Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19-3-2025

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng và bà Nguyễn Thị Bích Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bích Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 42/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025, giữa:

  1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1996.
  2. Địa chỉ: Cụm A thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.

  3. Bị đơn: Anh Triệu Văn P, sinh ngày 08/9/1995.
  4. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Cụm A thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày:

Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Triệu Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Đ tại Nhật Bản vào ngày 06/12/2021. Sau khi kết hôn, anh chị tiếp tục chung sống tại Nhật Bản, cuộc sống hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm khiến anh chị thường xuyên xảy ra tranh cãi. Đến năm 2024, chị về nước để thuận tiện cho việc sinh con, do cuộc sống vợ chồng đã có những mâu thuẫn từ trước, nay mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm liên lạc nên tình cảm ngày càng lạnh nhạt, xa cách. Gia đình hai bên đã hòa giải và khuyên nhủ nhưng không thành. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh P.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Triệu Phương A, sinh ngày 16/9/2024. Do hiện nay anh P đang lao động tại nước ngoài, con chung còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ nên khi ly hôn chị đề nghị được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại lời khai của ông Triệu Văn T (bố đẻ của anh Triệu Văn P) thể hiện: Anh P hiện đang sinh sống tại Nhật Bản, địa chỉ cụ thể thì ông không biết, nhưng anh P thường xuyên liên lạc qua điện thoại với gia đình. Ông đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh P biết. Anh P và chị H là người cùng thôn, thông qua người giới thiệu anh chị quen biết, quyết định tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị bất đồng quan điểm nên xảy ra mâu thuẫn. Thời gian sau này anh P đi nước ngoài, vợ chồng mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm, liên lạc với nhau. Nay chị H có đơn xin ly hôn là quyền quyết định của anh chị, ông đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết. Sau khi nhận các văn bản tố tụng, ông đã thông báo cho anh P biết. Anh P không gửi văn bản thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án nhưng có trao đổi với ông qua điện thoại và xác định vợ chồng có mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị H làm đơn thì anh cũng đồng ý. Về con chung: Anh P nhất trí việc tiếp tục giao con chung cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Vũ Thị H vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày. Anh Triệu Văn P vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) và các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), bị đơn giấu địa chỉ.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Triệu Văn P; về con chung: Giao con chung là Triệu Phương A, sinh ngày 16/9/2024 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con. Chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1] Anh Triệu Văn P hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản, có nơi cư trú trước khi xuất cảnh cụm 1, thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh P tại Nhật Bản. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị H và gia đình anh P cung cấp địa chỉ, nhưng chị H và gia đình anh P không cung cấp được. Ông Triệu Văn T (là bố đẻ của anh P) xác định anh P vẫn liên lạc với gia đình, ông đã thông báo về việc chị H có đơn xin ly hôn, anh P không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.

[1.3] Tại phiên tòa, nguyên đơn chị H vắng mặt, có quan điểm xin vắng mặt; bị đơn anh P đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình và niêm yết các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Triệu Văn P kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Đ tại Nhật Bản, ngày 06/12/2021 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thời gian sau này anh chị mỗi người ở một nơi nên tình cảm vợ chồng lạnh nhạt và không còn quan tâm đến nhau. Anh Triệu Văn P không thể hiện quan điểm bằng văn bản nhưng thông qua việc liên lạc với gia đình, anh P xác định vợ chồng đã có những mâu thuẫn nên đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của chị H. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Vũ Thị H và anh Triệu Văn P đã trầm trọng, vợ chồng không ai quan tâm tới ai, mục đích hôn nhân không đạt được và được chứng minh thông qua lời khai của đại diện gia đình và của các đương sự. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Vũ Thị H ly hôn anh Triệu Văn P là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị Vũ Thị H và anh Triệu Văn P có một con chung là Triệu Phương A, sinh ngày 16/9/2024. Xét về thực tế, con chung còn nhỏ cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp từ người mẹ. Chị H và anh P đều có quan điểm giao cho chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Bản thân chị H hiện đang ở Việt Nam, có sức khỏe và đủ điều kiện để nuôi con tốt. Do đó, để đảm bảo sự ổn định và sự phát triển về mọi mặt của con chung, HĐXX chấp nhận giao cho chị Vũ Thị H nuôi dưỡng con chung Triệu Phương A, sinh ngày 16/9/2024 và chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự và các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Nếu anh P có căn cứ cho rằng chị H không đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì có quyền làm đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh P không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết phân chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật (nếu có).

[3] Về án phí: Nguyên đơn chị Vũ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về hôn nhân gia đình), theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị H ly hôn anh Triệu Văn P.
  2. Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Triệu Phương A, sinh ngày 16/9/2024 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
  3. Không ai được cản trở anh Triệu Văn P thực hiện quyền, nghĩa vụ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  4. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (Hôn nhân và gia đình). Đối trừ số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005505 ngày 21/01/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
  5. Về quyền kháng cáo: Anh Triệu Văn P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Chị Vũ Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản (để ghi sổ hộ tịch);
  • - Lưu HS, VP, Tòa GĐ&NCTN, Tòa HC

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thanh Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 122/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Vũ Thị H xin ly hôn anh Triệu Văn P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger