Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122 /2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26/4/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thơm

Bà Phạm Thị Thà

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 86/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị X, sinh năm 1987.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu dân cư M, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Nhật Bản.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh C, sinh năm 1980,

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu dân cư M, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Nhật Bản.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Thị N, sinh năm 1963 và anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1973.

Đều có địa chỉ: Khu dân cư M, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Chị X, anh C, bà N, anh H vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn và bản tự khai, biên bản lấy lời khai, chị Hoàng Thị X trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thanh C tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C (nay là phường C, thành phố C), tỉnh Hải Dương vào ngày 23/12/2005. Sau khi kết, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Năm 2018, chị đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, thời gian đầu vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc, nói chuyện với nhau qua điện thoại nhưng do vợ chồng đã có nhiều mâu thuẫn từ trước nên những lần gọi điện thì vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, bất đồng quan điểm, định hướng tương lai khác nhau và không có sự tin tưởng nhau. Vợ chồng đã cắt đứt liên lạc từ năm 2018. Hai bên gia đình cũng nhiều lần khuyên bảo nhưng vợ chồng chị vẫn không hàn gắn được tình cảm. Qua các con chị được biết anh C đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản từ tháng 10/2023 cho đến nay chưa về nước. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.

- Về con chung: Chị và anh C có 02 con chung Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 27/11/2006 và Nguyễn Thảo N1, sinh ngày 12/11/2012, hiện nay các cháu đều đang ở với gia đình chị. Ly hôn chị đề nghị được chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung và tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cùng chị. Hiện nay chị đang làm việc tại Nhật Bản nên chị nhờ mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị N thay chị chăm sóc con chung cho đến khi chị về nước.

- Về tài sản, vay nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Anh Nguyễn Văn H (là anh trai ruột của anh Nguyễn Thanh C) trình bày: Về thời điểm kết hôn của chị X và anh C như chị X trình bày là đúng. Anh C hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, anh C vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Anh C đã biết việc chị X có đơn xin ly hôn, anh C nhờ anh trình bày quan điểm của anh C với Tòa án. Anh C xác định không muốn ly hôn để vợ chồng tiếp tục nuôi dạy các con nhưng nếu chị X cương quyết ly hôn, anh C nhất trí theo yêu cầu của chị X. Về con chung, anh C xác định vợ chồng có 02 con chung Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 27/11/2006 và Nguyễn Thảo N1, sinh ngày 12/11/2012, hiện nay các con đều đang ở với ông bà ngoại. Ly hôn, anh C có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 con chung nhưng nếu chị X không đồng ý, anh C đề nghị được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thảo N1. Hai bên không phải thực hiện việc cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cho nhau. Anh C đang đi làm ở Nhật Bản nhờ anh chăm sóc con chung trong thời gian anh C chưa về nước, anh nhất trí. Về tài sản chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị N (là mẹ đẻ chị Hoàng Thị X): Chị X ủy quyền cho bà giao, nhận các văn bản tố tụng tại Tòa án, bà nhất trí. Hiện nay con chung của vợ chồng chị X, anh C là Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 27/11/2006 và Nguyễn Thảo N1, sinh ngày 12/11/2012 đều đang ở cùng gia đình bà. Trong thời gian chị X đi làm xa, chị X nhờ bà chăm sóc con chung cho đến khi chị về nước, bà nhất trí.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị X có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh C vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh H, bà N đều có quan điểm xin vắng mặt.

Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho chị Hoàng Thị X được ly hôn với anh Nguyễn Thanh C; Giao cho chị X tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 27/11/2006 và Nguyễn Thảo N1, sinh ngày 12/11/2012 cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị X không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung. Tạm giao cháu Nguyễn Hoàng A, Nguyễn Thảo N1 cho bà Nguyễn Thị N chăm sóc trong thời gian chị X ở nước ngoài. Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết. Về án phí: Chị X phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Chị X có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Nguyễn Thanh C. Chị X, anh C hiện đang sinh sống và lao động tại Nhật Bản. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị X không cung cấp được địa chỉ của anh C tại Nhật Bản. Theo hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị X và gia đình anh C cung cấp địa chỉ, nhưng chị X không cung cấp được. Thông qua gia đình xác định anh C có liên lạc về gia đình, gia đình anh C không cung cấp được địa chỉ của anh C tại Nhật Bản. Do vậy, áp dụng Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.

Tại phiên tòa chị X có đơn xin xét xử vắng mặt; anh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do; anh H, bà N đều có quan điểm xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị X, anh C, anh H và bà N.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị X và anh Nguyễn Thanh C tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C (nay là phường C, thành phố C), tỉnh Hải Dương vào ngày 23/12/2005 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị X và anh C nhiều lần nảy sinh mâu thuẫn, hiện nay vợ chồng đều đang sinh sống làm việc tại Nhật Bản nhưng không liên lạc với nhau. Xét thấy vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian dài, không còn quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống. Chị X xác định không còn tình cảm với anh C và có đơn xin ly hôn. Thông qua gia đình, anh C xác định không muốn ly hôn nhưng nếu chị X cương quyết xin ly hôn anh C nhất trí. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng chị X, anh C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị X được ly hôn anh C là phù hợp.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Chị X, anh C có 02 con chung Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 27/11/2006 và Nguyễn Thảo N1, sinh ngày 12/11/2012, hiện đều đang ở cùng với gia đình chị X. Chị X có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung sau khi ly hôn và tự nguyện không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh C có quan điểm đề nghị được nuôi dưỡng cả 02 con chung, nhưng nếu chị X không đồng ý, anh C đề nghị được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thảo N1, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cho nhau.

Xét thấy, cháu A, cháu N1 đang có cuộc sống ổn định cùng với gia đình chị X, các cháu đều có nguyện vọng được ở cùng với mẹ. Do đó, cần tiếp tục giao cháu A, cháu N1 cho chị X được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị X không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tạm giao cháu A, cháu N1 cho bà Nguyễn Thị Nhất 1 mẹ đẻ của chị X chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị X đang làm việc ở nước ngoài.

Anh Nguyễn Thanh C được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.3] Về tài sản chung, vay nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị X là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị X được ly hôn anh Nguyễn Thanh C.
  2. Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị X được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Hoàng A, sinh ngày 27/11/2006 và Nguyễn Thảo N1, sinh ngày 12/11/2012 cho đến khi trưởng thành. Chấp nhận sự tự nguyện của chị X không yêu cầu anh C cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

    Tạm giao cháu Nguyễn Hoàng A và cháu Nguyễn Thảo N1 cho bà Nguyễn Thị N chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị X không ở Việt Nam.

    Anh Nguyễn Thanh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Hoàng Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000459 ngày 21/02/2024 (chị X đã nộp đủ án phí).
  4. Về quyền kháng cáo: Chị X, anh C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Anh H, bà N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND phường Chí Minh, TP Chí Linh
  • (để ghi vào sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa HC, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mai Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 122/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị X xin ly hôn Nguyễn Thanh C, tranh chấp nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger