|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 122/2025/HS-ST
Ngày 16-4-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Lệ Chi;
- 2. Ông Phan Văn Cường.
- - Thư ký phiên toà: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Tố Mai, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 104/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Đậu Xuân B, sinh năm 1990, tại tỉnh Nghệ An. Thường trú: thôn I, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An. Nơi ở hiện nay: số E, đường số I, khu dân cư B, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đậu Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1965; vợ Bùi Thị H, sinh năm 1990; bị cáo có 02 người con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 05/11/2024 cho đến nay, có mặt.
- Bị hại:
- Trần Văn H1, sinh năm 1992 (chết ngày 06/9/2024).
Người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Văn H1: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1965. Thường trú: xóm T, xã Đ, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn C, sinh năm 2000. Thường trú: số B, đường L, khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền ngày 16/10/2024), có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1989 (chết ngày 06/9/2024).
Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn Đ: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1955. Thường trú: thôn T, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh T2, sinh năm 1985. Thường trú: số C, khối X, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An (Giấy ủy quyền ngày 04/10/2024), có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn dân sự: Công ty Cổ phần G. Địa chỉ: số A, đường C, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy T3, sinh năm 1958. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T4, sinh năm 1986. Địa chỉ: số I, đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy ủy quyền ngày 07/10/2024), có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Khánh T5, sinh năm 1987. Thường trú: số 47/11/16, đường B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đậu Xuân B có Giấy phép lái xe hạng FC số [...], do Sở Giao thông Vận tải Thành phố H cấp ngày 12/01/2022, có giá trị đến ngày 12/01/2027. B là lái xe của Công ty Cổ phần G do ông Nguyễn Duy T3 là người đại diện theo pháp luật. Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 06/9/2024, Đậu Xuân B điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51D - 372.12 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 51R - 196.27 đến hạ thùng Cointainer tại D, tại khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, B tiếp tục điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51D - 372.12 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 51R - 196.27 để đi chở hàng Depot Gfotun T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, B điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51D - 372.12 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 51R - 196.27 đi đến đường Đ đi về hướng cổng Khu công nghiệp S. Khi đến đoạn đường trước Ngân hàng V, thuộc khu công nghiệp S, thành phố D, tỉnh Bình Dương, B điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51D - 372.12 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 51R - 196.27 đi vào làn đường dành cho xe hai bánh bên lề phải theo chiều đi và dừng lại phía trước trụ ATM để vào rút tiền lấy hàng. Khi B vừa xuống xe để đi vào rút tiền thì anh Trần Văn H1 điều khiển xe mô tô biển số 59U1 - 173.52, phía sau chở anh Nguyễn Văn Đ lưu thông cùng chiều, trong làn đường xe hai bánh từ phía sau chạy đến và va chạm trực tiếp vào phần phía sau bên trái của sơ mi rơ moóc biển số 51R - 196.27, dẫn đến tai nạn giao thông. Hậu quả: anh Trần Văn H1 và anh Nguyễn Văn Đ chết tại hiện trường.
Theo Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 06/9/2024, tại đường Đ, Khu công nghiệp S, thành phố D, tỉnh Bình Dương, thể hiện:
- Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường Đ, mặt đường rải nhựa bằng phẳng có dải phân cách phân chia hai phần đường xe chạy riêng biệt. Tai nạn giao thông xảy ra ở phần đường bên phải đường Đ theo hướng đường ĐT 743B đi cầu vượt Sóng Thần, phần đường được phân chia ba làn đường xe chạy bằng vạch sơn trắng đứt khoảng, làn đường dành cho xe hai bánh rộng 3m80, làn đường dành cho xe ô tô ở giữa rộng 3m80 và làn đường dành cho xe ô tô sát dải phân cách rộng 4m20.
- Lấy trụ điện đôi số 41 bên lề phải làm điểm mốc và mép lề bên phải của đường Đ theo hướng đường ĐT 743B đi cầu vượt Sóng Thần đi làm mép chuẩn.
- Xe ô tô đầu kéo biển số 51D - 372.12, kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 51R- 196.27 (ký hiệu 1 trên sơ đồ hiện trường) sau tai nạn xe dừng ở làn đường dành cho xe hai bánh, có mở đèn chiếu sáng và đèn tín hiệu hai bên xe, đầu xe quay về hướng cầu vượt S. Trục bánh trước bên phải cách mép chuẩn là 0m40 và cách trụ ATM – V1 là 6m70, trục bánh giữa bên phải cách mép chuẩn là 0m50 và trục bánh sau bên phải cách mép chuẩn là 0m60.
- Xe mô tô biển số 59U1 - 173.52 (ký hiệu 2 trên sơ đồ hiện trường) sau tai nạn xe ngã nghiêng bên hông trái, nằm ở góc sau bên trái của sơ mi rơ moóc biển số 51R - 196.27, đầu xe quay về hướng cầu vượt S. Trục bánh trước cách mép chuẩn là 2m40 và cách trục bánh sau bên trái sơ mi rơ moóc biển số 51R - 196.27 là 0m90, trục bánh sau cách mép chuẩn là 3m10.
- Nạn nhân Trần Văn H1 chết tại hiện trường (ký hiệu 3 trên sơ đồ hiện trường) dài 1m65, nằm ngữa vắt ngang qua xe mô tô biển số 59U1 - 173.52, đầu nạn nhân hướng vào mép chuẩn và cách mép chuẩn là 2m70, cách trục bánh trước xe mô tô biển số 59U1 - 173.52 là 0m70, chân phải nạn nhân cách mép chuẩn là 3m40, chân trái nạn nhân cách mép chuẩn là 3m50. Vết máu nạn nhân Trần Văn H1 (ký hiệu 4 trên sơ đồ hiện trường) KT 3m00 x 1m50, tâm vết máu cách mép chuẩn là 2m50 và cách đầu nạn nhân là 0m30.
- Nạn nhân Nguyễn Văn Đ chết tại hiện trường (ký hiệu 5 trên sơ đồ hiện trường) dài 1m60, nằm ngữa phía sau xe mô tô, đầu nạn nhân quay xéo ra dải phân cách và cách mép chuẩn là 4m60, cách trục bánh sau xe mô tô biển số 59U1 173.52 là 1m10, chân phải nạn nhân cách mép chuẩn là 3m50, chân trái nạn nhân cách mép chuẩn là 3m30. Vết máu nạn nhân Nguyễn Văn Đ (ký hiệu 6 trên sơ đồ hiện trường) KT 1m00 x 0m60, tâm vết máu cách mép chuẩn là 4m30 và cách đầu nạn nhân là 0m80.
- Trục bánh sau bên phải của sơ mi rơ moóc biển số 51R - 196.27 cách điểm mốc là trụ điện số 47 là 12m00.
Tại Kết luận giám định số 4470/KL-KTHS (CH) ngày 04/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận về dấu vết va chạm trên các phương tiện, cụ thể:
- Dấu vết va chạm giữa xe mô tô hai bánh biển số 59U1 - 173.52 và xe ô tô đầu kéo biển số 51D - 372.12 kéo sơ mi rơ moóc biển số 51R - 196.27: các dấu vết trượt xước sơn màu đen, màu bạc và bám dính chất màu vàng ở ốp đèn chiếu sáng, mặt nạ, bám dính chất rỉ sét ở ốp nhựa đầu xe, hằn kim loại mặt trước hai phuộc trước, trượt xước mặt lăn bánh xe trước xe mô tô có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước sơn màu vàng, bám dính chất màu đen, màu bạc ở mặt sau thanh cản và cong biến dạng đầu trái thanh cản, cụm đèn tín hiệu bên trái đuôi sơ mi rơ moóc, các dấu vết này có chiều từ sau về trước.
- Dấu vết va chạm giữa xe mô tô hai bánh biển số 59U1 - 173.52 và xe ô tô đầu kéo biển số 51D - 372.12 kéo sơ mi rơ moóc biển số 51R - 196.27 được hình thành do va chạm giữa phần đầu xe mô tô với mặt sau đuôi sơ mi rơ moóc theo hướng hai xe cùng chiều, tạo ra dấu vết trên hai xe.
- Dấu vết va chạm trên mặt đường giữa xe mô tô hai bánh biển số 59U1 173.52 và xe ô tô đầu kéo biển số 51D - 372.12 kéo sơ mi rơ moóc biển số 51R - 196.27 nằm tại vị trí đuôi sơ mi rơ moóc bên trái ở hiện trường, như trên sơ đồ hiện trường”.
Tại Kết luận giám định số 4798/KL-KTHS (SCKT) ngày 16/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:
“Tại thời điểm giám định xe ô tô đầu kéo mang biển kiểm soát 51D - 372.12 kéo theo sơ mi rơ moóc mang biển kiểm soát 51R - 196.27, xác định:
- - Hệ thống lái: có các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật.
- - Hệ thống phanh: Có các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật.
- - Hệ thống đèn chiếu sáng, đèn tín hiệu: Có các cụm chi tiết đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí, không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật.
Tại Kết luận giám định tử thi số 4272/KLGĐTT-KTHS ngày 10/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Văn Đ, cụ thể:
- Các kết quả chính:
- + Nhiều vết sây sát da, bầm tụ máu bên ngoài.
- + Vỡ phức tạp xương sàn sọ, hố sọ sau.
- + Xuất huyết dưới nhện hai bán cầu đại não vùng chẩm và tiểu não hai bên, thân não, cầu não.
- + Dập rách thân não, cầu não.
- + Dập não, vùng chấm hai bên.
- + Tụ máu quanh thân não, cầu não và tiểu não hai bên.
- Nguyên nhân chết của Nguyễn Văn Đ: Chấn thương sọ não.
Tại Kết luận giám định tử thi số 4273/KLGĐTT-KTHS ngày 10/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Trần Văn H1, cụ thể:
- Các kết quả chính:
- + Biến dạng vùng đầu, mặt, nhiều vết sây sát da, bầm tụ máu bên ngoài.
- + Gãy xương hàm dưới.
- + Vỡ xương sọ vùng chẩm, thái dương hai bên.
- + Xuất huyết não, tụ máu dưới màng cứng hai bán cầu đại não, tiển não.
- + Dập rải rác hai phổi.
- Nguyên nhân chết của Trần Văn H1: đa chấn thương.
Tại Kết luận giám định số 4362/KL-KTHS (HPL) ngày 04/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:
- - Khoảng 10 (mười) ml máu Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1989, đựng trong ống nhựa được niêm phong gửi đến giám định: có thành phần Ethanol (cồn). Nồng độ 216,89 mg/100ml.
- - Khoảng 10 (mười) ml máu Trần Văn H1, sinh năm 1992, đựng trong ống nhựa được niêm phong gửi đến giám định: có thành phần Ethanol (C). Nồng độ 183,36 mg/100ml.
Kết quả xét nghiệm thành phần các chất ma túy và nồng độ cồn trong máu của Đậu Xuân B vào ngày 06/9/2024 là (-) âm tính.
Quá trình điều tra xác định nạn nhân Trần Văn H1 điều khiển xe mô tô biển số 59U1 - 173.52 lưu thông trên đường mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50mg/100ml máu (183,36 mg/100ml), không có giấy phép lái xe theo quy định, đã vi phạm khoản 8, khoản 9 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2018, năm 2019). Tuy nhiên, đây không phải là nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông. Đồng thời, Trần Văn H1 đã chết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không xử lý đối với H1.
Về xử lý vật chứng thu giữ:
Đối với 01 xe ô tô đầu kéo biển số 51D - 372.12 kéo sơ mi rơ moóc biển số 51R - 196.27 do Công ty Cổ phần G đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ra Quyết định trả lại cho Công ty Cổ phần G.
Đối với 01 xe mô tô biển số 59U1 - 173.52 do bị hại Trần Văn H1 điều khiển chở nạn nhân Nguyễn Văn Đ, quá trình điều tra xác định xe do anh Nguyễn Khánh T5 đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Anh T5 khai nhận xe mô tô biển số 59U1 - 173.52 bị mất trộm vào năm 2018 tại Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiến hành các thủ tục chuyển xe mô tô biển số 59U1 - 173.52 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo quy định pháp luật.
Tại Cáo trạng số 130/CT-VKS-DA ngày 18 tháng 3 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đậu Xuân B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đậu Xuân B mức hình phạt từ 04 năm đến 05 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: đã được giải quyết xong nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Đậu Xuân B 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng FC.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Văn H1 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và trình bày ý kiến: Vào ngày 06/9/2024, anh trai là Trần Văn H1, sinh năm 1992 xảy ra tai nạn giao thông tại đường Đ thuộc khu công nghiệp S, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Hậu quả làm anh H1 tử vong tại chỗ. Sau khi tai nạn giao thông xảy ra, gia đình anh H1 đã nhận được sự quan tâm và hỗ trợ của bị cáo Đậu Xuân B (người điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51R-19627) và Công ty Cổ phần G (đại diện chủ xe ô tô đầu kéo biển số 51R-19627). Qua đó phía bị cáo và Công ty cùng với gia đình anh H1 đã thỏa thuận khắc phục và giải quyết xong hậu quả, với nội dung: bị cáo B và Công ty đã hỗ trợ chi phí thiệt hại cho gia đình bị hại với số tiền là 70.000.000 đồng. Xét thấy, vụ việc tai nạn giao thông là sự việc vô ý, nằm ngoài ý muốn của mỗi bên và giữa gia đình anh H1 với các bên đã thỏa thuận giải quyết xong về mặt dân sự, không yêu cầu gì thêm. Do đó, gia đình bị hại đề nghị các cơ quan tiền hành tố tụng của thành phố D, tỉnh Bình Dương bãi nại, xin giảm nhẹ mọi hình thức xử lý đối với bị cáo Đậu Xuân B (người điều khiển xe đầu kéo biển số 51R – 19627) trong vụ việc tai nạn giao thông nêu trên.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn Đ có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và trình bày ý kiến: Vào ngày 06/9/2024, em trai là Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985, xảy ra tai nan giao thông tại đường Đ thuộc Khu công nghiệp S, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Hậu quả làm anh Nguyễn Văn Đ tử vong tại chỗ. Sau khi tai nạn giao thông xảy ra, gia đình anh Đ đã nhận được sự quan tâm và hỗ trợ của bị cáo Đậu Xuân B (người điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51R-19627) và Công ty Cổ phần G (đại diện chủ xe ô tô đầu kéo biển số 51R-19627). Qua đó, bị cáo B và Công ty cùng với gia đình anh Đ đã thỏa thuận khắc phục và giải quyết xong hậu quả, với nội dung: Bị cáo B và Công ty đã hỗ trợ chi phí thiệt hại cho gia đình anh Đ với số tiền là 70.000.000 đồng. Xét thấy, vụ việc tai nạn giao thông là sự việc vô ý, nằm ngoài ý muốn của mỗi bên và giữa gia đình anh Đ với các bên đã tự thỏa thuận giải quyết xong về mặt dân sự, không yêu cầu gì thêm. Do đó, gia đình bị hại đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng của thành phố D, tỉnh Bình Dương bãi nại xin giảm nhẹ mọi hình thức xử lý đối với bị cáo Đậu Xuân B (người điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51R-19627) trong vụ án tai nạn giao thông nói trên.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn dân sự Công ty Cổ phần G là ông Nguyễn Minh T4 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và trình bày ý kiến: sau khi tai nạn xảy ra phía Công ty và tài xế đã thăm hỏi chia buồn, khắc phục hậu quả cho gia đình các bị hại 140.000.000 đồng, trong đó Công ty bồi thường 70.000.000 đồng. Đối với số tiền 70.000.000 đồng, Công ty Cổ phần G không yêu cầu bị cáo B phải trả lại.
Bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng, bị cáo Đậu Xuân B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo làm việc lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Đậu Xuân B đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Đậu Xuân B có Giấy phép lái xe hạng FC số [...], do Sở Giao thông Vận tải Thành phố H cấp ngày 12/01/2022, có giá trị đến ngày 12/01/2027. Khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 06/9/2024, tại đường Đ (đoạn đường trước Ngân hàng V) hướng đi về cổng Khu công nghiệp S thuộc Khu công nghiệp S, thành phố D, tỉnh Bình Dương, bị cáo Đậu Xuân B đã có hành vi dừng xe ô tô đầu kéo biển số 51D - 372.12 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 51R - 196.27 đã để bánh sau bên phải sơ mi rơ moóc cách mép lề đường bên phải theo chiều đi quá 25cm (bị cáo đã đậu xe cách lề đường 60cm) dẫn đến vụ tai nạn giao thông làm bị hại Trần Văn H1 và Nguyễn Văn Đ tử vong tại hiện trường. Hành vi của bị cáo Đậu Xuân B đã vi phạm khoản 1 Điều 19 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2018, năm 2019) và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung “Làm chết 02 người” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc dừng xe không đúng quy định sẽ gây cản trở, nguy hiểm đến việc tham gia giao thông của các phương tiện khác là vi phạm Luật Giao thông đường bộ, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sự hoạt động bình thường của các phương tiện tham gia giao thông và có thể xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác. Hành vi của bị cáo đã gây tai nạn làm bị hại chết, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong trường hợp này, bị cáo điều khiển phương tiện giao thông gây tai nạn trong tình huống phương tiện giao thông đang ở trong trạng thái dừng tại chỗ và bị hại Trần Văn H1 điều khiển xe mô tô chạy phía sau va chạm vào mới xảy ra tai nạn. Hành vi của bị hại Trần Văn H1 điều khiển xe mô tô cùng chiều phía sau xe của bị cáo trong tình trạng đã có sử dụng rượu bia mà nồng độ cồn trong máu vượt quá mức quy định (216,89 mg/100ml), thiếu quan sát, không có giấy phép lái xe, vi phạm khoản 8, khoản 9 Điều 8 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2018, năm 2019) dẫn đến va chạm với xe ô tô của bị cáo, hậu quả gây ra cái chết cho chính Trần Văn H1 và người ngồi phía sau Nguyễn Văn Đ. Hành vi của Trần Văn H1 đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, do Trần Văn H1 đã chết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đặt ra xem xét trách nhiệm hình sự đối với Trần Văn H1 trong vụ án này. Xét, về lỗi trong trường hợp này thì bị hại Trần Văn H1 cũng có phần lớn lỗi gây ra tai nạn. Như vậy, đối với hậu quả gây ra cái chết cho 02 người cần xem xét trách nhiệm của bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi do bị cáo gây ra để xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị hại cũng có lỗi, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân tốt, là lao động chính trong gia đình có 02 con còn nhỏ, bản thân chưa có tiền án, tiền sự.
[7] Về hình phạt: Xét thấy, bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bị hại cũng có một phần lỗi, hiện nay bị cáo phải làm việc để chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con còn nhỏ (sinh năm 2014 và 2016) và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, kể từ khi được áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương. Vì vậy, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/VBHN-TATC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, việc cho bị cáo hưởng án treo cũng không làm ảnh hưởng tới công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương, thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật Nhà nước.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra vụ án, Công ty Cổ phần G và bị cáo Đậu Xuân B đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình các bị hại 140.000.000 đồng, trong đó Công ty G bồi thường 70.000.000 đồng và bị cáo Đậu Xuân B bồi thường 70.000.000 đồng, gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[9] Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Đậu Xuân B 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng FC, số G, mang tên Đậu Xuân B.
[10] Đối với 01 xe mô tô biển số 59U1 - 173.52 do bị hại Trần Văn H1 điều khiển chở nạn nhân Nguyễn Văn Đ, quá trình điều tra xác định xe do anh Nguyễn Khánh T5 đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Anh T5 khai nhận xe mô tô biển số 59U1 - 173.52 bị mất trộm vào năm 2018 tại Phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D chuyển giao xe mô tô nêu trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý sau là đúng quy định nên được chấp nhận.
[11] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về hình phạt là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn mức đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
[12] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Nghị quyết số 02/VBHN-TATC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Tuyên bố bị cáo Đậu Xuân B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt:
- - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đậu Xuân B 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (ngày 16/4/2025).
Giao bị cáo Đậu Xuân B về Ủy ban nhân dân phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương trực tiếp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Đậu Xuân B thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 67/2025/HSST-LCĐKNCT ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Đậu Xuân B.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Trả lại cho bị cáo Đậu Xuân B 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng FC, số [...], mang tên Đậu Xuân B, sinh ngày 07/4/1990, địa chỉ: xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An do Sở Giao thông Vận tải Thành phố H cấp ngày 12/01/2022, có giá trị đến ngày 12/01/2027.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/3/2025, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An)
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Đậu Xuân B phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tuyên |
Bản án số 122/2025/HS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 122/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đậu Xuân Bách phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
