).
2. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có 01 lọ nhựa màu xanh được đóng nắp kín, bên trong lọ có 01 gói ma túy (đã giám định), có đặc điểm, tình trạng, khối lượng được miêu tả như trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định. Bên ngoài, mặt sau trên các mép dán có hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong và Nguyễn Trung T; mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Nguyễn Trung T giám định ngày 29/6/2024”.
Trả lại cho anh Triệu Văn S 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, biển số 22T1-078.45, xe đã qua sử dụng, xe không có 02 gương chiếu hậu.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương)
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung T số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng). Nhưng giữ lại để đảm bảo công tác thi hành án.
(Số tiền trên hiện đang trong tài khoản số 3949.0.1064844.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương mở tại Kho bạc Nhà nước huyện S).
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án (đối với phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình) trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Ma Quốc Thể - Nguyễn Văn Quang |
Hoàng Thị Minh Khánh |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Khánh |
Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 122/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 12 giờ 30 phút ngày 29/6/2024 tại đoạn đường thuộc thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Trung T có hành vi tàng trữ trái phép 0,130 gam (không phẩy một ba không gam), loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.
