|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA ————— Bản án số: 122/2025/HSST Ngày: 12/03/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA- TỈNH THANH HÓA
—————
- Thành phần những người tiến hành tố tụng gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Hồng Vân
- 2. Bà Nguyễn Thị Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 306/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 323/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 08 năm 2024; quyết định hoãn phiên toà số: 37/2025/HSST-QĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Mạnh H
- sinh năm 1985 tại Quảng Trị; Nơi cư trú: thôn M, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: không; văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: [...]; Con ông: Nguyễn Viết H1 và bà Phạm Thị T1; vợ: Ngô Thị Minh H2 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2017; tiền sự: không; tiền án: ngày 02/4/2013, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 4 năm 9 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” (chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự); nhân thân: ngày 11/3/2024, Toà án nhân dân huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh xử 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, ngày 26/12/2024 bị TAND huyện Hoa Lư (nay là TAND thành phố Hoa Lư) tỉnh Ninh Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Tham ô tài sản”; hiện đang chấp hành án tại trại giam S, Cục C, Bộ C1 có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
- - Công ty TNHH D1 P
- Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hồng Đ – Giám đốc Công ty.
- Đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Thùy L – Nhân viên hành chính.
- Địa chỉ: Số A T, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
(theo văn bản uỷ quyền ngày 26/10/2022)
- - Anh Nguyễn Kim Đ1, sinh năm 1992(vắng).
- Địa chỉ: Xóm B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
- - Chị Nguyễn Thị Thùy L – Sinh năm 1995(vắng).
- Địa chỉ: Số A T, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Lê Thị T2, sinh năm 1979(vắng).
- Địa chỉ: số nhà A H, phường Đ, TP T, tỉnh Thanh Hóa.
- - Anh Nguyễn Hữu Đ2 – Sinh năm 2003(có mặt).
- Địa chỉ: Thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
- - Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 2003(có mặt).
- Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- - Anh Hà Ngọc V, sinh năm 1995(vắng).
- Địa chỉ: thôn E, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
Người làm chứng:
- - Anh Trương Tiến A, sinh năm 1996(vắng).
- Địa chỉ: SN G ngõ C, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Trương Thị H3, sinh năm 1993(vắng).
- Địa chỉ: Phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- - Chị Hà Thị Y, sinh năm 1993(vắng).
- Địa chỉ: Thôn B T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- - Anh Lê Văn T3, sinh năm 2003(vắng).
- Địa chỉ: Phố G, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2020 đến tháng 9 năm 2022, Nguyễn Mạnh H đã thực hiện các hành vi phạm tội Tham ô tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, trên địa bàn thành phố T. Cụ thể như sau:
1. Về hành vi tham ô tài sản:
Tháng 8 năm 2022, Nguyễn Mạnh H đến thành phố T để xin việc làm. Ngày 25/8/2022, H xin được vào làm việc tại Công ty TNHH D1 P với vị trí là Giám đốc điều hành đơn vị Tổ hợp Nhà hàng -, có thư mời làm việc, hợp đồng lao động cụ thể, thỏa thuận thời gian thử việc là 02 tháng. Đồng thời với vị trí việc làm này Công ty A1 đã giao cho H 01 laptop nhãn hiệu Dell Vostro V3400, quản lý sử dụng. Ngày 16/9/2022, khi mới đi làm được 20 ngày, Nguyễn Mạnh H về quê thăm bố bị ốm, khi đi H cầm theo 01 (một) máy tính Laptop nhãn hiệu Dell Vostro 3400 màu đen, Công ty đã bàn giao cho H; 01 (một) máy tính Laptop nhãn hiệu Dell, để ở phòng làm việc chung của Công ty; 01 (một) bộ đàm Hypersia, màu đen và tai nghe bluetooth đã qua sử dụng, tất cả tài sản này H đều có trách nhiệm quản lý. Sau đó, H bỏ việc, bỏ đi nơi khác và đem 02 laptop trên bán cho một người không quen biết qua mạng xã hội, lấy số tiền là 8.000.000 đồng, chi tiêu cá nhân hết. Đối với 01 (một) bộ đàm Hypersia, màu đen và tai nghe bluetooth, H không nhớ đã để ở đâu.
* Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 17/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản, Ủy ban nhân dân thành phố T, kết luận:
- 01 (một) máy tính Laptop nhãn hiệu Dell màu đen, mua năm 2018, đã qua sử dụng (máy tính của công ty A1 do H quản lý) có giá trị là 3.000.000đ (ba triệu đồng);
- 01 (một) máy tính Lattop nhãn hiệu Dell Vostro 3400 màu đen, mua tháng 9 năm 2022, đã qua sử dụng (máy tính công ty D1 P bàn giao cho H) có giá trị là 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng);
* Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 17/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản, Ủy ban nhân dân thành phố T, kết luận:
- 01 (một) bộ đàm Hypersia, màu đen đã qua sử dụng có giá trị là 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng);
- 01 (một) tai nghe Bluetooth đã qua sử dụng có giá trị là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản Nguyễn Mạnh H chiếm đoạt của Công ty D1 là 17.600.000 đồng.
2. Về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:
Vụ thứ nhất:
Đầu tháng 10/2020, Nguyễn Mạnh H ra Thanh Hóa để tìm việc làm, quá trình tìm nhà trọ H có làm quen và gặp anh Nguyễn Kim Đ1, sinh năm 1992, trú tại xóm B, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An để trao đổi về việc ở trọ chung phòng.
Ngày 14/10/2020, anh Nguyễn Kim Đ1 bị gãy tay phải đi điều trị tại Bệnh viện V1, Hà Nội, H có đi cùng ra Bệnh viện để hỗ trợ chăm sóc anh Đ1. Sáng ngày 15/10/2020, do đang nằm viện nên anh Đ1 có nhờ H về lấy và giữ hộ anh Đ1 01 máy tính xách tay và 01 xe máy biển kiểm soát 37B1-245.03, đang gửi người quen ở Thanh Hóa, chờ anh Đ1 ra viện sẽ nhận lại. H đồng ý và bắt xe về Thanh Hóa. Khi về đến thành phố T, H gọi điện cho chị Trương Thị H3 (bạn anh Đ1), hẹn gặp ở phường Đ, thành phố T để nhận máy tính xách tay của anh Đ1. Sau khi lấy được máy tính xách tay, chị H3 dẫn H đến một nhà khác cũng ở phường Đ, TP T nơi anh Đ1 gửi xe máy, để lấy chiếc xe máy nhãn hiệu Sirius, biển kiểm soát 37B1-254.03 của anh Đ1. Khi nhận được xe máy và máy tính xách tay của anh Đ1 thì H mang ra một nhà nghỉ trên địa bàn thành phố T (không nhớ tên, địa chỉ của nhà nghỉ) thuê trọ nghỉ qua đêm.
Sáng ngày 16/10/2020, H quay ra Bệnh viện V1 gặp anh Đ1 và nói với anh Đ1 đã nhận được xe máy và máy tính xách tay hiện H đang quản lý gửi tại nhà nghỉ ở thành phố T. Sau đó, anh Đ1 tiếp tục đưa cho H 01 ví da bên trong có giấy tờ cá nhân của anh Đ1 cùng 01 thẻ ngân hàng V2 mang tên anh Đ1 và đọc mật khẩu cho H, nhờ H ra cây ATM rút 15 triệu đồng để đóng tiền viện phí. H đồng ý, cầm ví đi ra cây ATM rút 15.000.000 đồng nhưng không đưa lại tiền cho anh Đ1. Sáng ngày 17/10/2020, anh Đ1 hỏi H đã rút tiền chưa đưa cho Đ1 để đóng tiền viện phí, H nói lại là đã rút tiền nhưng H đã sử dụng số tiền đó vào việc cá nhân rồi, hẹn đến chiều sẽ chuyển trả lại cho anh Đ1. Chiều cùng ngày, H lấy lý do bố ở quê đang bị ốm phải về gấp, nên trả lại ví, giấy tờ cá nhân cho anh Đ1 và hẹn hai hôm sẽ quay ra viện trả tiền anh Đ1.
Sau đó, Nguyễn Mạnh H bắt xe về Thanh Hóa đến nhà nghỉ ở thành phố T (thuê trước đó) lấy chiếc máy tính xách tay và xe mô tô của anh Đ1. Tối ngày 17/10/2020, H mang chiếc xe máy nhãn hiệu Sirius, biển kiểm soát 37B1-254.03 của anh Đ1 ra quán bánh mỳ Lợi Trâm ở phường N, thành phố T gửi rồi nhắn tin cho anh Trương Tiến A (là bạn của Đ1) nói anh Tiến A ra quán bánh mỳ nhận lại xe máy cho anh Đ1.
Sau khi mang xe máy gửi trả lại cho anh Đ1, H giữ máy tính xách tay và số tiền 15.000.000 đồng của anh Đ1, do không có tiền tiêu xài nên H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tài sản trên. H đã tắt điện thoại, chặn mọi liên lạc với anh Đ1, chiếm đoạt số tiền 15 triệu đồng cùng 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL của anh Đ1, bỏ đi nơi khác và bán chiếc máy tính trên cho một người không quen biết qua mạng xã hội lấy số tiền 3.200.000 đồng, toàn bộ số tiền chiếm đoạt được của anh Đ1, H đã sử dụng hết vào mục đích chi tiêu cá nhân.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 294/KL-HĐĐGTS ngày 03/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản, Ủy ban nhân dân thành phố T, kết luận:
- 01 máy tính nhãn hiệu DELL tại thời điểm chiếm đoạt có giá là 16.692.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản H chiếm đoạt của anh Nguyễn Kim Đ1 là 31.692.000 đồng.
Vụ thứ hai:
Trong thời gian làm việc tại Công ty A1 với chức vụ Giám đốc điều hành Tổ hợp Nhà hàng - Khách sạn Anh P 1, tuy H không được giao nhiệm vụ thu chi, quản lý tiền doanh thu bán hàng hàng ngày của công ty, nhưng do tin tưởng H nên nhân viên trong Công ty đã đưa tiền bán hàng hàng ngày cho H, để H nộp lại cho kế toán Công ty. Cụ thể:
- Ngày 10/9/2022, chị Lê Thị T2, sinh năm 1979, trú tại số nhà A H, phường Đ, TP T đưa cho H số tiền 1.229.000 đồng;
- Ngày 11/9/2022, chị Lê Thị T2 đưa cho H số tiền 5.000.000 đồng; anh Nguyễn Hữu Đ2, sinh năm 2003, trú tại thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa đưa cho H số tiền 14.454.000 đồng;
- Ngày 12/9/2022, anh Nguyễn Hữu Đ2 tiếp tục đưa cho H số tiền 5.400.000 đồng;
- Ngày 15/9/2022, anh Nguyễn Văn D, sinh năm 2003, trú tại thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa đưa cho H số tiền 24.000.000 đồng;
- Ngày 16/9/2022, anh Hà Ngọc V, sinh năm 1995, trú tại thôn E, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa chuyển cho H số tiền 11.500.000 đồng.
Tổng số tiền chị T2, anh D, Đ2, V đưa cho H, để H nộp lại cho kế toán công ty là 61.583.000đ (sáu mươi mốt triệu năm trăm tám ba ngàn đồng). Tuy nhiên, sau khi nhận tiền từ nhân viên công ty, H không nộp lại ngay mà chi tiêu vào việc cá nhân, khi được kế toán công ty hỏi thì H khất lần, không chuyển trả.
Cũng trong quá trình làm việc tại công ty, do quen biết với các nhân viên trong công ty nên chiều ngày 16/09/2022, H đã mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exerter biển kiểm soát 36B4-082.38, cùng giấy tờ xe của anh Nguyễn Hữu Đ2, sinh năm 2003; trú tại thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (là nhân viên của công ty) để đi về quê thăm gia đình. Đồng thời Nguyễn Mạnh H gọi điện cho chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1995, trú tại số nhà A T, phường P, TP T, tỉnh Thanh Hóa (là nhân viên của công ty) hỏi mượn chiếc máy tính laptop nhãn hiệu Dell Inspire 15-3000 màu đen (máy do công ty D1 P cấp cho chị L quản lý, sử dụng) rồi cầm đem về quê.
Sau khi về quê biết bố bị ốm nặng, do không có tiền để chi tiêu H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt toàn số tài sản trên, H đã cắt liên lạc, bỏ việc và bỏ đi khỏi địa phương. Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exerter biển kiểm soát 36B4-082.38, mượn của anh Nguyễn Hữu Đ2, Nguyễn Mạnh H mang đến một cửa hàng cầm đồ trên địa bàn TP T (không nhớ cửa hàng nào) cầm cố được số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng); 01 laptop nhãn hiệu Dell Inspire 15-3000 màu đen mượn của chị L, H bán cho một người không quen biết qua mạng xã hội tại thành phố Hà Nội lấy số tiền 2.600.000đ (hai triệu sáu trăm ngàn đồng). Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được H đã chi tiêu cá nhân hết.
* Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐGTS ngày 17/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản, Ủy ban nhân dân thành phố T, kết luận:
- 01 (một) máy tính laptop nhãn hiệu Dell Inspire 15-3000, mua năm 2019, đã qua sử dụng, giá trị tài sản là 4.500.000 đồng.
* Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 17/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản, Ủy ban nhân dân thành phố T, kết luận:
- 01 (một) xe máy (mô tô) YAMAHA EXCITER, BKS 36B4-082.38, màu xanh, trắng; ĐKLĐ năm 2014, đã qua sử dụng, giá trị tài sản là 15.000.000 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản Nguyễn Mạnh H đã thực hiện hành vi làm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt là 112.775.000 đồng, trong đó: của anh Nguyễn Kim Đ1 số tiền là 31.692.000 đồng; của anh Nguyễn Hữu Đ2 tổng số tiền là 34.854.000 đồng; của chị Nguyễn Thị L số tiền là 4.500.000 đồng; của chị Lê Thị T2 số tiền là 6.229.000 đồng; của anh Nguyễn Văn D số tiền là 24.000.000 đồng; của anh Hà Ngọc V số tiền là 11.500.000 đồng.
Về vật chứng: 01(một) máy tính laptop nhãn hiệu Dell của anh Nguyễn Kim Đ1; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exerter biển kiểm soát 36B4-082.38 của anh Nguyễn Hữu Đ2; 01 (một) máy tính laptop nhãn hiệu Dell Inspire 15-3000 của chị Nguyễn Thị L; 01 (một) máy tính Laptop nhãn hiệu Dell màu đen; 01 (một) máy tính Laptop nhãn hiệu Dell Vostro 3400 màu đen; 01 (một) bộ đàm Hypersia, màu đen; 01 (một) tai nghe Bluetooth đã qua sử dụng của Công ty A1, Nguyễn Mạnh H đã bán, cầm cố cho người không quen biết qua mạng xã hội. Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã thông báo truy tìm vật chứng nhưng không thu giữ được.
Về bồi thường dân sự: Đến nay Nguyễn Mạnh H vẫn chưa bồi thường cho người bị hại. Anh Nguyễn Kim Đ1 yêu cầu số tiền 31.692.000đ; anh Nguyễn Hữu Đ2 yêu cầu bồi thường số tiền 34.854.000 đồng; anh Nguyễn Văn D yêu cầu bồi thường số tiền 24.000.000 đồng; anh Hà Ngọc V yêu cầu bồi thường số tiền 11.500.000 đồng; chị Nguyễn Thị L yêu cầu bồi thường số tiền 4.500.000 đồng; chị Lê Thị T2 yêu cầu bồi thường số tiền 6.229.000 đồng. Công ty TNHH A1 (người đại diện theo ủy quyền là chị Nguyễn Thị L) đề nghị bồi thường số tiền là 17.600.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 234/CT -VKSTPTH ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự và tội “Tham ô tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 175, khoản 1 Điều 353, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 55, Điều 56 Bộ luật Hình sự để nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H từ 42 tháng đến 48 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội “Tham ô tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội từ 72 tháng đến 84 tháng tù; đề nghị tổng hợp hình phạt 45 tháng tù tại bản án số: 58/2024/HS-ST ngày 26/12/2024 của Toà án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, buộc bị cáo chấp hành phạt của các bản án từ 117 tháng đến 129 tháng tù.
Ngoài ra VKS còn đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại; buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng bị cáo gửi lời xin lỗi đến bố mẹ bị cáo; gửi lời xin lỗi đến các bị hại và đề nghị xem xét giảm nhẹ để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội:
Về hành vi tham ô tài sản: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao quản lý tài sản của Công ty D1, Nguyễn Mạnh H đã chiếm đoạt: 01 (một) máy tính Laptop nhãn hiệu Dell màu đen, mua năm 2018; 01 (một) máy tính Lattop nhãn hiệu Dell Vostro 3400 màu đen, mua tháng 9 năm 2022, đã qua sử dụng; 01 (một) bộ đàm Hypersia, màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) tai nghe Bluetooth đã qua sử dụng, của Công ty A1. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Mạnh H chiếm đoạt của Công ty A1 trị giá là 17.600.000 đồng.
Về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: Trong thời gian làm việc tại Công ty D1, thông qua mối quen biết với bạn trọ cùng phòng và của các nhân viên Công ty A1, Nguyễn Mạnh H đã mượn xe mô tô của anh Nguyễn Hữu Đ2; 01 laptop của chị Nguyễn Thị L; giữ giúp cho anh Nguyễn Kim Đ1 01 laptop và số tiền 15.000.000 đồng; giữ tiền bán hàng hàng ngày của nhân viên công ty Đ3 để nộp lại cho kế toán công ty, gồm: anh Nguyễn Hữu Đ2 đưa tổng số tiền là 19.854.000 đồng; chị Lê Thị T2 đưa số tiền là 6.229.000 đồng; anh Nguyễn Văn D đưa số tiền là 24.000.000 đồng; anh Hà Ngọc V đưa số tiền là 11.500.000 đồng. Sau khi nhận được tài sản, do không có tiền tiêu xài, H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt nên đã không trả lại tài sản mà cắt liên lạc, bỏ việc và bỏ đi nơi khác, chiếm đoạt số tài sản trên, chi tiêu cá nhân hết. Tổng giá trị tài sản H đã chiếm đoạt là 112.775.000 đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Mạnh H có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự và tội “Tham ô tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố là đúng.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Mạnh H là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của Công ty, của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an chung. Bị cáo có đầy đủ năng lực và khả năng nhận thức về pháp luật, muốn hưởng thụ nhưng không chịu lao động, bị cáo bất chấp các quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng cần phải xử lý nghiêm minh.
Về tình tiết tăng nặng: Năm 2013 bị cáo bị TAND thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 4 năm 9 tháng tù về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Mặc dù đã chấp hành xong phần án phí, nhưng chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm; bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nên bị cáo phải chịu các tình tiết tăng nặng theo quy định điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị có nhân thân xấu đã bị Tòa án xét xử nhiều lần nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải sửa bản thân, nên khi xem xét về hình phạt cần áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.
[4]. Về tổng hợp hình phạt:
Bị cáo phạm hai tội, nên cần áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với từng tội, sau đó tổng hợp hình phạt chung của bản án.
Tại bản án số 58/2024/HSST ngày 26/12/2024 của TAND huyện Hoa Lư (nay là TAND thành phố Hoa Lư), tỉnh Ninh Bình đã tuyên phạt Nguyễn Mạnh H 30 tháng tù về tội “Tham ô tài sản”, tổng hợp với 15 tháng tù tại của bản án số 04/2024/HSST ngày 11/3/2024 của TAND huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 45 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2023. Do đó khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 56 BLHS để tổng hợp với phần hình phạt tại bản án số 58/2024/HSST ngày 26/12/2024 của TAND huyện huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, buộc bị cáo phải chấp hành hình chung của các bản án là phù hợp.
[5].Về phần dân sự: Theo báo cáo của các bị hại, tài sản bị cáo chiếm đoạt chưa nhận nhận lại, do đó yêu cầu của các bị hại là có căn cứ chấp nhận và buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại. Cụ thể:
- Bồi thường cho anh Nguyễn Kim Đ1 số tiền 31.692.000đ;
- Bồi thường cho anh Nguyễn Hữu Đ2 số tiền 34.854.000 đồng;
- Bồi thường cho anh Nguyễn Văn D số tiền 24.000.000 đồng;
- Bồi thường cho anh Hà Ngọc V số tiền 11.500.000 đồng;
- Bồi thường cho chị Nguyễn Thị L số tiền 4.500.000 đồng;
- Bồi thường cho chị Lê Thị T2 số tiền 6.229.000 đồng.
- Bồi thường cho Công ty TNHH D1 P số tiền là 17.600.000 đồng.
Trong thời gian làm việc tại Công ty A1, H còn nợ Công ty số tiền 10.630.500 đồng. Cần xác định đây là quan hệ dân sự giữa Công ty TNHH A1 và Nguyễn Mạnh H nên cần giành quyền cho Công ty TNHH D1 P khởi kiện Nguyễn Mạnh H bằng vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 2 Điều 175; khoản 1 Điều 353; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; Điều 56; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 588; Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội “ Tham ô tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Mạnh H 36 (ba sáu) tháng tù về tội “ Tham ô tài sản” và 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt của hai tội là 78 (bảy tám) tháng tù.
Tổng hợp với hình phạt 45 (bốn lăm) tháng tù tại bản án số: 58/2024/HSST ngày 26/12/2024 của TAND huyện huyện Hoa Lư (nay là TAND thành phố Hoa Lư), tỉnh Ninh Bình. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của các bản án là 10 (mười) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/12/2023.
Về dân sự:
Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại:
- Bồi thường cho anh Nguyễn Kim Đ1 số tiền 31.692.000 đồng;
- Bồi thường cho anh Nguyễn Hữu Đ2 số tiền 34.854.000 đồng;
- Bồi thường cho anh Nguyễn Văn D số tiền 24.000.000 đồng;
- Bồi thường cho anh Hà Ngọc V số tiền 11.500.000 đồng;
- Bồi thường cho chị Nguyễn Thị L số tiền 4.500.000 đồng;
- Bồi thường cho chị Lê Thị T2 số tiền 6.229.000 đồng.
- Bồi thường cho Công ty TNHH D1 P số tiền là 17.600.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có có hiệu lực pháp luật, bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan Thi hành án có quyết định thi hành, nếu bị cáo không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên thì phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 BLDS.
Về án phí:
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 6.518.000 đồng án phí dân sự.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7,7a,9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Văn Hào |
Bản án số 122/2025/HSST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về vụ án hình sự về tội tham ô tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 122/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tham ô tài sản và Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HSST
