|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 122/2024/HS-ST
Ngày 23-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Dương Thị Hồng Vân
Bà Nguyễn Minh Hằng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 123/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Việt K, sinh ngày 01 tháng 6 năm 2002 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số D, lô B, Tổ dân phố số C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Phạm Thị Á; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 27/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị hại:
- Bà Vũ Thị L, sinh 1953; nơi cư trú: Số D, lô B, Tổ dân phố C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Ông Trịnh Văn D, sinh 1967; nơi cư trú: Số E, lô D, Tổ dân phố C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người làm chứng: Chị Trịnh Như Q; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền nên tối ngày 16/7/2023, Lê Việt K cầm 01 gậy gỗ kích thước 1,2 x 0,02 x 0,03 m có gắn đinh; 01 dao nhọn kích thước dài 18, bản rộng 02 cm có chuôi màu da cam đi từ nhà ra khu vực trước cửa số nhà F, lô D, tổ C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng với mục đích gặp ai thì chặn lại để đe dọa và yêu cầu họ đưa tiền cho K.
Khoảng 20 giờ cùng ngày K gặp bà Vũ Thị L, sinh 1953; nơi cư trú tại: Số D, lô E, TDP C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng đi xe đạp qua, K liền chặn đầu xe với mục đích để lấy tiền của bà L. K dùng gậy gõ vào đầu xe nói: “đứng lại, đưa mười nghìn đây”, bà L nói lại: “tao làm gì có tiền mà cho”, K nói tiếp “đưa mười nghìn đây”, bà L nói “ơ mày trấn lột đấy à”. Lúc này, thấy trong rọ xe đạp của bà L có một cái túi bóng màu đen nên K mở chiếc túi đen ra xem có gì để lấy thì nhìn thấy có một con dao K nói: “mày không được đi lối này, mày đi lối này tao đâm chết”. Bà L hô to “D ơi, D ơi thằng này nó cầm dao cầm gậy đánh tao này, nó lấy tiền của tao này”. Do nghe thấy bà L hô hoán ông Trịnh Văn D, sinh 1967; nơi cư trú: Số E, lô D, tổ C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng quay ra nhìn thấy K đang cầm dao, gậy chặn đầu xe của bà L, ông D nói “thằng kia mày làm cái gì thế”, K nói lại “không phải việc của ông, ông đi về đi”, ông D nói tiếp: “thằng này mày định lấy tiền của bà già à”. Sau đó, ông D tiến lại nơi K và bà L đang đứng để ngăn không cho K chặn đầu xe lấy tiền của bà L. Thấy vậy, K dọa đánh ông D và bỏ chạy ra phía đầu ngõ, ông D đuổi theo được khoảng 15 m thì K dừng lại ở khu vực trước của nhà số D, lô H, tổ C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng. Khi ông D cách K khoảng 01 m thì K vung gậy gỗ lên vụt ông D 02 nhát theo hướng từ trên xuống dưới vào đầu phía bên trái và bàn tay trái. Đánh xong K cầm theo dao và gậy chạy về nhà trốn. Ông D đuổi theo đến cửa nhà K chờ một lúc không thấy K ra thì bỏ về và được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Đ. Cơ quan công an thu giữ của K: 01 gậy gỗ hình hộp chữ nhật màu nâu bên trên có gắn đinh nhô lên kích thước 1,2 x 0,02 x 0,03 m và 01 dao nhọn kích thước dài 18, bản rộng 02 cm có chuôi màu da cam. Thu giữ tại hiện trường 01 video camera an ninh ghi lại sự việc xảy ra.
Ngày 17/7/2023, ông Trịnh Văn D có đơn trình báo đơn Công an phường C, quận H, thành phố Hải Phòng. Ngày 06/8/2023, ông D có đơn yêu cầu khởi tố.
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 588/KL-KTHS ngày 22/8/2023 của Trung tâm Pháp y thành phố H kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Trịnh Đình D1 tại thời điểm giám định là 12%.
Cơ quan công an thu giữ 01 tập tin có phần mở rộng “MP4” tổng dung lượng 8,90MB được lưu giữ trong USB nhãn hiệu KINGSTOM 4GB đã qua sử dụng. Tại Kết luận giám định số 314/KL-KTHS ngày 23/8/2023 của Phòng K1 Công an T1 kết luận: 01 tập tin có phần mở rộng “MP4” tổng dung lượng 8,90MB được lưu giữ trong USB nhãn hiệu KINGSTOM 4GB đã qua sử dụng không có dấu hiệu bị cắt ghép chỉnh sửa.
Vật chứng của vụ án: 01 gậy gỗ hình hộp chữ nhật màu nâu bên trên có gắn đinh nhô lên kích thước 1,2 x 0,02 x 0,03 m và 01 dao nhọn kích thước dài 18, bản rộng 02 cm có chuôi màu da cam, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An quản lý.
Về trách nhiệm dân sự: Ông D1 không yêu cầu K bồi thường thiệt hại.
Tại Cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 30 tháng 8 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố Lê Việt K về tội Cướp tài sản quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự và tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Việt K khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.
Tại phiên tòa, bị hại ông Trịnh Văn D và bà Vũ Thị L trình bày: Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố Lê Việt K về tội Cướp tài sản và tội Cố ý gây thương tích là đúng người đúng tội. Tuy nhiên hoàn cảnh gia đình bị cáo đáng thương, bố mẹ ly hôn khi K còn nhỏ, bố nghiện rượu thường xuyên gây mất trật tự phố xóm, nên K thiếu sự dạy bảo chăm sóc yêu thương từ gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Việt K về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Lê Việt K từ 7 năm 6 tháng tù đến 8 năm tù về tội Cướp tài sản. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo K.
- - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Lê Việt K từ 2 năm 6 tháng tù đến 3 năm tù về tội Cố ý gây thương tích.
- - Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Lê Việt K phải chấp hành hình phạt chung của hai tội từ 10 năm tù đến 11 năm tù.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 gậy gỗ hình hộp chữ nhật màu nâu bên trên có gắn đinh nhô lên kích thước 1,2 x 0,02 x 0,03 m và 01 dao nhọn kích thước dài 18, bản rộng 02 cm có chuôi màu da cam.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:
- Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Việt K không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
- Tại phiên tòa, bị cáo Lê Việt K khai nhận phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được, Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 588/KL-KTHS ngày 22/8/2023 của Trung tâm Pháp y thành phố H, Kết luận giám định số 314/KL-KTHS ngày 23/8/2023 của Phòng K1 Công an T1 và các tài liệu điều tra khác được Cơ quan điều tra thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với sự thật khách quan, thể hiện:
[3] Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 16/7/2023, tại khu vực trước của nhà số F, lô D và nhà số D, lô H, tổ C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng, Lê Việt K đã dùng gậy gỗ kích thước 1,2 x 0,02 x 0,03 m có gắn đinh mục đích cướp 10.000 đồng của bà Vũ Thị L và dùng gậy gỗ kích thước 1,2 x 0,02 x 0,03 m có gắn đinh đánh vào đầu và tay ông Trịnh Văn D gây thương tích tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 12%.
- Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Việt K phạm tội Cướp tài sản quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự và phạm tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, chiếm đoạt tài sản xâm phạm quyền sở hữu tài sản và xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, nên cần áp dụng mức hình phạt khiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- [6] Bị cáo Lê Việt K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- [7] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Việt Khánh thành K khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
- [8] Bị cáo Lê Việt K không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- [9] Đối với 01 gậy gỗ hình hộp chữ nhật màu nâu bên trên có gắn đinh nhô lên kích thước 1,2 x 0,02 x 0,03 m và 01 dao nhọn kích thước dài 18, bản rộng 02 cm có chuôi màu da cam. Đây là các công cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí:
- [10] Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Lê Việt K 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Cướp tài sản.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Lê Việt K 03 (ba) năm tù về tội Cố ý gây thương tích.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội, buộc bị cáo Lê Việt K phải chấp hành hình phạt chung là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/5/2024.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 gậy gỗ hình hộp chữ nhật màu nâu bên trên có gắn đinh nhô lên kích thước 1,2 x 0,02 x 0,03 m và 01 dao nhọn kích thước dài 18, bản rộng 02 cm có chuôi màu da cam.
- (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 9 năm 2024 giữa Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An).
- - Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc:
- Bị cáo Lê Việt K phải nộp 200.000 ( hai trăm nghìn ) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo đối với bản án:
- Bị cáo Lê Việt K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Bị hại ông Trịnh Văn D và bà Vũ Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài |
6
7
Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (cướp tài sản và cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 122/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp tài sản và Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: K - Trộm cắp tài sản
