|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 122/2025/DS-PT
Ngày: 14-02-2025
Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Trịnh Thị Phúc
Các Thẩm phán:Ông Đặng Văn Những
Ông Đinh Tiền Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 và ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 636/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 88/2024/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 688/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm: 1964. Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của ông K: Bà Trần Thị Hồng X, sinh năm: 1960. Địa chỉ: A KA ấp V, xã B, huyện T, tỉnh Long An. (Văn bản ủy quyền ngày 09/01/2023).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1967. Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H: Ông Nguyễn Phước Đ, sinh năm: 1992. Địa chỉ: A Đỗ Tường P, ấp P, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An. (Văn bản ủy quyền ngày 05/5/2023).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1953;
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1956;
- Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1958;
- Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1970.
Cùng địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện T, Long An.
- Ông Nguyễn Hoàng T1, sinh năm: 1965.
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An.
- Bà Nguyễn Thị Kim Đ1, sinh năm: 1966. Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. (chết ngày 09/02/2025)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Đ1:
- Ông Nguyễn Văn Ả, sinh năm 1936 (cha). Địa chỉ: Ấp E, xã B, huyện B, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm: 1964 (chồng)
- Ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm: 1990 (con)
- Ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm: 1995 (con)
Cùng địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Ngọc T2, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm: 1995. Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
- Bà Đỗ Thị T4, sinh năm: 1996. Địa chỉ: Ấp A xã B, huyện T, tỉnh Long An.
- Bà Lê Thị Anh T5, sinh năm: 1997. Địa chỉ: C N, Khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.
- Cháu Nguyễn Ngọc Trường A, sinh năm: 2018. Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Ngọc T2 và bà Đỗ Thị T4.
- Cháu Nguyễn Ngọc Minh K1, sinh năm: 2018. Địa chỉ: Khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Người đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Ngọc T2 và bà Đỗ Thị T4.
- Người làm chứng:
- Ông Trần Văn T6, sinh năm: 1941. Địa chỉ: 1 khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Văn V1, sinh năm: 1956. Địa chỉ: 2 khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
- Ông Nguyễn Văn O, sinh năm: 1958. Địa chỉ: Ấp A xã T, huyện T, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc K.
(Bà xuyến, bà H, ông Đ, ông Ả, ông T2 có mặt. Các đương sự còn lại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/02/2022 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc K ủy quyền cho bà Trần Thị Hồng X trình bày: Cha ông K là ông Nguyễn Văn N1 (đã chết) khai dỡ đất hoang từ năm 1970, làm nhà ở ổn định đến năm 1990 thì cho lại ông K, phần đất này thuộc một phần thửa số 01 và một phần thửa số 05 tờ bản đồ 9-1 đất tọa lạc tại Khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Năm 2021 ông K hợp đồng với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T đo đạc hai thửa đất trên để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà H không đồng ý ký giáp ranh và bà H kiện ông K được Ủy ban nhân dân thị trấn T hòa giải nhưng không thành. Nay bà X là người đại diện theo ủy quyền của ông K yêu cầu Tòa án công nhận phần đất thuộc một phần thửa số 01 diện tích 142,2 m² loại đất thổ và phần đất thuộc một phần thửa số 05 diện tích 171 m² loại đất ao, hai thửa đất trên thuộc tờ bản đồ số 9-1 đất tọa lạc tại Khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Theo mảnh trích đo địa chính được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 12/10/2022, bà X là người đại diện theo ủy quyền của ông K yêu cầu Tòa án công nhận phần đất thuộc khu A=81,1m², loại đất NTS thuộc thửa số 5, và khu C=50,9, loại đất ODT, thuộc thửa số 1 (tổng diện tích 132m²) cùng tờ bản đồ số 9-1, tọa lạc tại khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An. Theo yêu cầu phản tố của bà H thì bà X là người đại diện theo ủy quyền của ông K không đồng ý do hiện tại bà H và các đồng thừa kế của bà Lâm Thị T7 chưa cung cấp được chứng cứ để chứng minh đất của bà Lâm Thị T7 đang sử dụng.
Ngày 01/12/2022 bị đơn bà Nguyễn Thị H có đơn phản tố, ông Nguyễn Phước Đ là người đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày: Đất mà ông Nguyễn Ngọc K đang tranh chấp với bà H có nguồn gốc của má bà H bà Lâm Thị T7. (Bà Lâm Thị T7, sinh năm 1925, chết năm 2006, ba bà H là ông Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1920, chết năm 1975. Ba, má bà H có 06 người con là Nguyễn Hoàng L; Nguyễn Thị N; Nguyễn Thị V; Nguyễn Hoàng T1; Nguyễn Thị H; Nguyễn Hoàng T). Trước năm 1975, má bà H có cho bà Tư N2 (má của ông K) mượn phần đất khoảng 150m² (mượn miệng) tại ấp N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An để cất nhà ở nhờ tránh bom đạn chiến tranh. Sau giải phóng, má bà H yêu cầu bà Tư N2 (má ông K) trả lại đất, bà Tư N2 xin má bà H cho tiếp tục ở nhờ vì chưa có nơi ở nào khác. Khoảng năm 1994, con bà Tư N2 là ông Nguyễn Ngọc K đã đến cơ quan chức năng kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất mà bà Tư N2 mượn của má bà H nhưng không được cấp giấy chứng nhận. Biết được sự việc này, má bà H đã gửi đơn đến UBND thị trấn T hoà giải đòi đất nhưng không hoà giải được vì bà Tư N2 và ông K vắng mặt. Cùng năm 1994, má bà H có làm hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất cho gia đình ông K mượn nhưng vì đất đang tranh chấp nên chưa được giải quyết. Sau đó, má bà H lại tiếp tục yêu cầu UBND thị trấn T hoà giải nhưng cũng không hoà giải được vì bà Tư N2 và ông K vắng mặt. Từ năm 1995- 2006 má bà H bệnh tật kéo dài không đủ sức khoẻ để đi kiện, năm 2006 qua đời. Sau khi bà Tư N2 chết, phần đất mượn hiện do ông K sử dụng. Nhận thấy, phần đất ông K đang tranh chấp - được ông Nguyễn Văn P1 (con bà Nguyễn Thị S); bà Nguyễn Thị Mỹ L1 (con dâu bà C Ai) là những người cùng mượn đất của bà T7 trước năm 1975 có bản tường trình làm chứng về việc biết bà Tư N2 (má ông K) mượn đất của má bà H, đồng thời việc ông K từ năm 1994 đến nay đã nhiều lần xin cấp giấy chứng quyền sử dụng phần đất mượn này nhưng không được cơ quan chức năng xem xét bởi vì đất này không phải đất của ông K, cho nên đối với yêu cầu khởi kiện của ông K thì bà H không đồng ý và có yêu cầu phản tố. Căn cứ kết quả đo đạc theo mảnh trích đo địa chính ngày 12/10/2022 thì diện tích đất ông K (mượn) tranh chấp là khu A= 81,1m², loại đất NTS thuộc thửa số 5, và khu C=50,9m², loại đất ODT, thuộc thửa số 1, cùng tờ bản đồ số 9-1, tổng diện tích là 132m², trên đất có xây dựng căn nhà cấp 4. Nay bà H yêu cầu Toà án giải quyết công nhận phần đất khu A= 81,1m², loại đất NTS thuộc thửa số 5, và khu C=50,9m², loại đất ODT, thuộc thửa số 1 (tổng diện tích là 132m²), cùng tờ bản đồ số 9-1, toạ lạc tại Khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 164/2022 ngày 12/10/2022 thuộc quyền sử dụng đất của các đồng thừa kế của bà Lâm Thị T7là Nguyễn Hoàng L; Nguyễn Thị N; Nguyễn Thị V; Nguyễn Hoàng T1; Nguyễn Thị H; Nguyễn Hoàng T. Yêu cầu ông Nguyễn Ngọc K di dời tài sản trên đất là căn nhà để giao trả phần đất kể trên cho các đồng thừa kế của bà Lâm Thị T7.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng L, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Hoàng T, ông Nguyễn Hoàng T1 trình bày: Hiện bà Nguyễn Thị H đang có yêu cầu phản tố tranh chấp với ông Nguyễn Ngọc K tổng diện tích 132 m² (khu A, C thuộc thửa số 1, 5) đất tọa lạc tại khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An phần đất này trước đây má ông L, bà N, bà V, ông T, ông T1 là bà Lâm Thị T7 cho gia đình ông K mượn ở nhờ, nên đây là di sản của bà Lâm Thị T7 để lại. Ông L, bà N, bà V, ông T, ông T1 là hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật của bà Lâm Thị T7. Ông L, bà N, bà V, ông T, ông T1 không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế của bà Lâm Thị T7 trong vụ án này. Trường hợp Tòa án chấp nhận toàn bộ hoặc một phần yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H, phần diện tích thuộc các thửa đất nêu trên nếu được Tòa án công nhận cho các đồng thừa kế của bà T7 thì ông L, bà N, bà V, ông T, ông T1 tự nguyện giao cho bà H được hưởng toàn bộ. Hoặc trường hợp Tòa án giữ nguyên hiện trạng đất và tài sản gắn liền với đất giao cho ông K sử dụng đồng thời ông K phải có nghĩa vụ thanh toán lại bằng giá trị quyền sử dụng đất cho các đồng thừa kế của bà T7 thì ông L, bà N, bà V, ông T, ông T1 tự nguyện cho bà Nguyễn Thị H được nhận toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất mà ông K phải thanh toán.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim Đ1 trình bày: Bà Đ1 là vợ ông K, bà Đ1 thống nhất toàn bộ lời trình bày của ông K không có ý kiến bổ sung gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc T2 và bà Đỗ Thị T4 trình bày: Ông T2 là con ruột của ông K, bà T4 là vợ ông T2 là con dâu của ông K; cháu Nguyễn Ngọc Trường A và cháu Nguyễn Ngọc Minh K1 là con ruột của ông T2 và bà T4. Ông T2 và bà T4 thống nhất toàn bộ lời trình bày của ông K không có ý kiến bổ sung gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc T3 và bà Lê Thị Anh T5 trình bày: Ông T3 là con ruột của ông K, bà T5 là vợ ông T3 là con dâu của ông K. Ông T3 và bà T5 thống nhất toàn bộ lời trình bày của ông K không có ý kiến bổ sung gì thêm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 88/2024/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc K.
Công nhận phần đất thuộc khu A, khu C, khu A, khu B, khu C, khu D, khu E, khu F, khu 7 thuộc một phần thửa số 1, và một phần thửa số 5 tờ bản đồ số 9-1 đất tọa lạc tại khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An theo mảnh trích đo địa chính được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 12/10/2022 cho ông Nguyễn Ngọc K.
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án. Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H. Buộc ông Nguyễn Ngọc K hoàn trả cho bà H 42.850.000 đồng.
Từ khi có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền chưa trả thì ông Nguyễn Ngọc K còn phải trả thêm tiền lãi tương ứng với thời gian chậm thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Về lệ phí thẩm định giá: ông Nguyễn Ngọc K, bà Nguyễn Thị H đã ứng nộp mỗi người 9.000.000 đồng chi phí đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá bà H và ông K tự nguyện chịu, đã nộp xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Nguyễn Ngọc K phải chịu 2.143.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.852.000 đồng theo biên lai thu số 0002352 ngày 25/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, hoàn trả cho ông K 709.000 đồng tiền tạm ứng án phí còn thừa.
Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.100.000 đồng theo biên lai thu số 0002784 ngày 02/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, hoàn trả cho bà H 800.000 đồng tiền tạm ứng án phí còn thừa.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.
Ngày 06/9/2024 ông Nguyễn Ngọc K kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, không đồng ý trả cho bà H số tiền 42.850.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Phần tranh luận:
Bà X là người đại diện theo ủy quyền của ông K có kháng cáo trình bày: Toàn bộ diện tích đất tranh chấp của gia đình ông K khai hoang và sử dụng từ trước năm 1960 cho đến nay. Trong quá trình sử dụng đất do điều kiện gia đình khó khăn ông chưa đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 2018 ông K làm đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà H không đồng ý ký giáp ranh cho rằng toàn bộ phần đất đang tranh chấp là của mẹ bà H cho gia đình ông K ở nhờ, ông K không thừa nhận việc này. Bà H không cung cấp được chứng cứ đất có nguồn gốc của mẹ bà H là bà T7 cho ở nhờ. Bà T7 được cấp giấy chứng nhận mẫu bìa trắng năm 1992, đến năm 1996 bà T7 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo mẫu bìa đỏ nhưng không có thửa đất tranh chấp, đến năm 2006 bà T7 mới chết, trong thời gian bà T7 còn sống hoàn toàn không có tranh chấp hay yêu cầu gia đình ông K trả đất. Bà H trình bày năm 1994 - 1966 bà T7 có khởi kiện tranh chấp đất với gia đình ông K, nhưng gia đình ông K không đến, lời trình bày của bà H hoàn toàn không đúng sự thật, không có chứng cứ gì chứng minh.
Gia đình ông K sử dụng đất trước năm 1960 có đăng ký hộ khẩu tại địa chỉ trên, và đóng thuế đất cho Nhà nước. Những người làm chứng lớn tuổi sống tại địa phương xác định đất gia đình ông K khai hoang, chính quyền địa phương cũng đã xác minh người dân tại địa phương nhưng không xác định được nguồn gốc đất là của ai. Gia đình ông K đã sử dụng ổn định, công khai liên tục, đóng thuế cho Nhà nước từ năm 1960 đến nay là trên 60 năm, số mục kê thể hiện đất do gia đình ông K đứng tên, nên đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất theo thời hiệu theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 43 của Chính phủ và các Điều 182, 183, 236 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 101 Luật Đất đai năm 2013. Do đó, đề nghị sửa bản án sơ thẩm về việc không buộc ông K phải hoàn trả trị quyền sử dụng đất cho bà H.
Ông Đ là người đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày: Căn cứ chứng minh nguồn gốc đất tranh chấp là của bà T7 cho gia đình ông K ở nhờ là lời trình bày thừa nhận của bà L1 và bà Đ1 tại biên bản hòa giải 26/02/2019, trong biên bản hòa giải này bà L1 thừa nhận đất tranh chấp do bà T7 cho gia đình bà L1 ở nhờ nhưng ông N1 và ông K không đến nên không giải quyết được, việc này có xác nhận của ông Nguyễn Văn T8 nguyên là cán bộ địa chính thị trấn T, tuy nhiên đây cũng chỉ là lời trình bày của ông T8 mà không có tài liệu chứng minh. Chứng cứ trong hồ sơ thể hiện việc tranh chấp chỉ được hòa giải 2 lần vào năm 2019. Như vậy, không có căn cứ xác định bà T7 có đòi đất của ông K vào năm 1994 -1996.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông K đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án:
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc K và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng:
Xét về nguồn gốc đất: Các đương sự đều không thống nhất về nguồn gốc đất của mỗi bên trình bày. Tuy nhiên bên bà H thừa nhận phần đất tranh chấp phía gia đình ông K đã sử dụng từ trước năm 1975 đến nay. Đồng thời theo biên bản xem xét thẩm định chỗ ngày 09/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa và các biên bản hòa giải tại UBND thị trấn T ngày 16/5/2019, ngày 26/02/2019 thể hiện các phần đất tranh chấp gia đình ông K quản lý sử dụng từ trước năm 1975, đã cất nhà kiên cố và trồng nhiều loại cây trên đất. Việc gia đình ông K sử dụng phần đất tranh chấp phù hợp với các biên bản xác minh đối với ông Võ Tấn Đ3, ông Ngô Văn S1, Nguyễn Thành N3, Lê Văn N4, ông Nguyễn Văn Ú, Huỳnh Văn N5, Trần Thanh N6, Đỗ Thành K3 xác nhận không biết đất tranh chấp có nguồn gốc của ai nhưng đều xác nhận gia đình ông K sống, cất nhà ổn định từ trước năm 1975 đến nay.
Bị đơn bà Nguyễn Thị H cho rằng đất tranh chấp có nguồn gốc từ bà Lâm Thị T7, cho bà Tư N2 (má của ông Nguyễn Ngọc K) mượn để cất nhà ở nhờ tránh bom đạn chiến tranh nhưng đây cũng chỉ là lời trình bày, không phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Mặt khác, ngày 23/10/1992, bà Lâm Thị T7 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy trắng) đối với 08 thửa đất số 649, 646, 704, 700, 647, 648, 644, 645, tổng diện tích 37800m². Ngày 25/11/1996, bà Lâm Thị T7 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 534, 535, 536, 537, 583, 584, 585, 586, 643, 644, 645 tọa lạc tại thị trấn T, huyện T hoàn toàn không có đăng ký thửa đất tranh chấp. Bà Lâm Thị T7 chưa tiến hành đăng ký kê khai đối với phần đất tranh chấp, cũng như việc ông K quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp thì bà T7 không có ý kiến phản đối, hay khiếu nại gì. Từ đó, không đủ cơ sở xác định nguồn gốc đất là của bà Lâm Thị T7. Bị đơn phản tố cho rằng đất của bà T7 cho gia đình ông K ở nhờ nhưng không cung cấp chứng cứ nào chứng minh. Kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc K là có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc K. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của đơn ông K trong thời hạn luật định nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông K không đồng ý hoàn trả cho bà H 40% giá quyền sử dụng của phần diện tích đất tranh chấp với số tiền 42.850.000 đồng. Xét thấy:
[2.2] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp: Nguyên đơn ông K trình bày nguồn gốc đất do ông Nguyễn Văn N1 là cha của ông K khai dỡ đất hoang từ năm 1970, làm nhà ở ổn định đến năm 1990 thì cho lại ông K. Bị đơn bà H trình bày nguồn gốc đất của mẹ bà H là Lâm Thị T7 cho cha của ông K ở nhờ từ trước năm 1975, tuy nhiên bà H không cung cấp được chứng cứ chứng minh ông N1 (cha ông K) mượn đất của bà T7 (mẹ bà H), ông K không thừa nhận việc cha ông mượn đất của bà T7. Những người làm chứng cho ông K trình bày đất tranh chấp do cha ông K khai hoang từ những năm 1960; những người làm chứng cho bà H trình bày đất tranh chấp do mẹ bà H cho cha ông K mượn. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là lời trình bày mà không có tài liệu hoặc chứng cứ nào nên không có cơ sở xác định nguồn gốc của ai. Tại báo cáo tóm tắt quá trình sử dụng đất của các hộ ông Nguyễn Ngọc K, ông Nguyễn Văn C1 ngày 01/4/2019 của ông Dương Thanh H1 cán bộ thuộc Ủy ban nhân dân thị trấn T (bút lục 153) thể hiện không xác định được nguồn gốc đất tranh chấp của ai nhưng các hộ ông C1 và ông K đã sử dụng cất nhà ở ổn định từ năm 1960-1961 đến nay. Do đó, không có căn cứ xác định nguồn gốc đất tranh chấp là của ai.
[2.3] Đối với lời trình bày của bà Trần Thị Mỹ L2 xác nhận phần đất ông K đang tranh chấp có nguồn gốc của bà Lâm Thị T7 mẹ bà H cho ở nhờ nhưng tại đơn xin hủy tờ trình (tờ làm chứng) ngày 16/10/2023, bà L2 xác định bà ký vào tờ tường trình người làm chứng ngày 25/7/2022 theo yêu cầu của bà H, bà là người gốc Tây Ninh nên không biết gì về nguồn gốc đất, cũng không biết về việc bà T7 đến đòi đất và cũng không nghe nói lại. Do đó, không thể căn cứ vào lời trình của bà L2 để cơ sở giải quyết vụ án.
[2.4] Bị đơn bà H nại ra rằng trong biên bản hòa giải ngày 16/5/2019 bà Đ1 là vợ ông K thừa nhận mượn đất của bà bà T7, tuy nhiên trong biên bản hòa giải ngày 16/5/2019 bà Đ1 trình bày “đất này trước đây bà Nguyễn Thị N7 sử dụng vô kêu gia đình tôi đến ở vì gia đình khó khăn nên chưa làm giấy” (bút lục 85), trong biên bản này không có câu từ nào bà Đ1 thừa nhận mượn đất của bà T7 (mẹ bà H).
[2.5] Bà H trình bày năm 1994-1996 mẹ bà H là bà Lâm Thị T7 có khiếu nại ra Ủy ban nhân dân thị trấn T về việc đòi lại đất đã cho ông N1 ở nhờ nhưng ông N1 và ông K không đến nên không giải quyết được, việc này có xác nhận của ông Nguyễn Văn T8 nguyên là cán bộ địa chính thị trấn T, tuy nhiên đây cũng chỉ là lời trình bày của ông T8 mà không có tài liệu chứng minh. Chứng cứ trong hồ sơ thể hiện việc tranh chấp chỉ được hòa giải 2 lần vào năm 2019. Như vậy, không có căn cứ xác định bà T7 có đòi đất của ông K vào năm 1994 -1996.
[2.6] Về quá trình sử dụng đất: căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của các đương sự có cơ sở xác định gia đình ông K đã sử dụng đất từ trước năm 1975 đến nay, gia đình bà H hoàn toàn không sử dụng phần đất này. Gia đình ông K là người nộp thuế quyền sử dụng đất cho Nhà nước từ năm 1994 đến nay (bút lục 139). Quá trình giải quyết vụ án bà H cũng thừa nhận phần đất tranh chấp gia đình ông K sử dụng từ trước năm 1975, bà không nộp thuế sử dụng đất cho Nhà nước đối với phần đất tranh chấp này.
[2.7] Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: căn cứ vào công văn số 2215/UBND-NC, ngày 13/4/2023 của Ủy ban nhân dân huyện T (bút lục 159) thể hiện phần đất đang tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không nằm trong khu quy hoạch, giải tỏa bồi thường.
[2.8] Từ những nhận định trên xác định phần đất tại thuộc khu A, khu C, Khu A, khu B, khu C, khu D, khu E, khu F, khu 7 thuộc một phần thửa số 1, và một phần thửa số 5 tờ bản đồ số 9-1 đất tọa lạc tại khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An theo mảnh trích đo địa chính được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 12/10/2022 do gia đình ông K sử dụng từ năm 1975 đến nay đã hơn 30 năm đủ điều kiện để đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo theo quy định tại Điều 182, Điều 183 và Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.9] Án sơ thẩm nhận định phần đất tranh chấp do gia đình của ông K mượn của mẹ bà H nên buộc gia đình ông K phải hoàn trả 40% giá trị quyền sử dụng (do gia đình ông K có công sức tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất) là không phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, chấp nhận kháng cáo của ông K, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, sửa một phần bản án sơ thẩm.
[3] Về chi phí chi phí đo đạc xem xét thẩm định tại chổ, thẩm định giá: ông Nguyễn Ngọc K, bà Nguyễn Thị H đã tạm nộp mỗi người 9.000.000 đồng. Bà H và ông K tự nguyện chịu toàn bộ số tiền này, các bên đã nộp đủ và chi xong.
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc K được chấp nhận nên ông K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông Nguyễn Ngọc K 2.852.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002352 ngày 25/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
Do yêu cầu phản tố đòi lại quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H không được chấp nhận nên bà H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.100.000 đồng theo biên lai thu số 0002784 ngày 02/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, hoàn trả cho bà H 800.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của ông K được chấp nhận nên ông K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông K 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0009119 ngày 12/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Chấp nhận kháng cáo ông Nguyễn Ngọc K;
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 88/2024/DS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 148, 157, 165 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 175, Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100, 203 Luật Đất đai năm 2013, Điều 26, Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc K về việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị H.
- Xác định phần đất thuộc khu A, khu C, Khu A, khu B, khu C, khu D, khu E, khu F, khu 7 thuộc một phần thửa số 1, và một phần thửa số 5 tờ bản đồ số 9-1 đất tọa lạc tại khu phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An theo mảnh trích đo địa chính được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện T duyệt ngày 12/10/2022 thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Ngọc K.
Ông Nguyễn Ngọc K có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên cho phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án và theo quy định của pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H về việc yêu cầu ông Nguyễn Ngọc K trả lại 40% giá quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên với số tiền 42.850.000đồng.
- Về chi phí chi phí đo đạc xem xét thẩm định tại chổ, thẩm định giá: ông Nguyễn Ngọc K, bà Nguyễn Thị H đã tạm nộp mỗi người 9.000.000 đồng. Bà H và ông K tự nguyện chịu toàn bộ số tiền này, các bên đã nộp đủ và chi xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Ngọc K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông Nguyễn Ngọc K 2.852.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002352 ngày 25/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.100.000 đồng theo biên lai thu số 0002784 ngày 02/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, hoàn trả cho bà H 800.000đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Ngọc K không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông K 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0009119 ngày 12/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
- Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Phúc |
|
Thành viên Hội đồng xét xử Đặng Văn N8 – Đ Trịnh Thị P2 |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 122/2025/DS-PT ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 122/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo
