|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 122/2024/HSST Ngày: 29 - 11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khoản
Bà Hồ Thị Xuân Thiều
-Thư ký phiên toà: Ông Lê Thanh Duy – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Chiều – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 114/2024/HSST ngày 25 tháng 10 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2024/QĐXX-HS ngày 15/11/2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn P, sinh năm 1988; tại Đồng Tháp; tên gọi khác: Không; HKTT: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nơi tạm trú: Tổ A, khu phố F, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm thuê; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn S, sinh năm 1956 và bà Phạm Thị M, sinh năm 1954; vợ: Huỳnh Thị Cẩm V, sinh năm 1990; có 02 người con: Phạm Quỳnh A, sinh năm 2010 và Phạm Thanh T, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ đó cho nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Công ty TNHH L; Địa chỉ: Khu phố C, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Đại diện theo ủy quyền: Ông Lâm Quốc B, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu phố H, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước ( có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước (có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 6/2016, Phạm Văn P mua mới 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh bạc tại cửa hàng xe máy Đặng Thế A1, địa chỉ: Phường M, thị xã C rồi làm giấy chứng nhận đăng ký xe được cấp biển số 66B1 318.57 do Phon đứng tên chủ sở hữu. Ngày 15/10/2019, P đến Công ty trách nhiệm hữu hạn T1) Lâm Gia Bình P1, địa chỉ: Khu phố C, phường M, thị xã C do anh Lâm Trọng N1, làm giám đốc “Kinh doanh dịch vụ cầm đồ, mua bán xe và cho thuê xe” để cầm cố xe mô tô biển số xe 66B1-318.57. Phon gặp anh Lâm Quốc B, sinh năm 1983 là Phó giám đốc công ty TNHH L nói muốn cầm cố xe mô tô, biển số xe 66B1-318.57 để vay tiền nhưng vẫn tiếp tục được sử dụng xe mô tô, biển số xe 66B1-318.57 thì anh B không đồng ý. Anh B nói P phải ký hợp đồng bán xe mô tô cho công ty L rồi ký hợp đồng thuê lại xe mô tô để sử dụng, trả tiền thuê xe hàng tháng. Hết thời hạn thuê xe, P trả lại xe mô tô cho công ty L, trong trường hợp P muốn mua lại xe mô tô thì trả lại cho công ty L số tiền đã bán xe mô tô trước đó, công ty L ký hủy hợp đồng mua bán thì P đồng ý.
Ngày 16/10/2019, P ký hợp đồng bán xe mô tô, biển số xe 66B1-318.57 cho anh B đại diện Công ty TNHH L với giá tiền 30.000.000 đồng, công chứng tại Văn phòng C, địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước. Sau đó, P ký hợp đồng thuê lại xe mô tô, biển số xe 66B1-318.57 của công ty L, tiền thuê 70.000 đồng/01 ngày, thời gian thuê là 2 tháng, trả tiền thuê xe đầu tháng, công ty TNHH L giữ giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, biển số xe 66B1-318.57. Sau đó, P nhận số tiền 30.000.000 đồng cùng xe mô tô, biển số xe 66B1-318.57 để sử dụng.
Đến khoảng cuối tháng 10/2019, do cần tiền tiêu tài cá nhân nên P sử dụng xe mô tô, biển số xe 66B1-318.57 thuê của công ty TNHH L đem đến cơ sở kinh doanh dịch vụ Cầm đồ Ngoãn, địa chỉ: Ấp B, thị trấn T, huyện H do anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1985 làm chủ cầm cố lấy số tiền 10.000.000 đồng, thời hạn cầm cố 01 tháng. Do P không chuộc lại xe mô tô, biển số xe 66B1-318.57 và quá thời hạn cầm cố nên anh N đã bán xe mô tô, biển số xe 66B1-318.57. Hết thời hạn thuê xe mô tô, biển số 66B1-318.57, công ty TNHH L không thấy P đến công ty trả tiền thuê xe cũng như trả lại xe mô tô, biển số xe 66B1-318.57 như thỏa thuận trong hợp đồng. Anh B đến gia đình của P tìm thì biết P đã bỏ nhà đi và không liên lạc được với P nên đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã C hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Quá trình kiểm tra, xác minh: Ngày 31/3/2020, Cơ quan CSĐT Công an thị xã C đã ra Thông báo truy tìm đối tượng số 08/TB-CSĐT đối với Phạm Văn P. Do truy tìm chưa được và chưa làm việc được với P, ngày 15/6/2020, Cơ quan CSĐT C đã ra Quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Ngày 10/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã C ra Quyết định phục hồi việc giải quyết nguồn tin về tội phạm đối với tố giác của anh B và ra Quyết định đình tìm đối với Phạm Văn P.
Bản kết luận định giá tài sản số 12/KLĐG-HĐĐGTS ngày 26/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã C, kết luận: Giá trị tài sản cần định giá là 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh bạc, biển kiểm soát: 66B1-318.57 tại thời điểm xảy ra vụ án là: 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng).
Tại Cơ quan CSĐT, Phạm Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên (Bút lục số 01-02, 19-26, 44-51, 52-54, 59-65, 66-74, 75-77, 78-79).
Về tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh bạc, biển kiểm soát: 66B1-318.57. Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được nên không đề nghị xử lý.
- - 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh bạc, biển kiểm soát: 66B1-318.57 đứng tên Phạm Văn P, được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH L là ông Lâm Quốc B yêu cầu Phạm Văn P phải bồi thường số tiền 27.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra truy tố P mới bồi thường 5.000.000 đồng và sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, P đã bồi thường thêm được số tiền 1.500.000 đồng nên yêu cầu P tiếp tục bồi thường cho Công ty TNHH L số tiền còn lại là 20.500.000 đồng (Hai mươi triệu năm trăm nghìn đồng);
Bản cáo trạng số 113/CT-VKSCT ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Phạm Văn P về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Tuy nhiên, bị cáo chưa thật sự thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, tại hồ sơ thể hiện sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú, nhưng tại phiên toà, bị cáo khai không bỏ trốn, lời khai của bị cáo là không thành khẩn nên bị cáo không được hưởng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự như Cáo trạng đã nêu phía trên. Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố nhưng không thừa nhận việc bị cáo bỏ trốn mà cho rằng bị cáo về quê ở Đồng Tháp chăm sóc cha.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình sai trái và rất hối hận. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo do bị cáo còn mẹ già và đang nuôi con đi học.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Do người có quyền lợi, nghĩa vụ có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, thì sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không trở ngại cho việc xét xử nên HĐXX tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Phạm Văn P là người đã thành niên, đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Ngày 16/10/2019, Phạm Văn P lợi dụng sự tin tưởng của công ty TNHH L cho thuê 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh bạc, biển kiểm soát: 66B1-318.57 trị giá 27.000.000 đồng để sử dụng. Sau đó, P đem đi cầm cố tại tiệm cầm đồ N do anh Nguyễn Văn N làm chủ để lấy số tiền 10.000.000 đồng sử dụng tiêu xài cá nhân rồi bỏ trốn. Hành vi của Phạm Văn P đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 113/CT-VKSCT ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
[3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội nhưng chưa thật sự ăn năn hối cải, lời khai tại phiên tòa còn vòng vo, bị cáo cho rằng không bỏ trốn mà chỉ về quê chăm sóc cha của bị cáo. Tuy nhiên, theo biên bản xác minh ngày 09/3/2020 tại nơi bị cáo đăng ký hộ khẩu thường trú và được cha bị cáo là ông Phạm Văn S xác nhận là: Sau khi có vợ ở tỉnh Bình Phước và sinh sống tại bên vợ cách đây khoảng được 07 năm nay thì P không về nhà, cũng không liên lạc được với P, P cũng không liên lạc được với gia đình (Bút lục số 80);
Ngoài ra, bị cáo cho rằng đã bồi thường số tiền 11.000.000 triệu đồng nhưng sau khi đối chất với đại diện bị hại thì bị cáo lại thừa nhận là mới bồi thường được 6.500.000 đồng. Như vậy, lời khai của bị cáo chưa thật sự trung thực. Hơn nữa, thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đến nay là đã 05 năm, là khoảng thời gian khá lâu nhưng bị cáo mới bồi thường cho bị hại số tiền bồi thường như trên là chưa đáng kể nên cần xem xét về áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự hiện hành về “tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả”;
Tại phiên tòa, bị cáo xin được hưởng án treo. Tuy nhiên, căn cứ vào quy định tại Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như đã nhận định ở trên nên bị cáo không đủ điều kiện để hưởng án treo theo quy định.
Do đó, căn cứ vào khung hình phạt quy định của Bộ luật hình sự về hành vi bị cáo đã thực hiện và hành vi của bị cáo là nguy hiểm đối với xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi trên thể hiện bị cáo xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự có quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH L yêu cầu bị cáo P tiếp tục bồi thường cho Công ty TNHH L số tiền bị thiệt hại còn lại là 20.500.000 đồng; Xét yêu cầu của bị hại là hợp pháp, phù hợp với các quy định tại các Điều 584; 585; 589 Bộ luật dân sự năm 2015 (BLDS), bị cáo P cũng đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với anh Nguyễn Văn N là chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ Ngoãn khi nhận cầm cố xe mô tô biển số 66B1-318.57 thì có bản pho tô Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 66B1-318.57 do Phon đứng tên chủ sở hữu và chứng minh nhân dân mang tên P. Do anh N không biết xe mô tô biển số 66B1-318.57 là của Công ty TNHH L thuê lại để sử dụng. Do vậy, không có cơ sở để xử lý.
Về thu giữ vật chứng: Chiếc xe mô tô biển số 66B1-318.57, Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 66B1-318.57 do Phon đứng tên chủ sở hữu. Do P không quay lại trả tiền đã nhận và tiền lãi cho anh N, nên anh N đã thanh lý chiếc xe sau khi hết thời hạn cầm cố, mà không còn nhớ rõ về số tiền đã thanh lý và bán cho ai? Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa có kết quả. Vì vậy, không thu giữ được vật chứng nên không có cơ sở để xử lý;
Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu xanh bạc, biển kiểm soát: 66B1-318.57 đứng tên Phạm Văn P, được lưu theo hồ sơ vụ án.
[8] Án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phạm Văn P 01( một) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ khi bắt bị cáo chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo bồi thường cho công ty TNHH L số tiền 20.500.000 đồng (hai mươi triệu, năm trăm nghìn đồng);
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Án phí dân sự sơ thâm bị cáo phải chịu 1.025.000 đồng (một triệu, không trăm hai mươi lăm nghìn đồng);
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Thúy |
6
Bản án số 122/2024/HSST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 122/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Văn Ph phạm tội " Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"
