|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 122/2024/HS-PT Ngày 11 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trọng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Thành và bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:
Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 153/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị H và bị cáo Nguyễn Văn C do có kháng cáo của các bị cáo và người đại diện hợp pháp đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 142/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Thị H, sinh ngày 20/9/2008; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: không (đang là học sinh); trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị H1; chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, (có mặt).
- Nguyễn Văn C, sinh ngày 14/4/2007; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Lăng Thị Hồng N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/3/2024 đến nay (có mặt).
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Thị H: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo H: Bà Kim Hồng T - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V, (có mặt).
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Văn C: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc, (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo C: Ông Nguyễn Văn T1 - Trợ giúp viên, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh V, (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo khác, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không có kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Khắc Hải Đ và Trần Minh H2 quen biết nhau và cùng thuê phòng trọ tại xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Vì đang nợ tiền phòng trọ và không có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng hơn 17 giờ ngày 29/02/2024, khi đang chơi game tại quán Internet gần Trung tâm y tế huyện B, Đ nói với H2 cùng đi cướp xe mô tô của các nam giới điều khiển xe mô tô có biển kiểm soát lạ lưu thông trên đường bán lấy tiền, H2 đồng ý và nói với Đ “hỏi H3 xem có dao, tuýp không để tối đi”. Sau đó, Đ nhắn tin qua messenger facebook cho Lê Bá H3 “Có ở trọ không? Cho tao mượn con kiếm tối đi có việc”, H3 nhắn lại “Tối lên đây, bọn tao dọn quán xong thì cùng đi” (Lúc này H3 và Nguyễn Văn C đang làm phục vụ tại quán ăn X tại đường T, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc).
Trong lúc Đ liên lạc với Lê Bá H3 thì H2 gọi điện rủ Nguyễn Tiến A cùng đi cướp tài sản, Tiến A đồng ý. Sau đó Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn đen, không gắn biển kiểm soát (xác định biển kiểm soát được đăng ký là 88F1- 343.63) chở H2 đến đón Tiến A và cùng đến rủ Nguyễn Minh H4 tham gia, H4 đồng ý. H4 chuẩn bị 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu sơn đen, biển kiểm soát 88G1- 567.16 chở Tiến A, Đ lái xe chở H2 cùng nhau đi chơi qua nhiều tuyến đường thành phố V để đợi H3 hết giờ làm việc cùng đi.
Đến khoảng hơn 23 giờ cùng ngày, Đ gọi messenger facebook rủ Nguyễn Thị H cùng đi chơi, H đồng ý thì Đ, H2, Tiến A, H4 cùng đến đón H tại nhà ở thôn H, xã T, H ngồi cùng xe với Đ và H2 rồi tất cả cùng nhau đi đến quán Xuân Ổ rủ H3 và C. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 01/3/2024, khi cả nhóm có mặt trước cửa quán X thì Đ nói với mọi người “Trên đường đi gặp biển lạ là đánh rồi lấy xe của nó” thì H2, H4, H, Tiến A, C, H3 hiểu ý khi đi trên đường gặp xe biển số ngoài tỉnh Vĩnh Phúc thì chặn đánh để cướp xe và đồng ý. C sử dụng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, màu sơn đen, biển kiểm soát 20E1- 279.30; H3 vào lán phía sau quán X lấy 01 thanh tuýp bằng kim loại thân tròn rỗng dài 01 mét, đường kính 03cm và 01 kiếm tự chế bằng kim loại có mũi kiếm nhọn dài 80cm (02 hung khí này có ren xoắn trên đầu để gắn vào nhau H3 cất giấu từ trước). Sau đó H3 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20E1- 279.30 chở C ngồi sau cầm thanh tuýp; Đ điều khiển mô tô Yamaha Exciter chở H ngồi giữa, H2 ngồi sau cầm thanh kiếm; H4 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 88G1- 567.16 chở Tiến A, cả nhóm điều khiển xe đi trên đường Quốc lộ 2 hướng từ V đi P.
Đến khoảng hơn 02 giờ cùng ngày, cả nhóm đang đi trên đường Q thuộc thị trấn H, huyện B (qua cổng khu công nghiệp B) hướng đi thành phố P thì gặp anh Trương Văn S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen, biển kiểm soát 29M1-644.39 chở theo sau là anh Nguyễn Văn P và anh Hà Văn L đi cùng chiều từ phía sau vượt lên. Nhìn thấy xe của anh S thì Đ hô to nói với cả nhóm “Có xe kìa đuổi theo” thì cả nhóm cùng đuổi theo. Khi đi đến địa phận tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện B thì xe của H3 đuổi kịp rồi vượt lên trước chặn xe của anh S, xe của Đ áp sát bên trái xe của anh S đồng thời H2 ngồi sau tay phải cầm kiếm giơ ngang vai chỉ về phía anh S và nói “Đ. mẹ mày dừng xe lại”. Bị áp sát và đe dọa, anh S hốt hoảng điều khiển xe dừng ở bên phải đường, xe của H4 và Tiến A cũng dừng sát ngay xe của Đ. H2 cầm kiếm bằng tay phải từ trên xe của Đ đi xuống tiến gần đến nhóm anh S, chỉ mũi kiếm vào nhóm của anh S và nói “Quỳ xuống”, nhóm của anh S hốt hoảng, lo sợ bị đánh nên đều quỳ xuống nền đường xin, H2 liền hỏi “Mày người ở đâu?”, anh S nói “Em người Hải Dương đi T chơi đang trên đường về”.
Lúc này Đ nói to với cả nhóm “Chúng mày có làm được việc không?” thì tất cả tiến đến quây quanh nhóm anh S, Tiến A liền lấy thanh tuýp kim loại từ tay C và cùng H2 đe dọa yêu cầu anh S phải đưa chìa khóa xe nhưng anh S không đưa và nói “Anh ơi tha cho em, em còn mỗi cái xe để về”. H2 liền dùng chân phải đá 01 phát vào vùng mặt của anh S, H2 tiếp tục đi đến vị trí anh P và anh L đang quỳ rồi dùng chân đá vào vùng mặt của cả hai với mục đích ép anh S đưa chìa khóa xe để cướp xe. Thấy anh S kiên quyết không đưa chìa khóa xe thì H3 ngồi lên vị trí điều khiển xe của anh S để dắt đi thì anh S bám vào bánh trước của xe và quỳ 2 gối chặn đầu để giữ chiếc xe. Tiến A liền cầm tuýp kim loại vụt vào tay của anh S làm anh S bị đau buông tay khỏi bánh xe. Khi nhóm của anh S bị đánh, bị đe dọa không thể kháng cự thì H3 vẫn đang ngồi trên xe của anh S và dùng chân đẩy xe tiến về phía trước, anh S chạy theo dùng tay bám vào đuôi xe kéo lại thì bị H2 giằng lấy thanh tuýp từ tay Tiến A và vụt 02 phát vào tay anh S khiến anh S bị đau không thể kéo xe lại.
Sau khi cả nhóm cướp được xe của anh S thì Đ điều khiển xe Yamaha Exciter (chở H ngồi sau) dùng chân phải đẩy xe di chuyển còn H3 cầm lái xe. Cả nhóm di chuyển trên nhiều tuyến đường để tẩu thoát, khi đi đến địa bàn phường T, thành phố P thì dừng lại tháo vứt bỏ chiếc biển kiểm soát xe cướp được ở ven đường để tránh bị phát hiện sau đó đem về cất giấu tại lán nơi H3 ngủ sau quán X. Khi về đến quán X, H3 gọi thì Nguyễn Quốc C1 (nhân viên quán X) mở cửa rồi H3, H2 ngủ lại ở lán của quán. Sau đó nhóm của Đ thống nhất khoảng 10 giờ cùng ngày thì quay lại đem xe cướp được đi đánh chìa khóa rồi bán lấy tiền chia nhau thì tất cả đồng ý rồi ra về.
Đến khoảng 10 giờ ngày 01/3/2024, khi ngủ dậy, Quốc C1 hỏi H3 “Xe ở đâu đấy?” thì H3 trả lời “Đêm qua tôi cùng với anh em vừa rích được con xe”, Quốc C1 hiểu ý H3 nói nhóm của H3 vừa đi cướp được chiếc xe mô tô thì nói “Ừ”. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, nhóm của Đ, H, Tiến A, H4 đến quán X thì H3 dắt xe cướp được của anh S đưa cho nhóm của Đ để đi đánh chìa khóa điện mới tại quán “Ngọc T2 mô tô” địa chỉ tại thôn T, xã H, huyện B của anh Nguyễn Anh T3, còn H3 ở lại quán làm việc. Đánh chìa khóa xong thì tất cả quay về quán X. Lúc này nhóm của Đ đã có mặt đủ, Quốc C1 cũng đang ở quán thì H3 hỏi Quốc C1 “Bạn có mua xe không?”, Quốc C1 hỏi lại “Xe gì?” thì H3 trả lời “Xe không giấy, mất biển”, Quốc C1 hiểu là nhóm của H3 muốn bán chiếc xe đi cướp được lúc rạng sáng mà H3 nói với Quốc C1 thì Quốc C1 bảo “không mua” và nói với H3 “Tôi có ông anh hay mua xe không giấy để tôi gọi hỏi xem thế nào rồi tôi bảo lại”. Sau đó Quốc C1 sử dụng tài khoản facebook của của mình nhắn tin đến tài khoản facebook của Kim Văn T4 với nội dung “anh ơi em có con xe nhảy, không giấy tờ, không biển kiểm soát anh có mua không”, T4 trả lời “Chú định bán bao nhiêu?”. Quốc C1 nói với nhóm của H3 “ông đấy có mua, giờ định bán bao nhiêu”. Sau khi cả nhóm thống nhất thì Đ nói với Quốc C1 giá bán 4,5 triệu đồng. Quốc C1 nhắn lại cho T4 “bán bốn triệu rưỡi” thì T4 đồng ý và hẹn 14 giờ cùng ngày đến quán C2 tại xã T, huyện Y, Vĩnh Phúc để mua bán; Quốc C1 nói lại với nhóm của H3 thì nhóm của H3 đồng ý. Sau đó Quốc C1 đưa nhóm của Đ đến quán C2, vì xe không đề nổ được nên T4 và nhóm của Đ đồng ý thỏa thuận mua bán chiếc xe với giá 4.250.000 đồng, T4 trả tiền mặt 4.000.000 đồng cho Quốc C1 đưa lại cho Đ; còn 250.000 đồng do không có tiền lẻ nên T4 vay của chị Bùi Thị T5 (uống nước tại quán C2) chuyển khoản đến số tài khoản ngân hàng của H, khi nhận đủ tiền, nhóm Đ ra về. Sau đó Đ chia cho H, H4, Tiến A mỗi người 500.000đồng, H2 2.000.000đồng và giữ lại 500.000đồng, còn 250.000 đồng thì thống nhất trả tiền cả nhóm đi ăn, uống nước.
Cùng ngày tại quán C2, T4 gặp Vũ Anh T6 và nói với T6 có xe wave đời 2018, không giấy muốn bán 5.500.000 đông nhờ tìm người mua, bán được sẽ trả công thì T6 giới thiệu Nguyễn Hữu N1 đang có nhu cầu mua xe. Đến 15 giờ cùng ngày tại quán C2, N1 nói với T4 “xe không trộm cắp, không dính đến pháp luật thì em mới mua”, T4 nói lại “xe bao không trộm cắp, không dính dáng đến pháp luật” và cùng nhau thỏa thuận mua bán chiếc xe với giá 5.500.000đồng, Nhất trả tiền mặt cho T4.
Sau khi sự việc xảy ra, anh Trương Văn S đã đến Công an huyện B trình báo toàn bộ nội dung vụ việc.
Ngày 01/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện B ra các Quyết định trưng cầu giám định thương tích số 362, 363, 364 đề nghị Trung tâm Pháp y tỉnh V giám định thương tích đối với anh Trương Văn S, Nguyễn Văn P và Hà Văn L. Ngày 06/3/2024, Trung tâm Pháp y tỉnh V có các Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 98, 99, 100, kết luận tại thời điểm giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trương Văn S, Nguyễn Văn P, Hà Văn L là 00% (Không phần trăm).
Ngày 27/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện B ra Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 1060/QĐ- ĐCSHS đề nghị Trung tâm Pháp y tỉnh V giám định bổ sung thương tích đối với anh Trương Văn S. Ngày 28/6/2024, Trung tâm pháp y tỉnh V có Bản kết luận giám định bổ sung số 98/KLTTCT- PYVP tổn thương cơ thể trên người sống số 266, kết luận tại thời điểm giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh S là 00%.
Tại kết luận định giá tài sản số 31/KL- ĐGTS ngày 14/3/2024, Hội đồng định giá tài sản kết luận: Chiếc xe mô tô của anh S bị nhóm của Đ cướp trị giá 8.166.000 đồng.
Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 142/2024/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H và bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Cướp tài sản".
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 101; các Điều 17, 58, 91 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, khoản 1 Điều 101; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 02/3/2024).
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt đối với các bị cáo: Xử phạt bị cáo Nguyễn Khắc Hải Đ 06 năm tù, Trần Minh H2 05 năm 06 tháng tù, Lê Bá H3 05 năm 03 tháng tù, Nguyễn Tiến A 05 năm 03 tháng tù, Nguyễn Minh H4 05 năm 03 tháng tù về tội cướp tài sản.
Xử phạt bị cáo Kim Văn T4 01 năm tù về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Tổng hợp hình phạt 09 tháng tù của Bản án số 80/2024/HS- ST ngày 26/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án (ngày 21/8/2024). Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C1 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí, trách nhiệm dân sự và tuyên quyền kháng cáo của các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/10/2024, bị cáo H và người đại diện hợp pháp có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo; bị cáo Nguyễn Văn C và người đại diện hợp pháp kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích đánh giá hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo H và người đại diện hợp pháp và chấp nhận kháng cáo của bị cáo C và người đại diện hợp pháp, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 142/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên về hình phạt đối với các bị cáo:
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 101; các Điều 91, 17 và 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 02/3/2024).
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 101; các Điều 91, 17 và 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa và người đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Đơn kháng cáo của bị cáo H, bị cáo C và của người đại diện hợp pháp của các bị cáo làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận:
[3.1]. Khoảng 02 giờ ngày 01/3/2024, tại đoạn đường Q thuộc tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Khắc Hải Đ, Nguyễn Minh H4, Trần Minh H2, Nguyễn Thị H, Nguyễn Tiến A, Lê Bá H3 và Nguyễn Văn C điều khiển xe mô tô cùng nhau sử dụng hung khí là 01 thanh tuýp bằng kim loại dài 01m và 01 kiếm tự chế bằng kim loại dài 80cm thực hiện hành vi cướp tài sản là xe mô tô Honda Wave, màu sơn đen, biển kiểm soát 29M1-644.39 của anh Trương Văn S. Trị giá chiếc xe là 8.166.000đ.
[3.2]. Đến 10 giờ ngày 01/3/2024, Nguyễn Quốc C1 biết rõ chiếc xe mô tô biển kiểm soát 29M1- 644.39 là tài sản do nhóm Đ phạm tội mà có nhưng vẫn liên lạc, giao dịch bán chiếc xe cho Kim Văn T4. T4 biết chiếc xe do phạm tội mà có nhưng vì ham rẻ nên đồng ý mua với số tiền 4.250.000 đồng. Sau đó T4 bán chiếc xe trên được 5.500.000 đồng và tiêu xài hết. Toàn bộ số tiền bán chiếc xe được 4.250.000 đồng Đăng chia cho H, H4, Tiến A mỗi người 500.000 đồng, H2 2.000.000 đồng và giữ lại 500.000 đồng, còn 250.000 đồng thì thống nhất trả tiền cả nhóm đi ăn, uống nước.
[3.3]. Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị H và bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự với mức hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo và người đại diện Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo H, bị cáo C đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình các bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo H, C được các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn C có bà nội là Nguyễn Thị Đ1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Ba, có ông nội là Nguyễn Văn T7 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Nhì.
[4.3]. Tại cấp phúc thẩm đại diện hợp pháp của bị cáo C, bị cáo H xuất trình đơn có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện, trước khi phạm tội bị cáo và gia đình luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật, không có vi phạm pháp luật gì; đại diện hợp pháp bị cáo C xuất trình biên lai về việc đã nộp án phí hình sự sơ thẩm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm cần áp dụng cho bị cáo C và bị cáo H.
[5]. Trong vụ án này bị cáo C và bị cáo H phạm tội với vai trò đồng phạm thứ yếu, có vị trí vai trò không đáng kể trong vụ án; các bị cáo không phải là người rủ rê, không chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội, khi các bị cáo khác thực hiện hành vi đe dọa và dùng vũ lực ngay đối với bị hại anh S để cướp xe, bị cáo C và H chỉ chứng kiến, đứng nhìn, không có bất kỳ hành vi gì liên quan như hô hét đe dọa, dùng hung khí đánh bị hại hay dắt xe đi. Sau khi chiếm đoạt được xe, các bị cáo cũng không phải là người liên hệ, trao đổi bán xe, bị cáo C còn không tham gia việc bán xe, không được chia bất kỳ khoản tiền nào từ việc bán xe.
[5.1]. Chính sách pháp luật hình sự đối với các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, việc xử lý chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội, tuy nhiên các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, có khung hình phạt tù đến 15 năm, bản thân các bị cáo mặc dù tuổi đời còn rất trẻ, nhưng không tự rèn luyện tu dưỡng, mà ham chơi đua đòi, tụ tập hư hỏng dẫn đến có hành vi phạm tội, việc miễn trách nhiệm hình sự hay áp dụng một trong các biện pháp tư pháp không bảo đảm hiệu quả giáo dục và công tác đấu tranh phòng ngừa do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo.
[5.2]. Nhưng như phân tích ở trên bị cáo C và bị cáo H phạm tội với vai trò đồng phạm thứ yếu, có vị trí vai trò không đáng kể trong vụ án; bị cáo H là nữ giới, phạm tội khi vẫn là trẻ em (thời điểm phạm tội H được 15 tuổi 05 tháng 10 ngày), bị cáo C mới được 16 tuổi 10 tháng 16 ngày. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, có nơi cư trú ổn định rõ ràng; tại cấp phúc thẩm các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên đáng được khoan hồng.
[6]. Trên cơ sở đánh giá toàn diện vụ án, nội dung kháng cáo, do đó Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo yên tâm cải tạo, sửa chữa sai lầm sớm trở thành công dân có ích. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp đối với bị cáo C, đối với bị cáo H Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét.
[7]. Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.
[8]. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H và người đại diện hợp pháp; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C và người đại diện hợp pháp; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 142/2024/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên về hình phạt đối với bị cáo H và bị cáo C:
- Tuyên bố bị cáo bị cáo Nguyễn Thị H và bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Cướp tài sản”.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 101; các Điều 91, 17 và 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 02/3/2024).
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 101; các Điều 91, 17 và 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị H và bị cáo Nguyễn Văn C không phải chịu án phí phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Thành viên Hội đồng xét xử (đã ký) Nguyễn Vĩnh Thành Nguyễn Thị Thu Hiền |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Xuân Trọng |
Bản án số 122/2024/HS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về cướp tài sản
- Số bản án: 122/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn T. Hiền chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn cường
