Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/HS-ST

Ngày 23-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • 1. Ông Trịnh Văn Lực;
    • 2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.
  • - Thư ký phiên toà: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bá Linh, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 110/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Thuận Thị Mỹ H, sinh năm 1996, tại tỉnh Ninh Thuận. Thường trú: Thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Chăm; giới tính: nữ; tôn giáo: Bà la môn; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thuận Ngọc N, sinh năm 1964 và bà Lượng Thị À, sinh năm 1972; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2024 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại:

  1. Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 2004. Thường trú: số G, đường P, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 2003. Thường trú: khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đoàn Ngọc M, sinh năm 1999. Thường trú: Tổ 2, ấp C, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Tạm trú: số A, đường L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
  2. Ông Đào Hữu D, sinh năm 1983. Thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định. Tạm trú: số H, đường K, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ

2

Chí Minh, vắng mặt.

  1. Bà Lượng Thị Á, sinh năm 1972. Thường trú: Thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Ninh Thuận, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 04/12/2023, bị cáo Thuận Thị Mỹ H thuê phòng trọ số 03, nhà trọ số D, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương và ở cùng với chị Nguyễn Thị Thu T, còn anh Nguyễn Thành L ở phòng trọ số 02 kế bên phòng của H.

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 30/12/2023, bị cáo Thuận Thị Mỹ H đang ở phòng trọ số 03, còn chị T đi chơi với bạn cùng lớp học tại Vũng Tàu, do thiếu tiền tiêu xài nên H đi lên gác lén lút lấy chiếc máy laptop hiệu HP Envy X360 của chị T, rồi mang đến tiệm cầm đồ tại địa chỉ H, đường K, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cầm cho anh Đào Hữu D với số tiền 4.000.000 đồng và đã tiêu xài hết số tiền này.

Đến khoảng 11 giờ 00 phút ngày 31/12/2023, bị cáo Thuận Thị Mỹ H sử dụng điện thoại Redmi 9A, màu xanh, sim số 0977.648.577 nhắn tin cho anh L nói dối với anh L là H mượn chiếc máy laptop của anh L để cho em gái của H làm bài tiểu luận. Anh L tin là thật nên cho H mượn chiếc máy laptop. Do lúc này anh L đi ra ngoài nên anh L kêu H đi qua phòng trọ số 02 của anh L để lấy máy laptop, vì anh L không có khóa cửa phòng. Sau đó, H đi qua phòng trọ số 02 của anh L lấy chiếc máy laptop hiệu Acer Aspire 3 A315, rồi H mang chiếc máy laptop đi đến tiệm cầm đồ M99 tại địa chỉ số A, đường L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cầm cho anh Đoàn Ngọc M được 2.000.000 đồng, số tiền trên H đã tiêu xài cá nhân hết.

Đến tối ngày 31/12/2023, chị T phát hiện chiếc máy laptop hiệu HP Envy X360 bị mất trộm nên gọi điện thoại cho H hỏi về chiếc máy laptop thì H nói dối với chị T là H đang giữ máy laptop hiệu HP Envy X360 của chị T và mang xuống nhà trọ của em gái ở Thành phố T, tỉnh Bình Dương và hứa sẽ mang về trả cho chị T. Đến ngày 01/01/2024, chị T và anh L không thấy H mang máy laptop về trả nên anh L nhắn tin cho H, thì H nói cho anh L biết là H đã mang máy laptop của chị T và anh L đi cầm lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó, anh L và chị T đến Công an phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương trình báo sự việc.

Đến ngày 02/01/2024, H đến Công an phường A đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Công an phường A lập biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luật định giá tài sản số 07/BBĐG-HĐĐGTS ngày 10/01/2024, của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D, tỉnh Bình Dương, kết luận: 01 máy laptop hiệu HP Envy X360, màu đen trị giá 14.500.000 đồng và 01 máy laptop hiệu Acer Aspire 3 A315, màu bạc trị giá

3

8.500.000 đồng.

  • - Về vật chứng thu giữ: 01 điện thoại Redmi 9A, màu xanh sim số 0977.648.577; 01 máy laptop hiệu HP Envy X360, màu đen và 01 máy laptop hiệu Acer Aspire 3 A315, màu bạc.
  • - Về xử lý vật chứng:
    • + Ngày 05/02/2024, ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu T 01 máy laptop hiệu HP Envy X360, màu đen.
    • + Ngày 23/02/2024, ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Nguyễn Thành L 01 máy laptop hiệu Acer Aspire 3 A315, màu bạc.
    • + Đối với 01 chiếc điện thoại Redmi 9A, màu xanh sim số 0977.648.577, bị cáo H dùng làm phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước và tịch thu tiêu hủy 01 sim số.

Đối với hành vi của anh Đoàn Ngọc M và anh Đào Hữu D nhận cầm cố tài sản do H mang đến cầm nhưng không biết tài sản đó là do H phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề nghị xử lý.

- Về trách nhiệm dân sự:

  • + Bị hại chị Nguyễn Thị Thu T và anh Nguyễn Thành L đã nhận lại chiếc laptop, có đơn xin giảm nhẹ án và không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đặt ra xem xét.
  • + Bà Lượng Thị Á là mẹ của bị cáo Thuận Thị Mỹ H đã bồi thường số tiền cho anh Đoàn Ngọc M 2.000.000 đồng và anh Đào Hữu D 4.000.000 đồng số tiền mà do H cầm cố tài sản, anh M và anh D không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 139/CT-VKS-DA ngày 26 tháng 3 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Thuận Thị Mỹ H về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 174; điểm b, i, h s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Thuận Thị Mỹ H: Từ 06 đến 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 08 đến 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Thuận Thị Mỹ H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 14 tháng đến 18 tháng tù.

Bị hại anh Nguyễn Thành L vắng mặt và có văn bản trình bày ý kiến: Về trách nhiệm dân sự: Anh L đã nhận lại 01 máy laptop hiệu Acer Aspire 3 A315, màu bạc và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự: Anh L đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bị hại chị Nguyễn Thị Thu T vắng mặt và có văn bản trình bày ý kiến: Về trách nhiệm dân sự: Chị T đã nhận lại 01 máy laptop hiệu HP Envy X360, màu

4

đen và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự: Chị T đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Thuận Thị Mỹ H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Thuận Thị Mỹ H đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

[2.1] Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 30/12/2023, bị cáo Thuận Thị Mỹ H đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc máy laptop hiệu HP Envy X360, màu đen đã qua sử dụng, trị giá 14.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thu T tại phòng số 03, nhà trọ số D, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Hành vi của bị cáo Thuận Thị Mỹ H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Ngày 31/12/2023, tại phòng số 02, nhà trọ số D, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, bị cáo Thuận Thị Mỹ H tiếp thực hiện hành vi gian dối để chiếm đoạt của anh Nguyễn Thành L 01 máy laptop hiệu Acer Aspire 3 A315, màu bạc đã qua sử dụng, trị giá 8.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo Thuận Thị Mỹ H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo Thuận Thị Mỹ H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại nơi xảy ra vụ án, gây tâm lý hoang mang cho người dân tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình thực hiện là vi

5

phạm pháp luật nhưng vì tham lam, tư lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bất chấp hậu quả xảy ra. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại và khắc phục toàn bộ hậu quả; sau khi thực hiện hành vi bị cáo đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là người dân tộc thiểu số. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại Redmi 9A, màu xanh do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử sẽ tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với sim số 0977.648.577 không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh và hình phạt là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Phạm tội chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” theo quy định tại điểm h, i khoản 1 của Bộ luật Hình sự là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Thuận Thị Mỹ H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

  1. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Thuận Thị Mỹ H 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 10 (mười) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Thuận Thị Mỹ H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai

6

tội là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/01/2024.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, màu xanh.
    • - Tịch thu tiêu hủy: sim số 0977.648.577.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/4/2024, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An)

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Thuận Thị Mỹ H phải nộp 200.000 đồng.

  1. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An;
  • - Công an thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An;
  • - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 122/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thuận Thị Mỹ H phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger