Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Y

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/HS-ST

Ngày 31-10-2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đào Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Vũ Minh Đón

Thư ký phiên toà: Ông Đào Tiến Đạt - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 31/10/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 119/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Quàng Thị X, sinh năm 2003, nơi cư trú: Bản L, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn C và con bà Tòng Thị T; chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
  2. Lê Thị Yến N, sinh năm 2004, nơi cư trú: Xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Xuân Y; chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo X: Bà Nguyễn Thị T2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lưu Đình T3, sinh năm 1994; trú tại: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt

Người làm chứng: Chị Vương Thị S, sinh năm 1998; trú tại: Bản Q, xã T, huyện H, tỉnh Hà Giang; chị Hoàng Thị N1, sinh năm 2000; trú tại: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Hà Giang; anh Trương Văn T4, sinh năm 1994, trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

Người chứng kiến: Ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1967; trú tại: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quàng Thị X, sinh năm 2003, hộ khẩu thường trú: Bản L, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La và Lê Thị Yến N, sinh năm 2004 ở xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An đều thuê trọ của gia đình bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1939 tại thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Xong và N là nhân viên phục vụ tại các quán Karaoke nên thỉnh thoảng có sử dụng ma túy (tổng hợp).

Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 06/6/2024, X sử dụng điện thoại di động Iphone 12 Promax gọi điện qua ứng dụng Mesenger có tên “Ánh Tuyết” cho K (không xác định được họ, tên và địa chỉ) có tài khoản là “Kiệt P” để hỏi mua 02 viên ma túy (dạng K1) và 01 chỉ ma túy (dạng Ketamine), K đồng ý báo giá 2.200.000 đồng và sẽ mang ma túy đến phòng trọ của X. Khoảng 20 phút sau, K điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen, không nhớ biển số chở 01 nam thanh niên (không rõ họ, tên, tuổi địa chỉ) đi đến khu vực cổng phòng trọ của X rồi đưa cho Xong 01 chiếc khẩu trang màu hồng, bên trong có hình con gấu được quấn tròn, Xong mở ra kiểm tra thấy bên trong có 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong gói giấy này có 01 túi nilon màu trắng, miệng túi viền màu xanh và trong túi này có ma túy (Ketamine) và 02 viên kẹo hình thoi, màu nâu, X cầm gói ma túy, rồi đưa cho K số tiền 2.200.000 đồng. Sau đó, X mang ma túy (Ketamine, K1) về phòng trọ của mình rồi lấy tờ tiền 10.000 đồng cuộn lại thành ống hút, lấy vỏ đầu lọc của điếu thuốc lá Thăng Long quấn bên ngoài. Tiếp đó, X gọi điện cho N qua ứng dụng Messenger rủ sang phòng của X chơi, N đồng ý. Khi N đến phòng trọ của X, X bỏ khẩu trang bên trong có ma túy (Kẹo, K2) cho N xem và bảo N ở lại tí nữa cùng sử dụng ma túy, N đồng ý. Đến khoảng 01 giờ ngày 06/6/2024 thì có Lưu Đình T3, sinh năm 1994 ở thôn L, xã L, huyện Y, Vương Thị S, sinh năm 1998 ở thôn bản Qua 2, xã T, huyện H, tỉnh Hà Giang, Hoàng Thị N1, sinh năm 2000 ở thôn T, xã T, huyện H (khi bị bắt quả tang N1 khai là N2) và Trương Văn T4, sinh năm 1994 ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y đến chơi. Một lúc sau X rủ mọi người cùng sử dụng ma túy, tất cả đều đồng ý. Xong lấy ma túy (Kẹo, K2) vừa mua được của K ra để trên giường rồi cầm mỗi viên ma túy kẹo lên bẻ làm 03 phần (tổng là 06 phần), X cầm một phần, còn lại X chia đều cho T3, S, N1, T4 và N mỗi người một phần sử dụng bằng hình thức đưa trực tiếp vào miệng rồi uống bằng nước lọc hoặc nước ngọt. Sau khi T3, S, N1, T4, N và X sử dụng ma túy (Kẹo) xong thì X sử dụng điện thoại của X kết nối Blutooth với chiếc loa của X để ở đầu giường bật nhạc có âm thanh lớn để cho mọi người cùng nghe. Tiếp đó, X đi ra tắt điện phòng (nhưng vẫn để điện trong nhà vệ sinh hắt ra), chốt cửa phòng lại, đi ra trạn bát lấy 01 chiếc đĩa hình bầu dục màu trắng mang vào nhà vệ sinh dùng bật lửa đốt giấy làm nóng đĩa. Khi đĩa nóng Xong mang đĩa ra đặt trên giường đổ ma túy (Ketamine) vào đĩa, dùng chiếc thẻ ATM của Xong xào ma túy (Ketamine) mịn ra. Do trong phòng tối nên X lấy điện thoại của X ra bật đèn flash và bảo N cầm điện thoại soi sáng cho Xong xào ke và kẻ thành các đường chỉ nhỏ dài khoảng 04cm để hít vào mũi. Sau khi xào ma túy ke xong, X bê ma túy, ống hút đưa cho T3, còn N soi đèn flash cho T3 sử dụng ma túy (Ketamine) trước. T3 sử dụng một đầu ống hút cho vào mũi, một đầu còn lại đặt vào đường chỉ ma túy đã kẻ rồi hít thẳng qua đường mũi. Tiếp đó X lại bê đĩa ma túy, N soi đèn cho T4, N1, S, N và X sử dụng ma túy (Ketamine) bằng hình thức hít vào cơ thể qua đường mũi. Sau khi sử dụng ma túy xong thì T3, T4, N1, S, N và X nằm trong phòng nghe nhạc đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện Y đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu trên đệm cuối giường 01 chiếc đĩa sứ hình bầu dục màu trắng kích thước (22x15)xm, 01 thẻ ATM của Ngân hàng B màu xanh kích thước (8,5x5,5)cm, 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 túi nilon màu trắng viền miệng túi màu xanh, kích thước (2,5x2,5)cm đều bám dính chất tinh thể màu trắng, 01 chiếc bật lửa ga màu xanh cao 7,5cm, 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ kích thước (10x8)cm (niêm phong ký hiệu M1); T5 trên đệm đầu giường 01 chiếc loa hình tròn màu trắng đường kính 24cm; T5 của Quàng Thị X 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu gold lắp 01 sim nhà mạng Viettel số 0968.618.xxx (niêm phong ký hiệu ĐT1); T5 của Lê Thị Yến N 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xám lắp 01 sim nhà mạng Viettel số 0325.923.xxx (niêm phong ký hiệu ĐT 2) và Thu giữ của Lưu Đình T3 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu xanh lắp 01 sim nhà mạng V (niêm phong ký hiệu ĐT 3).

Ngày 06/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã cho Quàng Thị X, Lê Thị Yến N, Lưu Đình T3, Trương Văn T4, Vương Thị S và Hoàng Thị N1 đi xét nghiệm sinh hóa tại phòng khám Đ thuộc Công ty TNHH V1, kết quả: Xong dương tính với MDMA (thuốc lắc), THC (cần sa-bồ đà), MET (ma túy đá) và KET (ma túy tổng hợp), còn N, T3, T4, S và N2 dương tính với MDMA (thuốc lắc), MET (ma túy đá) và KET (ma túy tổng hợp).

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành khám xét chỗ ở của Quàng Thị X và Lê Thị Yến N tại thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, kết quả khám xét: Không thu giữ gì.

Tại Thông báo kết luận sơ bộ số: 420/KL-KTHS(MT) ngày 06/6/2024 và Bản kết luận giám định số: 420/KL-KTHS(MT), ngày 09/6/2024 của Phòng K4 - Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trên bề mặt đĩa sứ, thẻ ATM, trong lòng ống hút, trong túi nilon màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu M1, không xác định được khối lượng, là ma túy loại Ketamine.

H1 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu hoàn lại được niêm phong trong một niêm phong ghi số 420/KL-KTHS(MT), bên trong có 01 vỏ túi nilon màu trắng có viền màu xanh ở miệng túi, 01 đĩa sứ hình bầu dục màu trắng, 01 thẻ ATM màu xanh bề mặt có chữ QUANG THỊ XONG, 01 ống hút được quấn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng, 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Quá trình điều tra Quàng Thị X khai: Khoảng 21 giờ ngày 05/6/2024 X nhận được điện thoại của Lưu Đình T3 qua ứng dụng M nói: “Anh có bạn ở V xuống, lát anh với bạn anh xuống phòng em chơi nhé”, X hiểu T3 và bạn của T3 xuống phòng của X chơi ma túy, nên đồng ý. T3 nói: “Có chỗ nào lấy đồ hộ anh với”, X hiểu ý T3 hỏi có chỗ nào mua được ma túy không thì mua hộ T3, X đồng ý thì T3 bảo đến nhà T3, T3 đưa tiền để mua ma túy. Sau đó X mượn xe đạp điện (không nhớ mượn của ai và đặc điểm xe) ở khu trọ đến khu vực nhà T3 tại thôn L, xã L, huyện Y. Tại đây T3 đưa cho Xong 2.200.000 đồng và nói: “lấy hộ anh một chỉ ke và 02 viên kẹo”. Sau đó X đã liên lạc và mua ma túy của K 01 chỉ ke và 02 viên kẹo hết 2.200.000 đồng. Tuy nhiên, T3 không thừa nhận liên lạc với X nhờ mua ma túy, không đưa tiền cho Xong để đi mua ma túy và rủ T4, S và N1 đến phòng trọ của X sử dụng ma túy. Cơ quan điều tra đã cho Xong và T3 đối chất T3 không thừa nhận,

cơ quan điều tra tiến hành điều tra xác minh, do không đủ căn cứ nên không xử lý đối với T3.

Lưu Đình T3 khai: Ngày 05/6/2024 T3 dùng điện thoại Iphone XS màu trắng sử dụng ứng dụng Messenger liên lạc với X (nội dung không liên quan đến nhờ mua ma túy và sử dụng ma túy) T3 đã làm rơi mất, không biết rơi ở đâu nên cơ quan điều tra không thu hồi được.

Đối với đối tượng tên K (chưa rõ, họ, tên và địa chỉ), X khai đã bán ma túy cho Xong vào rạng sáng ngày 06/6/2024 tại khu vực phòng trọ của Xong ở thôn L, xã L, Cơ quan điều tra tiến hành rà soát xác minh chưa làm rõ được đối tượng tên K nên tiếp tục điều tra làm rõ giải quyết sau.

Đối với Lưu Đình T3, Vương Thị S, Trương Văn T4 và Hoàng Thị N1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 06/6/2024 tại phòng trọ của Quàng Thị X ở thôn L, xã L. Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với bà Nguyễn Thị D đã cho Xong thuê phòng trọ. Quá trình điều tra xác định bà D không biết X, N tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày 06/6/2024 tại phòng trọ của gia đình bà ở thôn L, xã L nên không đủ căn cứ xử lý đối với bà D.

Đối với Quàng Thị X khi xét nghiệm nước tiểu có tìm thấy chất ma MDMA (thuốc lắc), THC (cần sa-bồ đà), MET (ma túy đá) và KET (ma túy tổng hợp). Quá trình điều tra, X khai: Trước ngày 06/6/2024, X có sử dụng cần sa- bồ đà nhưng không nhớ thời gian địa điểm sử dụng nên không đủ căn cứ xử lý đối với X.

Về vật chứng: Đối với 01 chiếc đĩa sứ, 01 thẻ ATM, 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 túi nilon, 01 chiếc bật lửa ga, 01 mảnh giấy màu trắng, 01 chiếc loa, 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu gold lắp 01 sim đã thu giữ nêu trên. Quá trình điều tra xác định các vật và tài sản nêu trên là tài sản hợp pháp của Quàng Thị X đều sử dụng vào việc phạm tội. Hiện đã được niêm phong nhập kho vật chứng Công an huyện Y chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với chiếc khẩu trang bọc ma túy và điếu thuốc lá. Quá trình điều tra, X khai đã vứt đi nên cơ quan điều tra không thu giữ được.

Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax màu xám lắp 01 sim và 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu xanh lắp 01 sim. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax là tài sản hợp pháp của Lê Thị Yến N, còn 01 chiếc điện thoại di động Nokia là của Lưu Đình T3 không liên quan đến việc phạm tội. N và T3 đều có nhu cầu nhận lại tài sản nêu trên. Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng Công an huyện Y chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra Quàng Thị X và Lê Thị Yến N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.

Cáo trạng số 122/CT-VKS-YM ngày 10/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố Quàng Thị X và Lê Thị Yến N về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo X và bị cáo N thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồi xét xử, tuyên bố: Bị cáo Quàng Thị X và Lê Thị Yến N phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Quàng Thị X từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù, xử phạt bị cáo Lê Thị Yến N 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/6/2024, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí.

Người bào chữa cho bị cáo X đề nghị HĐXX xem xét hoàn cảnh của bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo X.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều ra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của những người làm chứng, biên bản vụ việc ngày 06/6/2024, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 06/6/2024 tại phòng trọ của Quàng Thị X ở thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, X đã cung cấp ma túy, sử dụng nơi trọ, chuẩn bị công cụ (là đĩa, bật lửa, thẻ cứng, ống hút), còn N soi đèn cho Xong sào ma túy K3, kẻ chỉ ma túy Ketamin để cho Lưu Đình T3, Vương Thị S, Trương Văn T4, Hoàng Thị N1 cùng với X và N sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo Quàng Thị X và Lê Thị Yến N đều có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép ma tuý cho nhiều nên phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, với tình tiết định khung là “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, làm gia tăng đối tượng

nghiện trong cộng đồng, gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác.

Trong vụ án này, bị cáo Quàng Thị X là người trực tiếp đi mua ma túy, chuẩn bị các công cụ (là đĩa, bật lửa, thẻ cứng, ống hút và địa điểm) để cùng với Lê Thị Yến N, Lưu Đình T3, Vương Thị S, Trương Văn T4 và Hoàng Thị N1 sử dụng trái phép chất ma túy nên có vai trò cao hơn N, giữ vai trò chính. Bị cáo Lê Thị Yến N đồng phạm giúp sức cho bị cáo X thực hiện hành vi phạm tội bằng việc soi đèn cho bị cáo X sào ma túy K3, kẻ chỉ ma túy Ketamin để cho những người còn lại sử dụng ma tuý nên có vai trò thấp hơn bị cáo X.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa cả hai bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; mẹ bị cáo N và bị cáo X có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5]. Quyết định hình phạt: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh rất khó khăn, là nữ, tuổi đời rất trẻ. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, hoàn cảnh gia đình của các bị cáo; HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ.

[6]. Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về biện pháp tư pháp:

  • - Đối với 01 điện thoại Iphone 11 promax thu của bị cáo N và 01 chiếc điện thoại Nokia 105 thu của anh Lưu Đình T3 không liên quan đến hành vi phạm tội cầm trả lại cho chủ sở hữu.
  • - Đối với 01 chiếc đĩa sứ, 01 thẻ ATM, 01 túi nilon, 01 chiếc bật lửa ga, 01 mảnh giấy màu trắng và 01 sim bên trong điện thoại di động Iphone 12 Promax là các vật dụng liên quan đến hành vi phạm tội, không còn giá trị nên cho tịch thu cho tiêu huỷ.
  • - Đối 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 chiếc loa màu trắng và 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Promax liên quan đến hành vi phạm tội tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[8] Về án phí: Bị cáo X là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, có đơn xin miễn án phí, HĐXX miễn án phí cho bị cáo X; bị cáo Lê Thị Yến N phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Thị X và bị cáo Lê Thị Yến N phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
  3. Xử phạt:
    • Bị cáo Quàng Thị X 07 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/6/2024.
    • Bị cáo Lê Thị Yến N 07 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/6/2024.
  4. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp giấy niêm phong mẫu hoàn lại sau giám định, bên trong có 01 vỏ túi nilon màu trắng có viền màu xanh ở miệng túi, đĩa sứ hình bầu dục màu trắng, 01 thẻ ATM màu xanh bề mặt có chữ Quàng Thị X, 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định. Bên ngoài hộp niêm phong ghi ký hiệu 420/KL-KTHS (MT); 01 chiếc bật lửa gas màu xanh cao 7,5cm; 01 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, kích thước (10x8)cm và 01 chiếc thẻ sim của nhà mạng Viettel trên mặt sim có dãy số 89840 48000 31460 6141 bên trong điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax.
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 ống hút được quấn bằng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng; 01 chiếc loa hình tròn màu trắng, đường kính 24 cm và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu gold, số IMEI: 35 9015638731989 được niêm phong trong phong bì dán, kín ký hiệu "Xong".
    • - Trả bị cáo Lê Thị Yến N: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, số IMEI: 35 2840115280870, bên trong có lắp 01 chiếc thẻ sim của nhà mạng Viettel trên mặt sim có dãy số 8984 0480 0032 1752 684 được niêm phong trong phong bì dán kín, ký hiệu “Nhi”.
    • - Trả anh Lưu Đình T3, sinh năm 1994; trú tại: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, số IMEI: 354492092753228, bên trong lắp 01 chiếc thẻ sim của nhà mạng Viettel trên mặt sim có dãy số 89840 48000 33624 3581, được niêm phong trong phong bì dán kín, ký hiệu “Thảo”.
  5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Thị X, bị cáo Lê Thị Yến N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND huyện Y;
  • - Công an huyện Y;
  • - Chi cục THADS huyện Y;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 122/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger