Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/HS-ST

Ngày: 05-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Văn Trung
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Thường
Ông Nguyễn Viết Xứng

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Bình, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Mạnh - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 121/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Quách Văn T (tên gọi khác: T.P), sinh năm 1987; tại tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quách Minh P, sinh năm 1961 và con bà Bùi Thị C, sinh năm 1968; có vợ là Vũ Thị Hồng P, sinh năm 1998; có 01 con sinh năm 2018; Nơi cư trú: Thôn Thành Long, xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 14/4/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Anh Nguyễn Bảo C, sinh năm 1986; Địa chỉ: ấp 3, xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Quách Minh Ph, sinh năm 1961; Địa chỉ: ấp Cầu Hai, xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
  2. Ông Nguyễn Thương T, sinh năm 1988; Địa chỉ: khu phố Phú Mỹ, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
  3. Chị Vũ Thị Hồng Ph, sinh năm 1998; Địa chỉ: khu phố Bình Đức, phường Bình Hòa, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
  4. Bà Lê Thị H, sinh năm 1972; địa chỉ: ấp 4, xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 01/4/2010, Nguyễn Thương T (sinh năm 1988) cùng Phạm Công Lực (sinh năm 1988), Đinh Thanh Đức (sinh năm 1990) đến đám cưới nhà ông Phạm Hữu Thanh (sinh năm 1955) tại ấp 4, xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước chơi. Lúc này, trong đám cưới có Quách Văn T (sinh năm 1987) đang ngồi cùng Hoàng Văn H (sinh năm 1990). Do có mâu thuẫn với T từ trước nên T nói với Hào lát nữa sẽ đánh Tín. Sợ xảy ra đánh nhau trong đám cưới nên H nói lại với Lực và Tín biết. Khi nghe nói vậy thì Tín và Lực đi về, ra đến cổng thấy có nhiều người đang đứng, nghĩ bị nhóm của T chặn đánh, Tín gọi điện thoại nhờ Nguyễn Bảo C (sinh năm 1987) đến nói chuyện với T để giải hoà. Một lúc sau, C đến rồi cùng Tín vào trong đám cưới để gặp T nói chuyện, thấy nhóm của C vào T bỏ ra phía sau khu vực đám cưới tránh mặt. Do không thấy T nên nhóm của C đi ra ngoài đám cưới để đi về. Ra đến cổng, C đứng lại nói chuyện với ông Thanh chủ nhà. Khi thấy C đứng nói chuyện với ông Thanh thì T đi đến đống củi ở gần khu vực đám cưới lấy 01 con dao, cầm trên tay phải chạy đến chém nhiều cái vào người C gây thương tích, sau đó T cầm dao bỏ trốn. Còn C, được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước. Đến ngày 28/4/2010 C đến Cơ quan Công an trình báo. Ngày 22/10/2010, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, do hết thời hạn điều tra nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Phú đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với vụ án. Đến ngày 13/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Phú đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự. Quá trình điều tra, Quách Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Căn cứ biên bản giám định pháp y số 166 ngày 22/4/2010 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh Bình Phước, kết luận: Khả năng lao động của Nguyễn Bảo C bị giảm do thương tích gây nên hiện tại là 33%.

Tại Bản Cáo trạng số 121/CT-VKS ngày 24/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân (KSND) huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Quách Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự).

Tại phiên tòa, đại diện Viện KSND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giữ nguyên Cáo trạng số 121/CT-VKS ngày 24/10/2024, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Quách Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50, 54 Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo Quách Văn T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Các vấn đề khác đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định theo quy định pháp luật.

Sau khi nghe đại diện Viện KSND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước trình bày lời luận tội đối với bị cáo và kết luận đối với vụ án, tại phiên tòa, bị cáo Quách Văn T không tranh luận gì về phần tội danh, mức hình phạt và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Vì vậy, hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/NQ-QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cần áp dụng quy định của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giải quyết vụ án.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Quách Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện KSND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp kết luận giám định thương tích; lời khai người bị hại, người làm chứng, phù hợp với biên bản thực nghiệm điều tra, vật chứng vụ án cũng như những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguyên nhân chính dẫn đến vụ việc là để giải quyết mâu thuẫn cá nhân nên khoảng 20 giờ 30 phút ngày 01/4/2010, bị cáo Quách Văn T có hành vi dùng dao chém nhiều cái vào người của anh Nguyễn Bảo C, gây thương tích cho anh Cường với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 33% tại ấp 4, xã Đồng Tiến, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Hành vi của bị cáo đã khai nhận như trên đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự. Hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm gây tổn hại sức khỏe của anh Nguyễn Bảo C như đã phân tích ở trên đây là tình tiết định khung hình phạt quy định tại từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tật là 33% đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

[4] Hành vi mà bị cáo Quách Văn T đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng đến đời sống lành mạnh tại khu dân cư.

[5] Bị cáo Quách Văn T thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức đầy đủ và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc dùng con dao (hung khí nguy hiểm) chém nhiều nhát vào người bị hại sẽ gây tổn hại sức khoẻ cho bị hại, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng của họ và là hành vi trái pháp luật sẽ bị pháp luật nghiêm trị song do thái độ coi thường pháp luật, coi thường sức khoẻ của người khác nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như phân tích ở trên. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm, tù có thời hạn, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[6] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động đến gia đình bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả cho người bị hại; bị cáo là người dân tộc thiểu số, có hoản cảnh gia đình khó khăn, phạm tội lần đầu, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xét cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[7] Viện KSND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Quách Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Quan điểm của đại diện Viện KSND huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước trình bày tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, được chấp nhận.

[8] Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, truy tố và chuẩn bị xét xử, người bị hại anh Nguyễn Bảo C và gia đình bị cáo Quách Văn T bồi thường số tiền 130.000.000 đồng và đã thực hiện xong trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Anh Nguyễn Bảo C không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Đối với yêu cầu của chị Vũ Thị Hồng Ph đề nghị được nhận lại số tiền 50.000.000 đồng đã nộp để khắc phục hậu quả thay cho bị cáo Quách Văn T do gia đình đã bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của người bị hại. Do trách nhiệm dân sự đã được giải quyết xong, người bị hai không có yêu cầu gì thêm nên xét cần trả lại cho chị Vũ Thị Hồng Ph số tiền nói trên là phù hợp.

[10] Về xử lý vật chứng: Vật chứng không thu giữ được nên không xem xét xử lý.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Quách Văn T phải nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Quách Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  2. Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50, 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Quách Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 14/4/2024.

  3. Trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết lại do các bên đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại và thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại.
  4. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước trả cho chị Vũ Thị Hồng Ph số tiền 50.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 05104 ngày 07/10/2024.

  5. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Quách Văn T phải chịu 200.000 đồng.

Bị cáo Quách Văn T, ông Quách Minh Ph chị Vũ Thị Hồng Ph, bà Lê Thị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Bảo C, anh Nguyễn Thương T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Đồng Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Đồng Phú;
  • - PV06 - CA tỉnh Bình Phước;
  • - Công an huyện Đồng Phú ;
  • - TT lý lịch tư pháp - Sở TP tỉnh Bình Phước;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 122/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Quách Văn T bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 104 BLHS 1999
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger