|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 122/2025/HS-PT
Ngày 21 - 02 - 2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh
Các Thẩm phán: Ông Hồ Sỹ Hưng và bà Trần Thị Quỳnh .
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhạn - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hùng - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 1179/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thị Nhật L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 27/2024/HS-ST ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Bị cáo có kháng cáo: Trần Thị Nhật L, sinh năm 1994 tại Phú Thọ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A, ngõ C, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện nay: Khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Huy H và bà Trần Thị T; có chồng Trần Hồng V và 02 con: Con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang tại ngoại tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Tiến H1 - Luật sư Văn phòng Luật sư Nguyễn Khánh T1 và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2017, sau khi Trần Thị Nhật L đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản về, đã đầu tư tiền vào sàn giao dịch điện tử, nhưng sau đó sàn bị sập và L mất tiền đầu tư khoảng 70tỷ đồng, trong đó của L mất khoảng 17tỷ đồng, còn lại là tiền của nhiều người cùng góp vốn và L vay nợ của người khác.
Từ đầu năm 2022, L bị vỡ nợ và nhiều người đòi tiền nên để có tiền trả nợ, L đã đưa ra thông tin gian dối về các mã đơn hàng N là linh kiện điện tử, thời gian đầu tư khoảng từ 10 đến 20 ngày, lợi nhuận cao; ngoài ra L còn làm đáo hạn ngân hàng và kinh doanh bất động sản có lợi nhuận cao, thời gian quay vòng nhanh hơn đơn hàng Nhật. Lệ cân đối giữa tiền lãi vay phải trả, tiền lợi nhuận cam kết để tự nghĩ ra mức lợi nhuận cho từng đơn hàng. Thời gian đầu, khi những bị hại chuyển tiền cho L thì L đều chuyển lại tiền mà L nói là lợi nhuận và một phần gốc đúng hạn như đã cam kết để họ tiếp tục chuyển tiền. Bên cạnh đó, L còn tự tạo tài khoản Zalo giả tên “Anh T2 NH” (tự nhận là nhân viên ngân hàng) nhắn tin nội dung thông tin các đơn hàng, thời gian đầu tư và mức lợi nhuận cao rồi chụp ảnh tin nhắn gửi đến tài khoản Zalo của các bị hại để tạo lòng tin. L lấy tiền của người này để trả cho người kia hoặc để trả nợ tiền vay trước đó mà không đầu tư vào bất cứ đơn hàng, bất động sản hay kinh doanh gì như L đã hứa hẹn, với tổng số tiền chiếm đoạt là 58.394.052.953 đồng của các bị hại là ông Cao Thế H2, bà Trần Thị D, bà Đặng Thị H3, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị L1 và ông Phạm Tiến H4, cụ thể là:
1. Ông Cao Thế H2, sinh năm 1989, địa chỉ xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ:
Trần Thị Nhật L là bạn với bà Phạm Thị Thanh L2, sinh năm 1994, (vợ ông H2). Khoảng tháng 7/2022, L nói với bà L2 cùng đầu tư bất động sản và làm đáo hạn ngân hàng. Bà L2 và ông H2 đồng ý, chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho L, mỗi lần yêu cầu ông H2 chuyển tiền thì L chỉ nói có kèo này ngon, mã mới, không nói cụ thể đầu tư vào loại hình gì.
Trong khoảng thời gian từ ngày 18/7/2022 đến ngày 18/10/2022, ông H2 đã chuyển 15 lần từ tài số khoản 19032764934016 của ông H2 mở tại ngân hàng T12 đến 2 tài khoản của L mở tại ngân hàng là tài khoản V4 số [...], tài khoản T13 số 19032994383019 và tài khoản tên chồng L là Trần Hồng V, số 19035534909011 mở tại ngân hàng T12, với tổng số tiền là 16.780.000.000 đồng.
L sử dụng số tiền này để trả nợ tiền góp vốn, tiền vay, tiền gốc và lợi nhuận mà L hứa hẹn cho các bị hại như sau: chị Hoàng Thị H5, sinh năm 1991, ở khu A, xã H, huyện T số tiền 347.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị Bích T4, sinh năm 1986, ở số A, tổ B, H, quận H, thành phố Hà Nội số tiền 3.723.000.000 đồng; chị Trần Thị Kim K, sinh năm 1985, ở 5 H, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu số tiền 20.000.000 đồng; anh Trần Văn S, sinh năm 1991, ở khu D, thị trấn T, huyện T số tiền 710.000.000 đồng; chị Lê Thị H6, sinh năm 1989, ở phố Q, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa số tiền 3.980.000.000 đồng; bị hại Phạm Tiến H4, sinh năm 1982, ở tổ E, phường N, thành phố V số tiền 2.587.000.000 đồng; bị hại Nguyễn Thị T3, sinh năm 1983, ở khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ số tiền 3.700.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1989, ở số B, ngách D, đường N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội số tiền 1.000.000.000 đồng; anh Bùi Trung A, sinh năm 1994, ở khu E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ số tiền 1.999.999.997 đồng; anh Đỗ Đức G, sinh năm 1994, ở khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ số tiền 1.200.000.000 đồng.
Để ông H2 tin tưởng thông tin đầu tư là có thật, L lấy tiền quay vòng từ những người khác chuyển lại cho ông H2 đúng hẹn và đủ số tiền gốc, tiền lợi nhuận như L đã nói với tổng số tiền là 14.604.000.000 đồng; còn không trả tổng số tiền 2.176.000.000 đồng (chưa trả gốc của mã chuyển tiền ngày 21/10/2022 và 2 lần cuối là ngày 8/11/2022 ngày 10/11/2022). Đến ngày 30/11/2022, ông Cao Thế H2 có đơn tố giác đến Cơ quan điều tra đề nghị xử lý đối với Trần Thị Nhật L.
2. Bà Trần Thị D, sinh năm 1989, địa chỉ xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ:
Bà D là cô ruột của chồng L nên tin tưởng vào thông tin L đưa ra, là bản thân L đang làm đơn hàng N, mua bán bất động sản, đáo hạn ngân hàng, lợi nhuận cao. Trong khoảng thời gian từ ngày 11/01/2022 đến ngày 18/09/2022, bà D sử dụng tài khoản ngân hàng V5 số 1012434035 và tài khoản V4 số [...], đứng tên chồng là ông Phạm Văn T5 chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng T12 và V4 của L tổng số 45 mã với tổng số tiền là 18.599.760.000 đồng.
L sử dụng số tiền này để trả nợ tiền góp vốn, tiền vay, tiền gốc và lợi nhuận mà L hứa hẹn cho các bị hại như sau: chị Hoàng Thị H5 số tiền 150.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị Bích T4 số tiền 4.467.000.000 đồng; chị Trần Thị Kim K số tiền 950.000.000 đồng; anh Trần Văn S số tiền 640.000.000 đồng; chị Lê Thị H6 số tiền 4.599.999.999 đồng; anh Bùi Trung A số tiền 1.610.000.000 đồng; anh Lã Đức C, sinh năm 1993, ở khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ số tiền 500.000.000 đồng; chị Đinh Thị H7, sinh năm 1991, ở khu E, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ số tiền 2.310.000.000 đồng; chị Trần Thị Tuyết V1, sinh năm 1983, ở khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ số tiền 1.100.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1994, ở thôn B, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên số tiền 220.000.000 đồng; anh Phạm Việt Q, sinh năm 1982, ở khu Phố, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ số tiền 1.500.000.000 đồng; anh Trần Quốc H8, sinh năm 1994, ở khu D, xã T, huyện T số tiền 670.000.000 đồng; bị hại Đặng Thị H3, sinh năm 1991, trú tại: Bản C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang số tiền 1.500.000.000 đồng.
Để bà D tin tưởng thông tin đầu tư L đưa ra là có thật, L lấy tiền quay vòng từ những người khác chuyển lại cho bà D đúng hẹn và đủ số tiền gốc, tiền lợi nhuận từ ngày 16/3/2022 đến ngày 12/11/2022 tổng số tiền là 16.695.000.000 đồng; còn không trả tổng số tiền 1.094.760.000 đồng. Đến ngày 23/11/2022, bà D có đơn tố giác đến Cơ quan điều tra đề nghị xử lý đối với Trần Thị Nhật L.
3. Bà Đặng Thị H3, sinh năm 1991, địa chỉ Bản C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang:
Bà H3 có mối quan hệ họ hàng với L (bố chồng L là cậu ruột bà H3) nên tin tưởng vào thông tin L đưa ra là L làm đơn hàng N, lợi nhuận cao.
Trong khoảng thời gian từ ngày 17/8/2022 đến ngày 12/11/2022, bà H3 sử dụng tài khoản ngân hàng V5 số 1010336699, số 0731000786223; tài khoản V4 số [...], số A, tài khoản T12 số 19034209255025 đứng tên chồng là ông Dương Văn K1 và tài khoản đứng tên bà H3 tại V, chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng T12 và V4 của L; tài khoản T12 của chồng L là Trần Hồng V; tài khoản T12 số 19037989005016 tên Lê Thị H6, sinh năm 1989, ở phố Q, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, tổng số tiền là 41.844.999.996 đồng (Do L nợ tiền của chị H6 nên L nói với bà H3 chuyển thẳng tiền để đầu tư vào tài khoản này, L nợ chị H6 khoảng 20 tỷ đồng).
L sử dụng số tiền này để trả nợ tiền góp vốn, tiền vay, tiền gốc và lợi nhuận mà L hứa hẹn cho các bị hại như sau: chị Nguyễn Thị Bích T4 số tiền 7.569.800.000 đồng; chị Lê Thị H6 số tiền 15.232.999.999 đồng; anh Bùi Trung A số tiền 2.680.000.000 đồng; trả cho chính bị hại Đặng Thị H3 số tiền 200.000.000 đồng; anh Lã Đức C số tiền 450.000.000 đồng; chị Đinh Thị H7 số tiền 800.000.000 đồng; chị Trần Thị Tuyết V1 số tiền 500.000.000 đồng; anh Đỗ Đức G số tiền 1.090.000.000 đồng; anh Đặng Văn S1, sinh năm 1985, ở số A, tổ B, khu phố D, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai số tiền 200.000.000 đồng; chị Trần Thị Thúy H9, sinh năm 1981, ở thôn N, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương số tiền 499.999.999 đồng; chị Hà Thị Hồng P, sinh năm 1976, ở tổ A, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam số tiền 2.099.999.999 đồng; chị Kiều Thị T6, sinh năm 1976, ở khu D, thị trấn T, huyện T số tiền 200.000.000 đồng; bị hại Nguyễn Thị T3, sinh năm 1983, ở khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ số tiền 1.050.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thu T7, sinh năm 1989, ở tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội số tiền 799.999.999 đồng; anh Phạm Ngọc T8, sinh năm 1991, ở xã X, huyện X, tỉnh Nam Định số tiền 1.300.000.000 đồng; anh Phạm Việt Q số tiền 2.700.000.000 đồng; anh Trần Quốc H8 số tiền 627.000.000 đồng; chị Trần Thị Huyền T9, sinh năm 1986, ở khu phố, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ số tiền 281.000.000 đồng; bị hại Trần Thị Duyên số tiền 2.050.000.000 đồng; chị Trần Thị Nhật N2, sinh năm 1987, ở khu C, thị trấn T, huyện T số tiền 1.450.000.000 đồng; anh Trần Văn S số tiền 4.770.000.000 đồng.
Để bà H7 tin tưởng thông tin đầu tư L đưa ra là có thật, L lấy tiền quay vòng từ những người khác chuyển lại cho bà H7 đúng hẹn và đủ số tiền gốc, tiền lợi nhuận từ ngày 20/8/2022 đến ngày 11/11/2022, tổng số tiền là 38.287.500.000 đồng; còn không trả tổng số tiền 3.557.499.996 đồng. Đến ngày 31/3/2023, bà H7 có đơn tố giác đến Cơ quan điều tra đề nghị xử lý đối với Trần Thị Nhật L.
4. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1989, số B, ngách D, đường N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội (hiện ở nhà số A, đường N, phường E, quận B, thành phố Hồ Chí Minh):
Bà L1 quen biết và kinh doanh cùng L từ khoảng năm 2018. Đến đầu tháng 9/2022, L nói với bà L1 là L làm đơn hàng N và làm đáo hạn ngân hàng, nếu làm đơn hàng Nhật thì thời gian đầu tư dài hơn, lợi nhuận thấp hơn, còn làm đáo hạn thì thời hạn ngắn hơn và lợi nhuận sẽ được cao hơn. Bà L1 đồng ý và nhiều lần chuyển khoản tiền cho L.
Trong khoảng thời gian từ ngày 09/9/2022 đến ngày 12/11/2022, bà L1 đã chuyển khoản cho L tổng số tiền là 141.840.000.000 đồng, trong đó bao gồm 70 tỷ tiền của chị Lương Thị Vân H10, sinh năm 1988, ở xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng qua tài khoản của chị L1 tại các ngân hàng: V4 số A, tài khoản M số 0901829666, tài khoản T12 số 19034321502019 đến tài khoản ngân hàng T12, V4 của L, ngoài ra L còn cho bà L1 chuyển khoản đến tài khoản của chị Lê Thị H6, Trần Văn S, Nguyễn Minh V2 để L trả nợ cho những người này.
L sử dụng tiền này để trả nợ tiền góp vốn, tiền vay, tiền gốc và nhuận mà L hứa hẹn cho các bị hại như sau: anh Bùi Trung A số tiền 3.602.868.686 đồng; bị hại Cao Thế H2 số tiền 324.000.000 đồng; bị hại Đặng Thị H3 số tiền 3.600.000.000 đồng; chị Đặng Thị My L3, sinh năm 1994, ở khu I, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ số tiền 340.000.000 đồng; anh Đặng Văn S1 số tiền 600.000.000 đồng; chị Đinh Thị H7 số tiền 712.500.000 đồng; anh Đỗ Đức G số tiền 1.135.000.000 đồng; chị Hà Thị Hồng P số tiền 1.150.000.000 đồng; chị Hoàng Thị H5 số tiền 120.000.000 đồng; anh Lã Đức C số tiền 2.335.000.000 đồng; chị Lê Thị H6 số tiền 84.240.999.999 đồng; anh Ngô Quang T10, sinh năm 1983, ở khu C, xã B, huyện T số tiền 5.199.999.998 đồng; chị Nguyễn Bích T4 số tiền 4.373.670.000 đồng; chị Vũ Thị H11, sinh năm 1989, ở khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ số tiền 5.800.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị Bích H12, sinh năm 1984, ở khu A, xã T, huyện T số tiền 890.299.999 đồng; trả cho chính bị hại là chị L1 số tiền 2.500.000.000 đồng; bị hại Nguyễn Thị T3 số tiền 10.099.999.999 đồng; chị Nguyễn Thị Thu T7 số tiền 300.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị V3, sinh năm 1987, ở khu Phố, thị trấn T, huyện T số tiền 1.499.999.998 đồng; anh Phạm Ngọc T8 số tiền 1.000.000.000 đồng; bị hại Phạm Tiến H4 số tiền 13.700.099.992 đồng; anh Phạm Việt Q số tiền 850.000.000 đồng; anh Trần Quốc H8 số tiền 1.000.000.000 đồng; trả chỉ bị hại Trần Thị Duyên số tiền 1.080.000.000 đồng; chị Trần Thị Huyền T9 số tiền 2.745.000.000 đồng; chị Trần Thị Kim K số tiền 550.000.000 đồng; chị Trần Thị Nhật N2 số tiền 500.000.000 đồng; chị Trần Thị Tuyết V1 số tiền 2.569.999.999 đồng; anh Trần Văn S số tiền 3.250.000.000 đồng.
Để tạo lòng tin cho bà L1 nên L cũng trả một phần tiền gốc, lợi nhuận cho bà L1 từ các nguồn vay, chiếm đoạt của những bị hại khác hoặc bằng chính tiền của bà L1 chuyển cho L. Từ ngày 13/9/2022 đến ngày 12/11/2022, L nhiều lần chuyển khoản trả tiền cho bà L1 với tổng số tiền 129.109.000.000 đồng, còn không trả số tiền 12.731.000.000 đồng. Đến ngày 03/8/2023, bà L1 có đơn tố giác đến Cơ quan điều tra đề nghị xử lý đối với Trần Thị Nhật L.
5. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1983, địa chỉ khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ:
Bà T3 là bạn của chị Trần Thị Tuyết V1 (chị gái của L). Đến cuối tháng 9/2022, L rủ bà T3 cùng góp tiền đầu tư vào các đơn hàng N, thời gian đầu L bảo bà T3 góp vốn vào các mã hàng có giá trị nhỏ khoảng 2 đến 3 tỷ đồng, thời gian ngắn sẽ chuyển lại cả gốc và lãi, mỗi mã được khoảng 40 triệu đến 50 triệu đồng, sau này L lấy lý do mã hàng có giá trị lớn, thời gian vào cuối năm nên cố đầu tư nốt đến ngày 14/11/2022 sẽ lấy được tiền về rồi nghỉ 4 tháng đến năm 2023 mới làm tiếp. Bà T3 đồng ý và chuyển khoản tiền cho L.
Trong khoảng thời gian từ ngày 01/10/2022 đến ngày 9/11/2022, bà T3 đã chuyển khoản cho L tổng số tiền là 108.114.999.999 đồng, qua tài khoản của bà T3 tại các ngân hàng: V4 số A và Bưu điện L4 0968836869 đến tài khoản ngân hàng T12, V4, M của L và tài khoản T12 của chồng L. Ngoài ra, L còn bảo bà T3 chuyển khoản trực tiếp đến tài khoản của chị Lê Thị H6, Nguyễn Thị L1 và anh Nguyễn Văn D1.
L sử dụng tiền này để trả nợ tiền góp vốn, tiền vay, tiền gốc và lợi nhuận mà L hứa hẹn cho các bị hại như sau: anh Bùi Trung A số tiền 4.344.000.000 đồng; bị hại Cao Thế H2 số tiền 3.000.000.000 đồng; bị hại Đặng Thị H3 số tiền 1.212.500.000 đồng; anh Đặng Văn S1 số tiền 1.620.000.000 đồng; anh Ngô Quang T10 số tiền 5.147.999.992 đồng; anh Đỗ Đức G số tiền 3.649.999.998 đồng; chị Hoàng Thị H5 số tiền 300.000.000 đồng; chị Lê Thị H6 số tiền 51.940.000.000 đồng; bị hại Phạm Tiến H4 số tiền 9.356.635.999 đồng; chị Nguyễn Bích T4 số tiền 4.175.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị Bích H12 số tiền 2.139.999.996 đồng; bị hại Nguyễn Thị L1 số tiền 22.805.000.000 đồng; trả cho chính chị Nguyễn Thị T3 số tiền 530.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thu T7 số tiền 800.000.000 đồng; anh Phạm Việt Q số tiền 1.819.999.999 đồng; chị Phan Thị H13, sinh năm 1991, ở khu Q, xã V, huyện C số tiền 1.200.000.000 đồng; anh Trần Quốc H8 số tiền 1.478.000.000 đồng; bị hại Trần Thị Duyên số tiền 200.000.000 đồng; chị Trần Thị Nhật N2 số tiền 120.000.000 đồng; chị Trần Thị T11, sinh năm 1986, ở khu D, xã T, huyện T số tiền 1.299.999.998 đồng; chị Trần Thị Thúy H9, sinh năm 1981, ở thôn N, thị trấn L, huyện C, tỉnh Hải Dương số tiền 1.900.000.000 đồng; chị Trần Thị Tuyết V1 số tiền 2.830.000.000 đồng; anh Trần Văn S số tiền 2.400.000.000 đồng.
Để tạo lòng tin cho bà T3 thì L cũng trả một phần tiền gốc, lợi nhuận cho bà T3 từ các nguồn vay, chiếm đoạt của những bị hại khác hoặc bằng chính tiền của bà T3 chuyển cho L. Từ ngày 02/10/2022 đến ngày 9/11/2022, L nhiều lần chuyển khoản trả tiền cho bà T3 với tổng số tiền 90.789.999.993 đồng, còn không trả số tiền 17.325.000.006 đồng. Ngày 13/11/2022 bà T3 không liên lạc được với L nên đến ngày 16/11/2022, bà T3 có đơn tố giác đến Cơ quan điều tra đề nghị xử lý đối với Trần Thị Nhật L.
6. Ông Phạm Tiến H4, sinh năm 1982, địa chỉ tổ E, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ:
Ông Phạm Tiến H4 và vợ là bà Tô Thị Thu H14, sinh năm 1982, có thời gian ở gần nhà L tại khu D, thị trấn T. Khoảng tháng 9/2022, L nhờ anh chồng là Trần Văn S, sinh năm 1991, ở khu D, thị trấn T vay hộ tiền của vợ chồng ông H4 với số tiền 6.500.000.000 đồng, lãi là 2.000 đồng/1 triệu/ngày. Ngày 03/9/2022, L trả ông H4 200.000.000 đồng tiền gốc, nợ lại 6.300.000.000 đồng. L tiếp tục nhờ anh S vay số tiền 3.000.000.000 đồng. Ngày 19/9/2022, vợ chồng L và vợ chồng ông H4 lập vi bằng về việc vợ chồng L, V vay của vợ chồng H4, H14 số tiền 9.300.000.000 đồng, đảm bảo bằng việc thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 105, diện tích 601,3m² ở khu G, xã T, huyện T; thửa đất số 581, diện tích 100m² ở khu phố, thị trấn T; thửa đất lô số 5, diện tích 72m² ở thôn M, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang; 3 thửa đất này đều đứng tên Trần Hồng V và Trần Thị Nhật L (hai bên thống nhất tổng giá trị tài sản khoảng 20 tỷ đồng), L, V có thể vay thêm tiền. Hai bên đến Văn phòng C1 để làm hợp đồng ủy quyền việc vợ chồng ông H4 có quyền quản lý, sử dụng tài sản thế chấp. Sau đó, L vay tiếp số tiền 3.600.000.000 đồng của ông H4. Tổng số tiền vay của vợ chồng L là 13.099.999.997 đồng, đã trả 200.000.000 đồng, còn nợ lại 12.900.000.000 đồng.
Đến đầu tháng 10/2022, do vỡ nợ nên L nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của vợ chồng ông H4. L nói với ông H4 về các mã hàng, đơn hàng bên N và rủ ông H4 làm cùng, nếu đầu tư trong vòng 10, 15, 20 ngày hoặc 01 tháng theo từng đơn hàng thì nhận được lợi nhuận từ vài chục đến vài trăm triệu đồng, tiền đầu tư càng nhiều thì lợi nhuận càng cao. Ông H4 tin tưởng nên đã chuyển tiền cho L.
Trong khoảng thời gian từ ngày 03/10/2022 đến ngày 8/11/2022, vợ chồng ông H4 đã chuyển khoản cho L tổng số tiền là 116.067.999.914 đồng, qua tài khoản của ông H4 tại các ngân hàng: M số 0869054888, V4 số [...], 100566811111 và tài khoản của bà Tô Thị Thu H14 tại N4 số [...] đến tài khoản ngân hàng T12, V4, M ca L. Ngoài ra, L còn bảo ông H4 chuyển khoản trực tiếp đến tài khoản của chị Lê Thị H6 và anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1990 (chồng H6).
L sử dụng tiền này để trả nợ tiền góp vốn, tiền vay, tiền gốc và lợi nhuận mà L hứa hẹn cho các bị hại như sau: anh Bùi Trung A số tiền 1.500.000.000 đồng; bị hại Cao Thế H2 số tiền 400.000.000 đồng; bị hại Đặng Thị H3 số tiền 1.500.000.000 đồng; anh Đỗ Đức G số tiền 2.435.000.000 đồng; chị Hà Thị Hồng P số tiền 2.840.000.000 đồng; anh Lã Đức C số tiền 5.205.000.000 đồng; chị Lê Thị H6 số tiền 55.159.999.955 đồng; anh Ngô Quang T10 số tiền 13.069.999.999 đồng; chị Nguyễn Bích T4 số tiền 3.112.499.999 đồng; chị Nguyễn Thị Bích H12 số tiền 430.000.000 đồng; bị hại Nguyễn Thị L1 số tiền 17.382.000.000 đồng; bị hại Nguyễn Thị T3 số tiền 8.949.999.998 đồng; anh Phạm Việt Q số tiền 2.869.999.995 đồng; chị Phan Thị H13 số tiền 1.949.999.999 đồng; chị Trần Thị Huyền T9 2.250.000.000 đồng; chị Trần Thị Tuyết V1 số tiền 70.600.000 đồng.
Để tạo lòng tin cho ông H4, L cũng trả một phần tiền gốc, lợi nhuận cho ông H4 từ các nguồn vay, chiếm đoạt của những bị hại khác hoặc bằng chính tiền của ông H4 chuyển cho L. Từ ngày 13/10/2022 đến ngày 9/11/2022, L nhiều lần chuyển khoản trả tiền cho ông H4 với tổng số tiền 95.368.206.963 đồng, còn không trả số tiền 20.699.792.951 đồng.
Ngày 17/11/2022, bà H14 và ông H4 có đơn tố giác đến Cơ quan điều tra đề nghị xử lý đối với L, chiếm đoạt số tiền 20.699.792.951 đồng. Đối với khoản tiền Lệ còn nợ của ông H4 là 12.900.000.000 đồng, đảm bảo bằng quyền sử dụng 3 thửa đất, hai bên thống nhất đây là tiền cho vay, giao dịch này phát sinh trước khi L bị vỡ nợ và thực hiện hành vi lừa đảo nên đây là giao dịch dân sự.
Như vậy, với thủ đoạn đưa ra các thông tin về đơn hàng N, đáo hạn ngân hàng và kinh doanh bất động sản, Trần Thị Nhật L đã nhận của ông Cao Thế H2, bà Trần Thị D, bà Đặng Thị H3, bà Nguyễn Thị T3, bà Nguyễn Thị L1 và ông Phạm Tiến H4, tổng số tiền 443.247.759.909 đồng, với phương thức đều chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.
Sau đó, L đã không đầu tư vào đơn hàng, kinh doanh như đã nói mà chuyển trả lại cho những người này bằng nguồn tiền đi vay, của bị hại này trả cho bị hại khác và từ nguồn tiền nhận của chính bị hại đó, tổng số tiền là 384.853.706.956 đồng, cụ thể: Lệ trả cho 28 người vay gồm Bùi Trung A 15.736.868.683 đồng; Đỗ Đức G 9.509.999.998 đồng; Hoàng Thị H5 917.000.000 đồng; Lê Thị H6 215.153.999.952 đồng; Nguyễn Bích T4 28.420.969.999 đồng; Trần Thị Kim K 1.520.000.000 đồng; Trần Văn S 11.770.000.000 đồng; Lã Đức C 8.490.000.000 đồng; Đinh Thị H7 3.822.500.000 đồng; Trần Thị Tuyết V1 7.070.599.999 đồng; Nguyễn Thị N1 220.000.000 đồng; Phạm Việt Q 9.739.999.994 đồng; Trần Quốc H8 3.775.000.000 đồng; Đặng Văn S1 2.420.000.000 đồng; Trần Thị Thúy H9 2.399.999.999 đồng; Hà Thị Hồng P 6.089.999.999 đồng; Kiều Thị T6 200.000.000 đồng; Nguyễn Thị Thu T7 1.899.999.999 đồng; Phạm Ngọc T8 2.300.000.000 đồng; Trần Thị Huyền T9 5.276.000.000 đồng; Trần Thị Nhật N2 2.070.000.000 đồng; Ngô Quang T10 23.417.999.989 đồng; Nguyễn Thị Bích H12 3.460.299.995 đồng; Phan Thị H13 3.149.999.999 đồng; Trần Thị T11 1.299.999.998 đồng; Đặng Thị My L3 340.000.000 đồng; Vũ Thị H11 5.800.000.000 đồng; Nguyễn Thị V3 1.499.999.998 đồng; Trả cho các bị hại Nguyễn Thị T3 24.329.999.997 đồng, Phạm Tiến H4 25.643.735.991 đồng, Nguyễn Thị L1 43.687.000.000 đồng, Đặng Thị H3 8.012.500.000 đồng, Trần Thị D 3.330.000.000 đồng, Cao Thế H2 3.724.000.000 đồng.
Còn lại tổng số tiền 58.394.052.953 đồng, L không trả cho các bị hại. Mặc dù, với thủ đoạn gian dối, L đã nhận tổng số tiền 443.247.759.909 đồng, nhưng L vẫn trả lại tiền cho các bị hại, việc chuyển, nhận tiền không có sổ sách theo dõi nên không tách được các mã đầu tư, tiền lợi nhuận, khoản tiền đầu tư cũ chưa trả nhưng có bị hại vẫn tiếp tục chuyển tiền cho L cho nên chỉ xác định được L không trả và chiếm đoạt số tiền còn lại là 58.394.052.953 đồng, trong đó của ông H2 là 2.176.000.000 đồng; bà D là 1.904.760.000 đồng; bà H3 là 3.557.499.996 đồng; bà T3 là 17.325.000.006 đồng; bà L1 là 12.731.000.000 đồng và ông H4 là 20.699.792.951 đồng. Do vậy, L phải chịu trách nhiệm hình sự với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền là 58.394.052.953 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 06/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Nhật L phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 39 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị Nhật L tù Chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm bồi thường dân sự, án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 17/6/2024, bị cáo Trần Thị Nhật L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật như Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng để giảm cho bị cáo xuống mức án tù có thời hạn, vì các lý do sau: Khi phạm tội, bị cáo là phụ nữ có thai, hiện đang nuôi con nhỏ; sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã cố gắng khắc phục được một phần hậu quả cho bị hại Nguyễn Thị L1 số tiền 50.000.000 đồng và được bị hại L1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; ngoài ra, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 50.000.000 đồng tại Cục Thi hành án sân sự tỉnh Phú Thọ để khắc phục thêm một phần hậu quả cho các bị hại khác trong vụ án; bên cạnh đó, bị cáo có bố đẻ là người tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc, có ông nội Trần Đình N3 là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Đơn kháng cáo của bị cáo gửi trong thời hạn nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Việc vắng mặt của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm: Xét thấy, bị cáo Trần Thị Nhật L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 3, nhưng bị cáo vẫn vắng mặt và có đơn xin hoãn phiên tòa. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có kháng cáo vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Hội đồng xét xử có thể vẫn tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án, quyết định không có lợi cho bị cáo. Nếu sự vắng mặt của bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan và sự vắng mặt đó không gây trở ngại cho việc xét xử thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy:
[2.1] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Thị Nhật L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của các bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, các sao kê tài khoản có liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở khẳng định: Do làm ăn kinh doanh thua lỗ, không trả được tiền nợ, tiền vay như bị cáo đã cam kết. Để có tiền trả nợ, trong khoảng thời gian từ ngày 10/01/2022 đến ngày 12/11/2022, với thủ đoạn đưa ra các thông tin gian dối về đơn hàng N, đáo hạn Ngân hàng và kinh doanh bất động sản với lợi nhuận cao. Bị cáo Trần Thị Nhật L đã nhận của ông Cao Thế H2 16.780.000.000 đồng, bà Trần Thị D 18.599.760.000 đồng, bà Đặng Thị H3 41.844.999.996 đồng, bà Nguyễn Thị T3 108.114.999.999 đồng, bà Nguyễn Thị L1 141.840.000.000 đồng và ông Phạm Tiến H4 116.067.999.914 đồng. Tổng số tiền bị cáo đã nhận của các bị hại là 443.247.759.909 đồng, đều với phương thức chuyển khoản qua tài khoản Ngân hàng.
Sau đó, bị cáo L đã không đầu tư vào đơn hàng, kinh doanh như đã nói mà chuyển trả lại cho những người này bằng nguồn tiền đi vay, của bị hại này trả cho bị hại khác và chính từ nguồn tiền nhận của bị hại đó, với tổng số tiền đã trả cho các bị hại là 384.853.706.956 đồng, trong đó: Trả cho ông H2 14.604.000.000 đồng, trả cho bà D 16.695.000.000 đồng, trả cho bà H3 38.287.500.000 đồng, trả cho bà T3 90.789.999.993 đồng, trả cho bà L1 129.109.000.000 đồng và trả cho ông H4 95.368.206.963 đồng.
Số tiền còn lại 58.394.052.953 đồng, bị cáo L không trả cho các bị hại, cụ thể là: Của ông H2 là 2.176.000.000 đồng, của bà D là 1.904.760.000 đồng, của bà H3 là 3.557.499.996 đồng, của bà T3 là 17.325.000.006 đồng, của bà L1 là 12.731.000.000 đồng và của ông H4 là 20.699.792.951 đồng.
Như vậy, bị cáo Trần Thị Nhật L đã dùng thủ đoạn gian dối, chiếm đoạt của ông H2, bà D, bà H3, bà T3, bà L1 và ông H4 với tổng số tiền là 58.394.052.953 đồng.
Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của nhiều bị hại. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc bản thân đưa ra các thông tin gian dối, không đúng sự thật để các bị hại tin tưởng, giao số tiền đặc biệt lớn cho bị cáo là hành vi bị pháp luật cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện rất nhiều lần, đối với nhiều người nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác vì mục đích tư lợi cá nhân. Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Thị Nhật L phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; khi phạm tội, bị cáo là phụ nữ có thai và hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; sau khi phạm tội, bị cáo đã bồi thường được một phần thiệt hại nhưng rất nhỏ so với số tiền bị cáo đã chiếm đoạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo đã chiếm đoạt số tiền của nhiều bị hại với số tiền đặc biệt lớn nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội từ 02 lần trở lên theo quy định tại các điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nêu trên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét đầy đủ cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư bào chữa cho bị cáo có xuất trình thêm một số tài liệu mới để xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo gồm: Đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại Nguyễn Thị L1, với lý do au khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tiếp tục bồi thường cho bị hại thêm một phần thiệt hại; Biên lai thu tiền của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ, tạm thu số tiền 50.000.000 đồng để khắc phục thêm một phần hậu quả cho 05 bị hại còn lại; ngoài ra, còn có tài liệu chứng minh bố đẻ bị cáo là người tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và có ông nội Trần Đình N3 là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới mà bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[2.3] Từ những phân tích, nhận định nêu trên thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, mặc dù bị cáo có thêm một số tình tiết giảm nhẹ mới như nêu trên, nhưng cũng không thể làm thay đổi được tính chất đặc biệt nghiêm trọng của vụ án, bởi lẽ với số tiền mà bị cáo tiếp tục tự nguyện bồi thường cho các bị hại là quá ít so với tổng số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo Trần Thị Nhật L mức án tù Chung thân là có căn cứ, đúng pháp luật, không nặng. Do đó, kháng cáo của bị cáo và luận cứ bào chữa của Luật sư tại phiên tòa không phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận, cần giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
[2.4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[2.5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Nhật L. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 06/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ về phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Thị Nhật L.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, các điểm n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 39 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị Nhật L tù Chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị cáo tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Thị Nhật L phải chịu 200.000 đồng.
4. Xác nhận bị cáo Trần Thị Nhật L đã tạm nộp số tiền bồi thường 50.000.000 đồng theo Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 06/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tại Biên lai thu tiền số 0000609 ngày 11/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ (được đối trừ khi thi hành án).
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Minh |
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Hồ Sỹ Hưng |
Trần Thị Quỳnh |
Trần Quang Minh |
Bản án số 122/2025/HS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (phúc thẩm hình sự)
- Số bản án: 122/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Phúc thẩm hình sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Nhật L Lừa đảo
