TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG Bản án số: 122/2024/HS-PT Ngày 27 tháng 8 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm.
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Hải;
Ông Hoàng Ngọc Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Mai Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 186/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2024/QĐXXPT-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo Vỏ T (Võ Văn T), do có kháng cáo của bị cáo Vỏ Thanh T1 và bị hại ông Lương Văn Đ đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo: Vỏ Thanh T1 (Võ Văn T), sinh ngày 11/12/1993; nơi cư trú: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vỏ Văn Mười H và bà Lương Thị N; vợ là Dương Thị Nga N1, có 02 con (lớn sinh năm 2004, đã chết, nhỏ sinh năm 2009); tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/6/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Vỏ Thanh T1: Ông Lại Văn G, Luật sư Công ty L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh A (có mặt).
Bị hại có kháng cáo: Ông Lương Văn Đ, sinh năm 1948; nơi cư trú: ấp P, xã A, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lương Văn Đ: Ông Lương Minh H1, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm T2; địa chỉ: số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
2
Trong vụ án còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Lâm Trọng P, sinh năm 2009 (do Bà Trần Thị P1, sinh năm 1955 đại diện theo pháp luật), Võ Văn N2, sinh năm 1990. Do không kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 01/02/2022, bà Lương Thị N đi thăm ruộng phát hiện lúa bị nhổ vứt lên bờ ruộng, do nghi ngờ ông Lương Văn Đ (anh ruột của bà N) làm nên bà N đi về nhà ở ấp P, xã A, huyện T gặp Đ hỏi chuyện dẫn đến cự cãi với ông Đ thì bà Trần Thị P1, Lâm Trọng P, Lương Văn S (vợ, cháu của Đ) nghe, thấy bênh vực ông Đ, P sử dụng nạn thun bắn viên đá trúng ngực phải bà N nhưng không gây thương tích. Cùng lúc này, Võ Văn V (cháu nội của bà N) về nhà, nghe bà N bị chửi nên đi sang nhà ông Đ, thì bị P dùng đá ném trúng mắt trái. Ông Đ dùng tay câu cổ V kéo vào trong nhà đóng cửa rào cùng P, Lương Văn S (cháu nội của Đ) dùng cây (chưa xác định) đánh trúng vùng đầu và sưng phù vùng cổ. Lúc này, Vỏ Thanh T1, Dương Thị Nga N1, Võ Văn N2 (cha mẹ, bác ruột của V) thấy V bị đánh nên chạy sang xô cửa xông vào nhà ông Đ, thì N2 bị S cầm thanh sắt loại vuông 3 màu trắng đánh trúng đỉnh đầu bên phải một cái, T1 bị bà P1 cầm cây tre khô dài khoảng 01m đánh trúng mí mắt phải; tay phải ông Đ cầm cây sắt loại vuông 3 màu trắng, dài khoảng 1,2m đánh, T1 giơ tay trái lên đỡ làm cây sắt rơi xuống nền nhà. T1 nhặt lấy cây sắt cầm tay phải thấy bà P1 té ngồi trệt dưới nền gạch, T1 đánh một cái, bà P1 dùng ghế nhựa chống đỡ làm gãy chân ghế. Thấy bà P1 bị té, ông Đ nắm cổ áo kéo bà P1 đứng lên bị T1 đánh nhiều cái trúng cẳng tay trái làm gãy tay, trúng đính trái của ông Đ. Lúc này, mọi người can ngăn đưa ông Đ đến Bệnh viện Đ1 điều trị, đến ngày 14/02/2022 ra viện. Riêng những người tham gia đánh nhau bị thương tích được gia đình đưa đến Trung tâm y tế huyện T cấp cứu, điều trị ra viện trong ngày.
Ngày 02/3/2022, 27/4/2022, ông Đ, N2 có đơn yêu cầu khởi tố hình sự.
Ngày 04/4/2022, 04/5/2022, T1, N1, V có đơn không yêu cầu khởi tố hình sự và từ chối giám định thương tích.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 164/22/TgT ngày 31/3/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh T2 đối với Lương Văn Đ, sinh năm 1948, đã kết luận :
- - Dấu hiệu chính qua giám định:
- + Sẹo đính trái, kích thước (03 x 0.3)cm: tỷ lệ là 02%;
- + Bầm máu mặt trong 1/3 dưới cánh tay trái không tồn tại thương tích: tỷ lệ là 00%;
- + Sẹo mặt sau 1/3 trên đến 1/3 giữa cẳng tay trái trùng với vết mổ, kích thước (12 x 0.2)cm. Gãy hở 1/3 trên thân xương trụ trái, trật khớp quay trụ trên
3
- trái đã phẫu thuật kết hợp xương, hạn chế vận động khớp khuỷu mức độ nhẹ: tỷ lệ là 15%;
- - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là: 17%. Thương tích do vật tày gây nên.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 252/22/TgT ngày 09/5/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh T2 đối với Võ Văn N2, sinh năm 1990, đã kết luận:
- - Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo đính phải, nằm ngang, bờ không sắc, kích thước (06 x 0.3)cm, màu hồng, sẹo hơi lõm: Mẻ bản ngoài xương sọ đính phải, tương ứng với sẹo bên ngoài.
- - Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên: 07%. Thương tích trên do vật tày có cạnh gây nên.
Ngày 13/9/2023, Trung tâm pháp y tỉnh T2 có Công văn số 40/TL0-TTPY về việc cung cấp thông tin vụ Võ Văn N2, sinh năm 1990:
Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 252/22TgT ngày 09/5/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh T2. Trong trường hợp này, Trung tâm pháp y tỉnh T2 trả lời như sau:
- + Thương tích sẹo đính phải, nằm ngang, bờ không sắc, kích thước (06 x 0.3)cm, màu hồng, sẹo hơi lõm: Mẻ bản ngoài xương sọ đính phải, tương ứng với sẹo bên ngoài.
- + Nếu dùng đoạn cây khô đã mục dài khoảng 0,5m, tròn cỡ ngón chân cái, đánh nhẹ từ trên xuống thì không phù hợp với thương tích trên.
Tại Bản án số 49/2024/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn đã căn cứ quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Vỏ Thanh T1 (Võ Văn T) 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị cáo Vỏ Thanh T1 có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Lương Văn Đ tiền thuốc, chi phí điều trị 11.781.773 đồng, tổn thất tinh thần 18.000.000 đồng. Tổng cộng 29.781.773 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu lãi do chậm thi hành án về trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- - Ngày 12/6/2024, bị cáo T1 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- - Ngày 19/6/2024, bị hại Lương Văn Đ có đơn kháng cáo, yêu cầu tăng nặng hình phạt đối với bị cáo và tăng mức bồi thường, cụ thể yêu cầu bị cáo bồi thường
4
thiệt hại về tổn thất tinh thần, thiệt hại sức khỏe, chi phí điều trị, tiền mất thu nhập tổng cộng là 105.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo T1 giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; đồng ý bồi thường thêm cho bị hại số tiền 6.000.000 đồng so với mức bồi thường Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là 29.781.773 đồng, tổng cộng là 35.781.773 đồng.
Người bào chữa cho bị cáo luật sư Lại Văn G trình bày quan điểm: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như cấp sơ thẩm đã nhận định. Nguyên nhân chính dẫn đến việc bị cáo phạm tội là do lỗi của bị hại gây ra vì đã câu cổ và đánh con của bị cáo là V. Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại số tiền 6.000.000 đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam.
Bị hại ông Lương Văn Đ giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu tăng mức hình phạt đối với bị cáo và yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 105.000.000 đồng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại ông Lương Minh H1, Trợ giúp viên pháp lý trình bày quan điểm, đề nghị xem xét chấp nhận kháng cáo của bị hại ông Lương Văn Đ về việc tăng hình phạt và tăng mức bồi thường thiệt hại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:
- + Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: bị cáo T1 và bị hại Lương Văn Đ kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T1 và kháng cáo của bị hại về tăng hình phạt; giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt. Xử phạt bị cáo Vỏ Thanh T1 02 năm tù về tội cố ý gây thương tích.
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại về phần trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại chi phí điều trị: 11.781.773 đồng; tiền tổn thất tinh thần bằng 15 tháng lương cơ sở: 35.100.000 đồng và công nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường thêm cho bị hại: 6.000.000 đồng. Tổng cộng là 52.881.773 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
5
[1] Về thủ tục tố tụng: bị cáo Vỏ Thanh T1 (Võ Văn T) và bị hại Lương Văn Đ kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn luật định, về hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được chấp nhận xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về Nội dung:
Lời khai của bị cáo Vỏ Thanh T1 (Võ Văn T) tại phiên tòa phúc thẩm thừa nhận do biết con là Võ Văn V bị ông Đ kéo vào trong nhà và bị đánh nên đã xông vào nhà ông Đ định kéo con bị cáo ra thì bị bà P1 đánh bằng cây tre trúng mí mắt. Ông Đ cầm cây sắt vuông quơ đánh nên dùng tay đỡ làm rơi cây sắt. Sau đó T nhặt cây sắt vuông đánh bà P1 nhưng bà P1 dùng ghế đỡ, T dùng cây sắt vuông đánh ông Đ trúng vào cẳng tay trái, đính trái vùng đầu gây thương tích. Lời khai của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra thể hiện qua lời khai của bị hại Lương Văn Đ, xác định bị T đánh trúng đầu bằng cây sắt vuông gây thương tích, người làm chứng bà Trần Thị P1 xác định T dùng cây đánh vào đầu ông Đ.
Tuy ông Đ khai thương tích ở tay của ông là do Võ Văn N2 dùng cây đánh, không phải do T đánh nhưng kết quả điều tra xác định thương tích ở tay trái của ông Đ là do bị cáo T gây ra.
Lời khai nhận của bị cáo T còn phù hợp với Kết luận giám định pháp y về thương tích số 164/22/TgT ngày 31/3/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh T2 đối với bị hại Lương Văn Đ. Từ đó, đủ căn cứ xác định, các bị cáo Vỏ T đã có hành vi gây thương tích ở tay trái và đầu của bị hại Lương Văn Đ bằng hung khí nguy hiểm, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 17%. Hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, tuyên phạt bị cáo T 02 năm tù là đúng tội danh và khung hình phạt (từ 02 năm đến 06 năm tù).
Xét kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt, thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây tổn thương cơ thể bị hại với tỷ lệ 17%. Mặc dù nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo gây thương tích cho bị hại là do phía bị hại đã có hành vi trái pháp luật khi kéo con bị cáo là V vào nhà, cùng với P, S đánh dẫn đến V bị thương tích ở vùng đầu, gò má, cổ, nhưng bị cáo đã không có cách xử sự đúng đã xông vào nhà của bị hại dẫn đến các bên tiếp tục xô xát, đánh nhau. Bị cáo dùng cây sắt đánh bà P1 nhưng do bà P1 dùng ghế đỡ được, sau đó bị cáo tiếp tục đánh gây thương tích cho ông Đ. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm sức khỏe của ông Đ, đồng thời gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời xem xét áp dụng cho bị cáo đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ là tự bồi thường khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội trong trường hợp bị kích động tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra; học vấn thấp, nhận thức pháp luật hạn chế, chưa có tiền án tiền sự (theo các điểm b, e, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự). Tuy có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng bị cáo phạm tội thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội đối với người từ đủ 70 tuổi trở lên theo điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó, mức hình phạt 02 năm tù mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là ở mức thấp khung hình phạt, không nặng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào khác nên quan điểm của người
6
bào chữa cho bị cáo đề nghị chấp nhận kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.
Đối với kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng, cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá đầy đủ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như đã nhận định ở trên, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm nên quan điểm của người bảo vệ quyền lợi cho bị hại đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo là không có căn cứ chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.
Đối với yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của Võ Văn N2, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã tách ra để tiếp tục điều tra, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định trong bản án không đề cập giải quyết trong vụ án này là có căn cứ.
Đối với kháng cáo của bị hại về tăng mức bồi thường, Hội đồng xét xử nhận thấy, bị hại bị thương tích do bị cáo T gây ra, điều trị tại Bệnh viện Đ1 từ ngày 02/02/2022 đến ngày 14/02/2022 xuất viện với thương tích ở đầu và tay, trong đó có vết thương gãy hở độ 1 1/3 trên xương trụ kèm trật khớp quay trụ trên. Chi phí điều trị tại bệnh viện do bị hại cung cấp tổng số tiền 11.781.773 đồng.
Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 105.000.000 đồng gồm thiệt hại về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm, tiền thuốc điều trị, mất thu nhập cá nhân. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của ông Đ gồm: chi phí điều trị theo hóa đơn chứng từ là 11.781.773 đồng và tổn thất tinh thần bằng 10 tháng lương cơ sở là 18.000.000 đồng, tổng cộng là 29.781.773 đồng.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị hại thấy rằng, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu bồi thường của bị hại về chi phí điều trị theo hóa đơn, chứng từ số tiền 11.781.773 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định điểm a khoản 1 Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Đối với thu nhập của bị hại, ông Đ khai trước khi bị đánh gây thương tích ông làm thuê buộc cổ chuối và đào đất thuê thu nhập mỗi ngày từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng. Qua xác minh của Cơ quan điều tra thì ông Đ do lớn tuổi không có việc làm, chỉ ở nhà phụ giúp gia đình và trông cháu, không có thu nhập cá nhân. Do đó, cấp sơ thẩm không buộc bị cáo bồi thường tiền mất thu nhập cho bị hại là có căn cứ.
Đối với tiền tổn thất tinh thần, ông Đ bị thương tích ở đầu, tay, tỷ lệ thương tật là 17%, ông Đ bị gây thương tích khi đã 74 tuổi, do đó tâm lý, tinh thần bị ảnh hưởng. Theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì mức bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần tối đa không quá 50 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định. Cấp sơ thẩm xác định tiền tổn thất tinh thần của ông Đ bằng 10 tháng lương cơ sở (1.800.000 đồng/tháng), số tiền 18.000.000 đồng là chưa phù hợp, cần xác
7
định mức bồi thường tổn thất tinh thần của ông Đ bằng 15 tháng lương cơ sở theo Nghị định số 73/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ là 2.340.000 đồng/tháng. Tiền tổn thất tinh thần được tính là: 15 tháng x 2.340.000 đồng = 35.100.000 đồng.
Đối với các chi phí khác theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015, do ông Đ không yêu cầu và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ nên cấp sơ thẩm không đề cập đến là có căn cứ.
Như vậy cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại, buộc bị cáo T bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Đ gồm chi phí điều trị: 11.781.773 đồng, tiền tổn thất tinh thần: 35.100.000 đồng, tổng cộng là 46.881.773 đồng. tính tròn là: 46.881.000 đồng.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị công nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường thêm cho bị hại số tiền 6.000.000 đồng, cộng với số tiền 46.881.000 đồng, tổng cộng là 52.881.000 đồng là không có cở sở, bởi vì bị cáo chỉ đồng ý bồi thường thêm 6.000.000 đồng so với mức bồi thường mà cấp sơ thẩm đã tuyên (29.781.773 đồng).
Trong giai đoạn điều tra, gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 6.000.000 đồng để bồi thường, khắc phục hậu quả cho ông Đ, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn đang quản lý. Cần tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo cho việc thi hành án.
[3] Về án phí dân sự: Bị cáo T phải chịu 2.344.000 đồng án phí dân sự về phần bồi thường trách nhiệm dân sự.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm, do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Ông Đ được miễn nộp án phí sơ thẩm và phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vỏ Thanh T1 (Võ Văn T) và bị hại ông Lương Văn Đ; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HSST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn về hình phạt;
- - Tuyên bố bị cáo Vỏ Thanh T1 (Võ Văn T) phạm tội “Cố ý gây thương tích";
8
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Vỏ T (Võ Văn T) 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị bắt tạm giam 27 tháng 6 năm 2023.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại Lương Văn Đ về tăng mức bồi thường thiệt hại.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Vỏ Thanh T1 (Võ Văn T) có trách nhiệm bồi thường cho ông Lương Văn Đ tiền thuốc, chi phí điều trị và tiền tổn thất tinh thần số tiền: 46.881.000 đồng (bốn mươi sáu triệu tám trăm tám mươi mốt nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tiếp tục tạm giữ số tiền bị cáo đã nộp 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/12/2023 để đảm bảo thi hành án.
Về án phí dân sự: Bị cáo Vỏ Thanh T1 phải chịu phí dân sự sơ thẩm là 2.344.000 đồng (hai triệu ba trăm bốn mươi bốn nghìn đồng);
Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2024/HSST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Tâm |
9
- - Người bào chữa;
- - Người BVQL hợp pháp của BH;
- - Phòng KTNV và THA;
- - Tòa Hình sự;
- - PV 06;
- - Sở Tư pháp;
- - Văn phòng;
- - Lưu.
Bản án số 122/2024/HS-PT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 122/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dùng cây sắt gây thương tích
