Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/HSST

Ngày: 27/09/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, ông: Lò Xuân Hải.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông: Lý Ngọc Sáng.
Bà: Pờ Hồng Vân.
- Thư ký phiên tòa, bà: Dương Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường T, tỉnh Lai C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường T tham gia phiên tòa, bà: Lò Thị Kẻo - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 09 năm 2024, tại nhà văn hóa Ủy ban nhân dân, xã T, huyện M, tỉnh L, xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 120/2024/TL-ST-HS, ngày 13 tháng 09 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 09 năm 2024, đối với bị cáo.

- Lò Cà N: Giới tính: Nữ; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/01/1981; tại: Huyện M, tỉnh L; nơi cư trú: Bản T, xã P, huyện M, tỉnh L; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: La Hủ; tôn giáo: Không; đảng, đoàn: Không; con ông Lò A Đ ( đã chết) và con bà Ly Go N (đã chết); chồng Thàng Khừ C (đã chết); con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân chưa bị xử lý; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/06/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh L - Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lò Cà N, bà: Trần Thị Bích Ngọc, sinh năm 1975 - Là luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L - Có mặt.
- Người làm chứng, ông: Vàng Hừ B - Sinh năm 1992 - Trú tại: Bản H, xã P, huyện M, tỉnh L - Vắng mặt.
- Người phiên dịch tiếng dân tộc La Hủ cho bị cáo Lò Cà N, ông: Vàng Ma X - Sinh năm 1985 - Trú tại: Khu phố 07, thị trấn M, huyện M, tỉnh L - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào buổi sáng ngày 03/06/2024, Lò Cà N đi bộ lên rừng lấy củi, khi đi đến cầu bê tông thuộc bản T, xã P, huyện M, tỉnh L, thì gặp một người phụ nữ dân tộc La Hủ lạ mặt. Qua trao đổi, N đã mua được của người phụ nữ này 10 gói Heroine bên ngoài đều được gói bằng mảnh nilon màu hồng và được gói chung lại thành 01 gói bằng một mảnh nilom màu đỏ, với số tiền 300.000 đồng, với mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Sau đó N cất giấu vào trong túi quần đang mặc trên người, rồi tiếp tục đi vào rừng lấy củi, sau khi lấy củi xong, N quay về nhà rồi lấy gói Heroine ra vứt bỏ mảnh nilon màu đỏ bên ngoài lấy 10 gói Heroine gói bằng mảnh nilon màu hồng đem đi cất giấu tại đầu giường ngủ của N, không cho ai biết. Đến buổi chiều cùng ngày 03/06/2024, khi N đang ở nhà một mình thì có Vàng Hừ B đến nhà hỏi mua Heroine để sử dụng. N lấy ra 01 gói Heroine đem bán cho B với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, B đi đến cầu bê tông thuộc bản T, xã P để sử dụng, khi B đang sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã P, phối hợp với Đồ biên phòng P, huyện M đang làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ 01 mảnh giấy bạc và 01 chiếc bật lửa gas màu hồng mà B dùng để sử dụng ma túy. Tại đây B khai nhận số Heroine vừa sử dụng là mua được của Lò Cà N. Từ lời khai của B, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, đã tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Lò Cà N. Quá trình khám xét đã phát hiện, thu giữ tại túi quần bên trái N đang mặc trên người 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng; 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng và 01 tờ tiền Việt nam mệnh giá 10.000 đồng (đây là số tiền N bán Heroine cho B mà có). Thu giữ tại đầu giường ngủ của N, 09 gói Heroine bên ngoài mỗi gói đều được gói bằng mảnh nilon màu hồng. Đồng thời lập biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật

Tại kết luận giám định số: 56/KLGĐ-CA, ngày 04/06/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc kết luận: 09 mẫu chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lò Cà N có tổng khối lượng là 1,11 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 654/GĐ-KTHS ngày 07/06/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh L, kết luận: 09 mẫu chất bột khô, màu trắng (ký hiệu mẫu 01 đến mẫu 09) thu giữ của Lò Cà N, gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 80/CT-VKS-MT ngày 12 tháng 09 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố Lò Cà N về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:

- Trách nhiệm hình sự: Đối với Lò Cà N về tội danh "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Cà N từ: 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do điều kiện kinh tế của bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:

+. 01 chiếc bật lửa gas màu hồng; 09 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì thư do Bưu điện phát hành, xung quanh có viền xanh, đỏ đã bị cắt một đầu.

+. Đối với 1,11 gam Heroine. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giử đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý.

+. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng ( gồm 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng, có mã số hiệu RS 20399684; 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng, có mã số hiệu lần lượt là CA 21914155; QI 19309218 và 01 tờ tiền Việt nam mệnh giá 10.000 đồng, có mã số hiệu PU 196335925). Đây là số tiền Lò Cà N bán Heroine cho Vàng Hừ B, mà có.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Cà N.

Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích tính chất, hành vi, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, người bào chữa đồng ý với nội dung cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện M về tội danh "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Buổi chiều ngày 03/06/2024 tại nhà ở của mình ở bản T, xã P, huyện M, tỉnh L. Lò Cà N, đã bán trái phép 01 gói Heroine cho Vàng Hừ B với giá 100.000 đồng để B sử dụng. Ngoài ra cũng tại địa điểm nêu trên, Lò Cà N còn có hành vi tàng trữ trái phép 1,11 gam Heroine với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Số Heroine này có chung nguồn gốc với số Heroine mà Lò Cà N đã bán cho Vàng Hừ B. Như vậy Lò Cà N phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép Heroine với tổng khối lượng là 1,11 gam. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội. Bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

[2]. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Lò Cà N luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần được xem xét áp dụng cho bị cáo. Nhận thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số La Hủ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản T, xã P, huyện M, tỉnh L, là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Cà N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Về nhân thân: Bị cáo Lò Cà N có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ không được đi học, lớn lên ở nhà tham gia lao động sản xuất tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, là người sử dụng chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi mua bán, tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã cố ý phạm tội.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số La Hủ, nghề nghiệp trồng trọt, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản T, xã P, huyện M, tỉnh L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[7]. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng thu giữ còn lại của bị cáo Lò Cà N, bao gồm:

- 01 chiếc bật lửa gas màu hồng; 09 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì thư do Bưu điện phát hành, xung quanh có viền xanh, đỏ đã bị cắt một đầu.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng. Đây là số tiền Lò Cà N bán Heroine cho Vàng Hừ B mà có, gồm: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng, có mã số hiệu RS 2039968; 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng, có mã số hiệu lần lượt là CA 21914155; QI 19309218; 01 tờ tiền Việt nam mệnh giá 10.000 đồng, có mã số hiệu PU 196335925).

- Đối với 1,11 gam Heroine. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã giử đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề cập xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm, xét thấy: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số La Hủ, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở bản T, xã P, huyện M, tỉnh L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo.

[9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Lò Cà N đã phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy ý kiến của Kiểm sát viên và của người bào chữa tại phiên tòa, về: Tội danh; điều luật áp dụng; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10]. Đối với đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của người bào chữa, xét thấy: Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Nguy cơ làm phát sinh tội phạm khác, kéo theo nhiều tệ nạn xã hội nơi bị cáo đang sinh sống. Do vậy khi nghị án lượng hình Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc.

[11]. Đối với người phụ nữ dân tộc La Hủ lạ mặt đã bán Heroine với giá 300.000 đồng cho bị cáo Lò Cà N. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người phụ nữ này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[12]. Đối với Vàng Hừ B. Quá trình điều tra xác định, B mua gói Heroine của Lò Cà N để sử dụng, khi bị bắt quả tang thì B đã sử dụng hết. Do đó Công an huyện M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vàng Hừ B về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức cảnh cáo và không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Vàng Hừ B, là đúng quy định của pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo: Lò Cà N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

- Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lò Cà N: 03 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Lò Cà N bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 03/06/2024.

- Về hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự: Không áp dụng đối với bị cáo Lò Cà N.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+. Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc bật lửa gas màu hồng; 09 mảnh nilon màu hồng; 01 phong bì thư do Bưu điện phát hành, xung quanh có viền xanh, đỏ đã bị cắt một đầu.

+. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng. Đây là số tiền Lò Cà N bán Heroine cho Vàng Hừ B mà có, gồm: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng, có mã số hiệu RS 2039968; 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 20.000 đồng, có mã số hiệu lần lượt là CA 21914155; QI 19309218 và 01 tờ tiền Việt nam mệnh giá 10.000 đồng, có mã số hiệu PU 196335925.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Cà N.

- Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh L;
  • - VKSND tỉnh L;
  • - VKSND huyện M;
  • - Công an huyện M;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện M;
  • - Trại giam;
  • - Chi cục THADS huyện M;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu hồ sơ VA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lò Xuân Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 122/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Cà N phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger