Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 122/2024/HS-ST

Ngày: 26/11/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Tiến Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Thanh Thủy.
  2. Ông Hà Huy Khoa.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2024/TLST-HS ngày 19/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024 QĐXXST- HS ngày 12/11/2024 đối với các bị cáo:

1/ Phạm Tiến T2, sinh ngày 26/7/1995. Tại: Thôn V, xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình;

Nơi cư trú: Số nhà A ngõ B, đường N, tổ F, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: (Không xác định bố là ai) và bà: Phạm Thị T; Có vợ: Trần Thu H1, sinh năm 2000 (đã ly hôn) và có có 01 con sinh năm 2019;

+ Tiền sự: Không;

+ Tiền án: Không;

Nhân thân: Bản án số 101/2020/HSST ngày 22/12/2020, Toà án nhân dân huyện Đông Hưng xử phạt T2 02 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2020; T2 chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/6/2022; chấp hành xong án phí ngày 28/6/2022; chấp hành xong hình phạt bổ sung ngày 12/7/2024.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2024 đến ngày 23/7/2024 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

2/ Hà Ngọc Đ, sinh ngày 29/3/1994. Tại: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hà Văn T1 và bà: Quách Thị K; Chưa có vợ;

+Tiền sự: Không;

+Tiền án: Không;

Nhân thân: Ngày 08/9/2015 tham gia nghĩa vụ quân sự đóng quân tại Lữ đoàn pháo binh D đến ngày 26/01/2017 xuất ngũ về địa phương, lao động tự do.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2024 đến ngày 23/7/2024 chuyển tạm giam đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

+ Người chứng kiến:

Ông Tô Văn B, sinh năm 1970, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ; ông Vũ Văn Đ1, sinh năm 1962, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình

(Đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/7/2024, tại Quốc lộ C, thôn T, xã Đ, huyện Đ, tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang Hà Ngọc Đ, sinh năm 1994; nơi cư trú: thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình có hành vi tàng trữ trái phép ở túi quần bên phải đang mặc 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ bên trong có chứa 06 viên nén màu xám hình lựu đạn, có khối lượng 3,3854 gam ma tuý, loại MDMA mục đích để sử dụng cho bản thân. Hà Ngọc Đ khai là ma túy kẹo mua của Phạm Tiến T2, sinh năm 1995, đăng ký hộ khẩu thôn V, xã D, huyện V với giá 4.400.000 đồng. Cùng ngày Phạm Tiến T2 đã đến trụ sở Công an huyện Đ để đầu thú và khai báo toàn bộ hành vi bán trái phép chất ma túy cho Hà Ngọc Đ.

Quá trình điều tra, truy tố bị can Hà Ngọc Đ và bị can Phạm Tiến T2 khai: Sáng ngày 16/7/2024, Phạm Tiến T2 đi đến khu vực ngã tư G, thuộc xã Đ, thành phố T mục đích mua ma tuý về bán kiếm lời. Đến nơi, T2 mua được 06 viên ma tuý tổng hợp với giá 500.000 đồng/1 viên của 01 người đàn ông khoảng 30 tuổi không quen biết. Sau khi mua được ma tuý, T2 mang ma tuý về chỗ trọ cất giấu mục đích có ai hỏi mua thì bán. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi T2 đang ở khu vực phòng trọ thì Hà Ngọc Đ là bạn quen biết gọi điện hỏi mua 06 viên ma tuý tổng hợp. Sẵn có ma tuý nên T2 đồng ý bán ma tuý cho Đ với giá 650.000 đồng/1 viên, lãi 150.000 đồng/1 viên. T2 và Đ thống nhất, T2 sẽ mang ma tuý giao cho Đ tại cây xăng Đ2, T2 lấy công 500.000 đồng. Sau đó T2 gửi số tài khoản 0973723924 tại ngân hàng TMCP Q cho Đ. Đỉnh sử dụng số tài khoản 1031019878 tại ngân hàng TMCP N chuyển 4.400.000 đồng đến tài khoản của T2 để mua ma tuý. Sau khi nhận được tiền của Đ, T2 lấy số ma tuý cất giấu trong phòng đựng vào 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ rồi bắt taxi mang ma tuý giao cho Đ. Khi đến khu vực cây xăng xã Đ, T2 bảo taxi đứng đợi rồi xuống xe đi đến mé đường đợi Đỉnh. Một lúc sau, Đ đi bộ đến chỗ T2 đứng, T2 không nói gì mà đưa ma tuý cho Đ rồi quay lại xe taxi để về. Đỉnh nhận ma tuý từ T2, cất vào túi quần bên phải rồi đi bộ dọc Quốc lộ C thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã Đ đang làm nhiệm vụ yêu cầu dừng lại để kiểm tra vì nghi có liên quan đến ma tuý. Tổ công tác mời người chứng kiến là ông Vũ Văn Đ1, sinh năm 1962, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình và ông Tô Văn B, sinh năm 1970, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; giải thích quyền, nghĩa vụ theo quy định thì Hà Ngọc Đ đã tự nguyện lấy từ túi quần bên phải đang mặc ra giao nộp 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ, bên trong chứa 06 viên nén hình lựu đạn, Đ khai là ma tuý tổng hợp mua để bản thân sử dụng và 01 điện thoại di động Iphone 8 đã qua sử dụng. Tổ công tác đã đưa Hà Ngọc Đ và mời người chứng kiến về trụ sở Công an xã Đ, huyện Đ, lập biên bản biên bản bắt người phạm tội quả tang và lập biên bản quản lý, niêm phong vật chứng. Sau khi nhận được thông tin Hà Ngọc Đ bị bắt do liên quan đến ma tuý nên cùng ngày Phạm Tiến T2 đã đến Cơ quan điều tra Công an huyện Đ để đầu thú khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Tiến T2 tại số nhà A, ngõ B, đường N, tổ F, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình và nơi ở của Hà Ngọc Đ tại thôn T, xã Đ, thành phố T nhưng đều không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Kiểm tra điện thoại di động Iphone 8, màu hồng, đã qua sử dụng, lắp số thuê bao 0981283823 của Hà Ngọc Đ tại mục “Điện thoại” phát hiện 01 cuộc gọi đi hồi 19 giờ 22 phút ngày 16/7/2024 và 01 cuộc gọi đến hồi 19 giờ 23 phút ngày 16/7/2024 đều đến số điện thoại 0973.837.xxx lưu tên “Thành Cổ M”.

Tại Bản kết luận giám định số 1112/KL-KTHS ngày 22/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma tuý, loại MDMA, có khối lượng 3,3854 gam (Ba phẩy ba nghìn tám trăm năm mươi tư gam).

Tại bản cáo trạng số 122/CT-VKSĐH ngày 28/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo: Phạm Tiến Thành về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Hà Ngọc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo T2 và bị cáo Đ theo toàn bộ nội dung cáo trạng:

Đề nghị tuyên bố bị cáo Phạm Tiến T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Hà Ngọc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng đối với bị cáo T2: Khoản 1, 5 Điều 251; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo T2 từ 03 năm 06 tháng tù đến 03 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tù tính từ ngày 17/7/2024. Phạt bổ sung bị cáo T2 từ 5.000.000 đồng đến 7 triệu đồng để sung quỹ nhà nước.

Áp dụng đối với bị cáo Đ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đ từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tù tính từ ngày 17/7/2024. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đ.

Ngoài ra Kiểm sát viên còn để nghị xử lý vật chứng và án phí.

Tranh luận: Các bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về căn cứ kết tội đối với các bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Tiến T2, bị cáo Hà Ngọc Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu.

Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 16/7/2024, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú ngày 16/7/2024, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, sao kê tài khoản ngân hàng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/7/2024, tại khu vực cây xăng xã Đ, huyện Đ, Phạm Tiến T2 có hành vi bán trái phép 3,3854 gam ma tuý, loại MDMA cho Hà Ngọc Đ với giá 4.400.00 đồng. T2 mang ma túy giao cho Đ để Đ sử dụng cho bản thân. Khi Đ cất giấu ma tuý trên người đi bộ trên Quốc lộ C, địa phận thôn T, xã Đ, huyện Đ thì bị lực lượng công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Phạm Tiến T2 và bị cáo Hà Ngọc Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của nhà nước. Nghiện ma tuý là tệ nạn đang được đấu tranh bài trừ ra khỏi đời sống xã hội. Các bị cáo đã nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, hành vi trên của bị cáo Phạm Tiến T2 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Hà Ngọc Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3]. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng truy tố bị cáo Phạm Tiến T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo Hà Ngọc Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Các bị cáo Phạm Tiến T2, Hà Ngọc Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo T2 đã ra đầu thú tự nguyện khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, bị cáo Đ có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.

[6]. Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự và khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đều sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Bị cáo T2 mua ma tuý về bán kiếm lời nên cần áp dụng dụng phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp; bị cáo Đ tàng trữ ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho bản thân không nhằm mục đích bán kiếm lời nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đ.

[7]. Về xử lý vật chứng:

[7.1]. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là chất nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7.2]. Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 8, màu hồng của Đ và 01 điện thoại Iphone 8 plus màu vàng của T2 các bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua ma tuý nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7.3]. Đối với số tiền bị cáo T2 bán ma tuý mà có cần tuyên buộc bị cáo T2 nộp lại để sung quỹ nhà nước.

[8]. Về nguồn gốc số ma túy bị cáo Phạm Tiến T2 khai mua của một người nam giới không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực ngã tư G, xã Đ, thành phố T nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra xử lý.

[9]. Về án phí: Bị cáo Phạm Tiến T2, bị cáo Hà Ngọc Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Tiến T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Hà Ngọc Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

[2] Về áp dụng luật và hình phạt:

Áp dụng đối với bị cáo T2: Khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Áp dụng đối với bị cáo Đ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Tiến T2 03 (Ba) năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2024.

Xử phạt: Hà Ngọc Đ 02 (Hai) năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2024.

- Phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Tiến T2 7.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

[3] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số MDMA còn lại sau giám định có khối lượng 2,5866gam

- Tịch thu hóa giá sung công quỹ nhà nước: 01 chiếc điện thoại Iphone 8, màu hồng của Hà Ngọc Đ và 01 điện thoại Iphone 8 plus màu vàng của Phạm Tiến T2.

(Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/10/2024).

Buộc bị cáo Phạm Tiến T2 phải nộp số tiền 4.400.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

[4] Về án phí:

- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí.

Bị cáo T2 và bị cáo Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo đối với các bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận

  • - Bị cáo
  • - VKS, CA, THA h Đông Hưng.
  • - VKS tỉnh Thái Bình
  • - Nhà tạm giữ CAH Đông Hưng;
  • - Sở tư pháp ( khi án có hiệu lực)
  • - Lưu HS, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Tiến Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 122/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Th -Đ phạm tội Mua bán- tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger