|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 122/2024/HS-PT Ngày: 21-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Duy Hoài |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Hữu Hồng |
| Ông Nguyễn Công Hoàn |
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 125/TLPT-HS ngày 12/7/2024 đối với bị cáo Lê Thị Thu H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 06/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị cáo kháng cáo: Lê Thị Thu H, sinh năm: 1997 tại Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT: SỐ A L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn E, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu T (đã chết) và bà Đặng Thị V; chồng: Trần Thanh V1, sinh năm 1998 và 03 người con lớn nhất sinh năm: 2014 và nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại Thôn E, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Trong vụ án này còn có các bị hại Nguyễn Thị T1, Trần Minh C không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 25/01/2024 Lê Thị Thu H đến nhà chị Nguyễn Thị T1 ở thôn G, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng để làm việc (H làm giúp việc cho nhà chị T1). Đến khoảng 09 giờ, chị T1 đi ra Bệnh viện I để chăm sóc bố chồng của chị T1 đang bị ốm, anh C (chồng chị T1) làm việc bên kho vật liệu, nên ở nhà chỉ có mình H và mẹ chồng của chị T1 (đã già yếu, nằm tại giường). H nảy sinh ý định lấy trộm tiền của chị T1. Do làm cho chị T1 đã lâu, quá trình dọn dẹp nhà cửa H biết được chị T1 thường cất tiền trong ngăn kéo của tủ quần áo để trong phòng ngủ, chìa khóa ngăn tủ chị T1 để ở giá để đồ (bằng nhựa) ở cạnh cửa ra vào phòng ngủ, cửa phòng ngủ không khóa nên H mang theo cây chổi quét nhà đi vào phòng ngủ của chị T1 để lấy trộm tiền, mục đích mang theo chổi là để khi có người phát hiện thì H giả vờ như đang quét nhà. Khi vào trong phòng ngủ, H lấy chìa khóa ngăn tủ quần áo để ở giá để đồ, rồi mở ngăn tủ quần áo chị T1 thường để tiền (ngăn tủ thứ nhất từ trên xuống bên tay phải) thì thấy trong ngăn tủ có 03 (ba) cọc tiền một cọc có các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) và 02 (hai) cọc toàn tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), H mơ đáy thun của cọc tiền có nhiều mệnh giá, rồi rút các tờ tiền mệnh giá tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) số lượng khoảng 3 đến 4 tờ; rút các tờ tiền mệnh giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) số lượng khoảng 10 đến 15 tờ; rút các tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) số lượng khoảng 3 đến 4 tờ, rồi buộc đáy thun cọc tiền lại như cũ và đóng khóa ngăn tủ quần áo, cất chìa khóa vào vị trí cũ. Số tiền lấy trộm được H đem cất trong giỏ quần áo của mẹ chồng chị T1 (do không đếm nên không biết số tiền đã lấy trộm được là bao nhiêu tiền) rồi quay lại làm việc bình thường.
Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H tiếp tục lợi dụng việc chị T1 đi đón con, anh C (chồng chị T1) chưa về, nhà không có ai nên H tiếp tục nảy sinh ý định lấy trộm tiền của chị T1. H vào phòng ngủ của chị T1, lấy chìa khóa để ở giá đựng đồ mở ngăn tủ quần áo (ngăn tủ thứ nhất từ trên xuống bên tay phải) để lấy trộm tiền, lần này H cũng mở đáy thun của cọc tiền nhiều mệnh giá, rồi rút các tờ tiền mệnh giá tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) số lượng khoảng 3 đến 4 tờ; rút các tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) số lượng khoảng 10 tờ; không rút các tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), rồi buộc đáy thun cọc tiền lại như cũ và đóng khóa tủ, cất chìa khóa vào vị trí cũ. Số tiền lấy được lần này, H cất trong túi quần của H, do không đếm nên không rõ số tiền lấy trộm được là bao nhiêu.
Khi chị T1 đi đón con về, H đến chỗ giỏ quần áo của mẹ chồng chị T1, lấy số tiền lúc sáng lấy trộm được cất vào túi quần, rồi ra xe đi về nhà trọ của H. Về đến nhà, H lấy số tiền đã lấy trộm được của chị T1 ra đếm thì được 8.100.000 đồng (tám triệu một trăm nghìn đồng) rồi cất giấu vào trong thùng giấy để quần áo.
Đến tối, chị T1 gọi cho H nói bị mất tiền, thì H không nhận đã lấy tiền của chị T1. Sáng ngày 26/01/2024 chị T1 đã trình báo công an làm việc.
Quá trình điều tra xác định: trước đó, H còn 03 (ba) lần lấy trộm tiền của chị T1 cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: vào ngày 07/01/2024 H thấy chị T1 để ví đựng tiền tại giá để đồ trong phòng ngủ của chị T1, lợi dụng lúc chị T1 đi qua nhà hàng xóm chơi, H đã mở ví lấy trộm số tiền là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng), gồm 05 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng);
Lần thứ hai: vào ngày 11/01/2024 H thấy chị T1 để ví đựng tiền tại giá để đồ trong phòng ngủ của chị T1, lợi dụng lúc chị T1 đi vệ sinh, H mở ví lấy trộm số tiền là 3.700.000 đồng (ba triệu bảy trăm nghìn đồng), gồm 07 tờ tiền có mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) và 02 tờ tiền mệnh giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng).
Lần thứ ba: khoảng 10 giờ ngày 24/01/2024 khi chị T1, anh C không có ở nhà. H biết chị T1 để chìa khóa ngăn tủ quần áo (có cất tiền) tại giá đựng đồ trong phòng ngủ của chị T1 nên đã lấy chìa khóa mở ngăn tủ quần áo, lấy trộm số tiền là 6.200.000 đồng (sáu triệu hai trăm nghìn đồng), gồm các tờ tiền có mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) H không nhớ rõ số lượng từng mệnh giá. Số tiền lấy được H mang về cất giấu tại nhà trọ của H.
Tổng số tiền H đã lấy trộm của chị T1 là 20.500.000 đồng (hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng), trong đó H đã tiêu sài 4.300.000 đồng (bốn triệu ba trăm nghìn đồng) số tiền còn lại 16.200.000 đồng (mười sáu triệu hai trăm nghìn đồng).
Cáo trạng số 35/CTr-VKSBL ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Lê Thị Thu H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST; ngày 06/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng đã xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị Thu H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 14/6/2024, bị cáo Lê Thị Thu H kháng cáo một phần bản án, xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với bản án sơ thẩm, không thắc mắc, khiếu nại bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xét xử, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ để Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, ngày 25/01/2024 bị cáo Lê Thị Thu H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của chị T1 và anh C số tiền 8.100.000 đồng. Ngoài ra, vào ngày 07/01/2024, bị cáo H còn có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của chị T1 và anh C số tiền 2.500.000 đồng. Ngày 11/01/2024, bị cáo H lén lút chiếm đoạt tài sản của chị T1 và anh C số tiền 3.700.000 đồng. Ngày 24/01/2024, bị cáo H lén lút chiếm đoạt tài sản của chị T1 và anh C số tiền 6.200.000 đồng.
Tổng số tiền bị cáo H đã lấy trộm của chị T1 và anh C là 20.500.000đ (hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng).
Cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện chứng cứ, đối chiếu lời khai của bị cáo, vật chứng thu giữ; đã tuyên bố bị cáo Lê Thị Thu H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Lê Thị Thu H: Đơn kháng cáo của bị cáo gửi trong hạn luật định và đúng quy định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác; bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo nhất thời phạm tội do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn và áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhưng Toà án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 15 (mười lăm) tháng tù là có phần nghiêm khắc. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thị Thu H kháng cáo và xuất trình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới là đang nuôi con nhỏ bị bệnh tật (bệnh tim) và có con dưới 36 tháng tuổi. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng là phù hợp.
[4] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Thị Thu H, sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Thu H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt thi hành án.
2. Căn cứ Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Lê Thị Thu H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Duy Hoài |
Bản án số 122/2024/HS-PT ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 122/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thu H "Trộm cắp tài sản"
