TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 122/2024/DS-ST Ngày: 26-4-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Kim Uyên;
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Ngọc Vương – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 86/2024/TLST-DS ngày 20/02/2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V1); trụ sở: Tầng 1 (tầng trệt) và Tầng B, Tòa nhà S - A P, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Tầng F, Tòa nhà P, số B U, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thế V; địa chỉ: Tầng F, Tòa nhà P, số B U, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 01/12/2023); (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Lê Hồng T, sinh năm 1974; địa chỉ: Số B khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Hồng T1, sinh năm 1947; địa chỉ: Số B khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1950; địa chỉ: Số B khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Vắng mặt).
- Bà Trần Thị T2, sinh năm 1984; địa chỉ: Số B khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 12 năm 2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q (gọi tắt là Ngân hàng V1) là ông Nguyễn Thế V trình bày:
Ngân hàng V1 đã ký với ông Lê Hồng T hợp đồng tín dụng số 4307443.19 ngày 20/5/2019 với nội dung: VIB cho ông Lê Hồng T vay số tiến 360.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Sửa chữa nhà và mua sắm vật dụng gia đình cho bố mẹ tại địa chỉ: Khu phố T, phường D, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương, thuộc thửa đất số 2934, tờ bản đồ số 2AB.13; Thời hạn vay: 84 tháng, từ 29/5/2019 đến 29/5/2026. Lãi suất: Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 10,2%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là: Lãi suất cơ sở theo sản phẩm trong kỳ + biên độ 3,2%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,1%/năm. Số tiền/ngày hoàn trả: Hoàn trả khoản tín dụng gốc: hàng tháng trả 4.286.000 đồng cùng với ngày trả lãi, phần còn lại trả vào kỳ cuối cùng. Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 16, kỳ trả nợ đầu tiên ngày 16/6/2019. Trả phí: theo quy định của Ngân hàng V1 từng thời kỳ. Ngày 29/5/2019, Ngân hàng V1 đã giải ngân cho ông Lê Hồng T theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhân nợ số 4307443(1).19 với số tiền 360.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với hợp đồng tín dụng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Hồng T đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán từ ngày 16/02/2023 và đang xếp loại nợ nhóm 4 là nợ xấu theo quy định tại Điều 10 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng N. Tính đến ngày 26/4/2024, ông Lê Hồng T mới chỉ thanh toán cho Ngân hàng V1 tổng số tiền 329.628.301 đồng, trong đó: nợ gốc 213.440.300 đồng, nợ lãi 116.188.001 đồng. Dư nợ đến thời điểm hện tại là 181.698.520 đồng, trong đó: nợ gốc 146.559.700 đồng, lãi trong hạn: 20.708.546 đồng, lãi quá hạn: 14.430.273 đồng.
Để đảm bảo cho khoản vay, ông Lê Hồng T1 và bà Nguyễn Thị D đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 2934, tờ bản đồ số: 2AB.13, địa chỉ: khu phố T, phường D, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BC 695576, số vào số cấp GCN: CH 02285 do Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 06/01/2011 đứng tên ông Lê Hồng T1 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số công chứng: 007234, Quyền số: 12 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C ngày 23/5/2019. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Do ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng V1 khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Lê Hồng T phải trả cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 26/04/2024 là 181.698.520 đồng, trong đó: nợ gốc: 146.559.700 đồng, lãi trong hạn: 20.708.546 đồng, lãi quá hạn: 14.430.274 đồng.
- Buộc ông Lê Hồng T còn phải tiếp tục trả lãi trong hạn, lãi quá hạn cho Ngân hàng TMCP Q kể từ ngày 27/04/2024 cho đến khi ông Lê Hồng T thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng số 4307443.19 ngày 20/5/2019 và đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4307443(1).19 ngày 29/5/2019.
- Trường hợp ông Lê Hồng T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 2934, tờ bản đồ số: 2AB.13, địa chỉ: khu phố T, phường D, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BC 695576, số vào số cấp GCN: CH 02285 do Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 06/01/2011 cho ông Lê Hồng T1.
* Quá trình tố tụng bị đơn ông Lê Hồng T trình bày: Thống nhất với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bị đơn đề nghị Ngân hàng cho bị đơn hạn chót thanh toán đến ngày 20/3/2025 sẽ thanh toán hết khoản nợ vay cho Ngân hàng V1.
* Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T2 trình bày: Thống nhất với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bà T2 đề nghị Ngân hàng cho ông T hạn chót thanh toán đến ngày 20/3/2025 sẽ thanh toán hết khoản nợ vay cho Ngân hàng V1
* Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hồng T1 và bà Nguyễn Thị D: Đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý; thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố, không có yêu cầu độc lập, không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm người tham gia tố tụng, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ:
Quyền sử dụng đất diện tích 125,3m² thuộc thửa đất số 2934, tờ bản đồ số 2AB.13, tọa lạc khu phố T, phường D, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BC 695576, số vào số cấp GCN: CH 02285 do Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 06/01/2011 cho ông Lê Hồng T1. Tài sản gắn liền trên đất: Nhà ở riêng lẻ loại 3 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô, phía trong có ốp gạch men lửng, khung cột + sàn bê tông cốt thép, cầu thang bằng bê tông cốt thép (bậc thang còn đang hoàn thiện), mái tôn cửa sắt + cửa kính khung sắt, diện tích 66m² xây dựng; Nhà ở riêng lẻ loại 1 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước, khung ốp gạch, trần nhựa, cửa kính khung nhôm phía trong, cửa sắt kéo phía ngoài diện tích 54m²; 01 điện kế chính; 01 đồng hồ nước chính.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T2 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hồng T1, bà Nguyễn Thị D được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự là đúng quy định. Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hồng T1, bà Nguyễn Thị D được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T2 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả các đương sự có tên nêu trên.
[2] Về nội dung vụ án: Ngày 20/5/2019, Ngân hàng V1 đã ký với ông Lê Hồng T hợp đồng tín dụng số 4307443.19, cụ thể; Số tiền vay: V1 cho ông Lê Hồng T vay số tiến 360.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Sửa chữa nhà và mua sắm vật dụng gia đình cho bố mẹ tại địa chỉ: khu phố T, phường D, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương, thuộc thửa đất số 2934, tờ bản đồ số 2AB.13; Thời hạn vay: 84 tháng, từ 29/5/2019 đến 29/5/2026. Lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất: Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 10,2%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là: Lãi suất cơ sở theo sản phẩm trong kỳ + biên độ 3,2%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,1%/năm. Số tiến/ngày hoàn trả: Hoàn trả khoản tín dụng gốc: hàng tháng trả 4.286.000 đồng cùng với ngày trả lãi, phần còn lại trả vào kỳ cuối cùng. Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 16, kỳ trả nợ đầu tiên ngày 16/6/2019. Trả phí: theo quy định của V1 từng thời kỳ. Thực hiện theo hợp đồng tín dụng Ngân hàng V1 đã giải ngân cho ông Lê Hồng T số tiền đã vay. Do ông Lê Hồng T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng V1 khởi kiện yêu cầu ông Lê Hồng T phải thanh toán nợ vay.
Bị đơn ông Lê Hồng T thống nhất với nguyên đơn về việc ký kết hợp đồng tín dụng. Ông T trình bày do tình hình kinh tế khó khăn nên ông T đề nghị Ngân hàng VIB cho ông T thời gian thanh toán khoản nợ hạn chót vào ngày 20/3/2025.
[3] Xét, hợp đồng tín dụng số 4307443.19 ngày 20/5/2019 được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện. Thực hiện hợp đồng Ngân hàng V1 đã giải ngân cho ông Lê Hồng T vay tổng số tiền 360.000.000 đồng theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhân nợ số 4307443(1).19 ngày 29/5/2019. Thực hiện hợp đồng ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V1 theo thỏa thuận đã ký nên khoản vay của bị đơn đã chuyển thành nợ quá hạn. Qúa trình giải quyết vụ án bị đơn thống nhất với số tiền còn nợ, tuy nhiên do tình hình kinh tế khó khăn nên bị đơn đề nghị nguyên đơn cho bị đơn thanh toán nợ vào ngày 20/3/2025. Tuy nhiên, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn không đồng ý. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, vì vậy, Ngân hàng V1 yêu cầu ông T phải thanh toán số tiền nợ phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 4307443.19 ngày 20/5/2019, tính đến ngày 26/4/2024 là 181.698.520 đồng, trong đó: Nợ gốc 146.559.700 đồng, lãi trong hạn: 20.708.546 đồng, lãi quá hạn: 14.430.274 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[4] Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất được công chứng tại Văn phòng C1, số công chứng: 007234, Quyền số: 12 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/5/2019, đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố D, tỉnh Bình Dương ngày 25/5/2019. Theo đó, tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 2934, tờ bản đồ số: 2AB.13, địa chỉ: khu phố T, phường D, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BC 695576, số vào số cấp GCN: CH 02285 do Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 06/01/2011 đứng tên ông Lê Hồng T1. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ trên quyền sử dụng đất có 01 nhà ở riêng lẻ loại 3 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô, phía trong có ốp gạch men lửng, khung cột + sản bê tông cốt thép, cầu thang bằng bê tông cốt thép (bậc thang còn đang hoàn thiện), mái tôn cửa sắt + cửa kính khung sắt, diện tích 66m²; 01 nhà ở riêng lẻ loại 1 tầng có kết cấu như sau: nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước, khung ốp gạch, trần nhựa, cửa kính khung nhôm phía trong, cửa sắt kéo phía ngoài diện tích 54m²; 01 điện kế chính; 01 đồng hồ nước chính. Ông Lê Hồng T1 và bà Nguyễn Thị D đã sử dụng tài sản trên của mình để đảm bảo cho khoản vay của ông Lê Hồng T tại Ngân hàng V1. Xét, Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên thể hiện sự tự nguyện của các bên, không trái đạo đức, không trái pháp luật, tuân thủ quy định về hình thức và được đăng ký giao dịch đảm bảo đúng quy định của pháp luật nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện. Do đó, trường hợp ông T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng V1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất nêu trên để thu hồi nợ là phù hợp.
[6] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[7] Chi phí tố tụng khác: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 5.000.000đ. Ngân hàng V1 đã tạm ứng. Ông Lê Hồng T phải chịu và có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng V1
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Hồng T phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 280, 317, 318, 319, 323 của Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;
Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q đối với ông Lê Hồng T về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc ông Lê Hồng T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q số tiền nợ theo hợp đồng tín dụng số 4307443.19 ngày 20/5/2019, tính đến ngày 26/4/2024, tổng số tiền: 181.698.520đ (một trăm tám mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn năm trăm hai mươi đồng), trong đó:
- Nợ gốc 146.559.700đ (một trăm bốn mươi sáu triệu năm trăm năm mươi chín nghìn bảy trăm đồng);
- Nợ lãi quá hạn: 20.708.546đ (hai mươi triệu bảy trăm kẻ tám nghìn năm trăm bốn mươi sáu đồng);
- Lãi quá hạn: 14.430.274đ (mười bốn triệu bốn trăm ba mươi nghìn hai trăm bảy mươi tư đồng).
- Tiền lãi được tiếp tục tính kể từ ngày 27/4/2024 cho đến khi ông Lê Hồng T thanh toán xong khoản nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận theo hợp đồng tín dụng số 4307443.19 ngày 20/5/2019 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhân nợ số 4307443(1).19 ngày 29/5/2019.
- Trường hợp ông Lê Hồng T không thanh toán được nợ cho Ngân hàng TMCP Q thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 2934, tờ bản đồ số: 2AB.13 tọa lạc khu phố T, phường D, thị xã D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: BC 695576, số vào số cấp GCN: CH 02285 do Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp ngày 06/01/2011 cho ông Lê Hồng T1. Tài sản gắn liền trên đất gồm: Nhà ở riêng lẻ loại 3 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô, phía trong có ốp gạch men lửng, khung cột + sàn bê tông cốt thép, cầu thang bằng bê tông cốt thép (bậc thang còn đang hoàn thiện), mái tôn cửa sắt + cửa kính khung sắt, diện tích 66m² xây dựng; Nhà ở riêng lẻ loại 1 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước, khung ốp gạch, trần nhựa, cửa kính khung nhôm phía trong, cửa sắt kéo phía ngoài diện tích 54m²; 01 điện kế chính; 01 đồng hồ nước chính.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Hồng T phải chịu số tiền 9.084.926đ (chín triệu không trăm tám mươi tư nghìn chín trăm hai mươi sáu đồng).
Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q 4.203.636đ (bốn triệu hai trăm lẻ ba ngàn sáu trăm ba mươi sáu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004384 ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Chi phí tố tụng khác: Ông Lê Hồng T phải chịu 5.000.000đ (năm triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng TMCP Q.
- Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ HẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |
Bản án số 122/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 122/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Q với Lê Hồng T
