Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/HS-ST

Ngày: 31/10/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mi Mi

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Minh

2. Bà Đào Thị Mộng Trinh

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Kim Quy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Xuân T – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 113/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST-HS ngày 03/10/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/HSST-QĐ ngày 18/10/2024, đối với bị cáo:

NGUYỄN ĐỖ PHÚC L

- sinh năm 2004 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: sinh viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L1 và bà Đỗ Thị T1; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo chấp hành Bản án hình sự phúc thẩm số 89/2023/HSPT ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận theo Quyết định thi hành án phạt tù số 51/2023/QĐ-CA ngày 15/9/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc từ ngày 20/9/2023. Tại Quyết định số 55/2024/HS-GĐT ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 89/2023/HSPT ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận và Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2023/HS-ST của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc. Ngày 18/9/2024, Chánh án Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc ban hành quyết định hủy bỏ quyết định thi hành hình phạt tù số 51/2023/QĐ-CA ngày 15/9/2023 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận và tiếp tục bị bắt, tạm giam ngày 20/9/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện H. Bị cáo có mặt.

Bị hại:

  • Ông Đặng Văn S, sinh năm: 1956 (đã chết)
  • Bà Lê Thị L2, sinh năm 1962 (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của các bị hại:

  1. Bà Đặng Thị Mỹ L3 - Sinh năm 1982;
  2. Ông Đặng Tiến V - Sinh năm 1984;
  3. Ông Đặng Quốc H - Sinh năm 1986;
  4. Ông Đặng Minh H1 - Sinh năm 1988;
  5. Ông Đặng Tiến T2 - Sinh năm 1990;
  6. Bà Đặng Ngọc Kim Á - Sinh năm 1993;

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Nguyễn Văn L1 - Sinh năm 1963 (có mặt)
  2. Bà Đỗ Thị T1 - Sinh năm 1966 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận

Người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị S1 - sinh năm 1967 (vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Minh H2 - sinh năm 1964 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã H - H, tỉnh Bình Thuận.

  1. Ông Lê Vũ T3 - Sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ sáng ngày 25/01/2023, Nguyễn Đỗ Phúc L có giấy phép lái xe mô-tô theo quy định, sau khi làm việc tại quán ăn “Phố Đêm” ở đường H thuộc thành phố P, tỉnh Bình Thuận, L điều khiển xe mô-tô, biển số 86B3-955.02 (xe do L làm chủ sở hữu) chạy theo hướng P - H đi về nhà L trong trạng thái có rượu bia, nồng độ cồn trong máu là 131mg/100ml (do tối ngày 24/01/2023 rạng sáng ngày 25/01/2023 sau khi làm xong L cùng bạn bè ăn và có uống 1 vài ly bia (theo lời khai của L). Khi đến đoạn Km 02+850m đường ĐT 718 thuộc thôn Đ, xã H, huyện H, do không làm chủ được tay lái nên L đã để xe mô-tô do mình điều khiển đi sang phần đường bên trái (phần đường ngược chiều) theo chiều đi của L và tông vào xe mô tô, biển số 86B3-493.82 do ông Đặng Văn S, sinh năm 1956, điều khiển chở bà Lê Thị L2, sinh năm 1962 trú cùng thôn Đ, xã H (vợ ông S) ngồi phía sau, đi hướng ngược chiều đến gây tai nạn làm cả 02 xe và người té ngã xuống đường. Hậu quả: Bà Lê Thị L2 đã tử vong tại chỗ, ông Đặng Văn S được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh B cấp cứu, nhưng do vết thương quá nặng ông S cũng đã tử vong ngay sau đó, Nguyễn Đỗ Phúc L bị thương nhẹ.

* Tại bản kết luận giám định số 112 ngày 22/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận giám định về phần đường, chiều hướng chuyển động của xe mô tô 86B3-955.02 và 86B3-493.82 và xác định lốp trước của xe mô tô 86B3-955.02 bị nổ trước hay sau khi xảy ra tai nạn như sau:

  • Xe mô tô biển số 86B3-955.02 va chạm với xe mô tô 86B3-493.82 tại phần đường bên phải theo hướng M - P.
  • Xe mô tô biển số 86B3-493.82 di chuyển trên đường theo hướng từ xã M đi P; xe mô tô biển số 86B3-955.02 di chuyển theo hướng ngược lại phía trước, bên trái.
  • Lốp bánh xe trước của xe mô tô biển số 86B3-955.02 không bị nổ, thủng; Ruột bánh xe trước của xe mô tô biển số 86B3-955.02 bị thủng khi va chạm với xe mô tô biển số 86B3-493.82.

Biên bản khám nghiệm hiện trường kèm theo sơ đồ hiện trường do Công an huyện H lập lúc 07 giờ 35 phút ngày 25/01/2023 tại Km 02+850m, đường Đ thuộc thôn Đ, xã H được thể hiện:

  • Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, nằm trong khu vực có đoạn đường cong và ngã 3, có vạch sơn màu trắng không liên tục phân chia mặt đường thành 2 phần đường xe chạy ngược chiều, mặt đường được rãi nhựa bằng phẳng rộng 6,5m, phần đường bên phải hướng Mương Mán đi H rộng 3,25m. Nơi xảy ra tai nạn có biển báo nguy hiểm: “Nhiều chỗ ngoặc nguy hiểm”, “đi chậm”, “giao nhau với đường không ưu tiên”, hai bên đường có nhà dân sinh sống tập trung.
  • Chọn mép đường bên phải hướng Mương Mán đi H làm chuẩn để đo như sau:
    • Xe mô tô biển số 86B3-955.02 được đánh số (1) trên sơ đồ hiện trường: Sau tai nạn xe nằm ngã nghiêng bên trái, vị trí xe (1) nằm trên phần đường phải hướng M - H, đầu xe quay hướng đi M, đuôi xe quay hướng đi H, tâm trục bánh trước và sau cách mép đường chuẩn lần lượt là: 1,55m và 0,87m.
    • Xe mô tô biển số 86B3-493.82 được đánh số (2) trên sơ đồ hiện trường: Sau khi xảy ra tai nạn xe (2) nằm ngã nghiêng bên phải trên phần đường phải, vị trí xe nằm trên phần đường phải hướng Mương Mán đi H, đầu xe quay về hướng H, đuôi xe quay về hướng M, tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn là 0,17m, cách tâm trục bánh sau xe mô tô 86B3-955.02 là 0,70m, cách tâm đường nhánh bê tông đi liên thôn xã H là 7,6m, tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 0,6m, cách tâm trục bánh trước xe mô tô 86B3-955.02 là 1m, cách tâm đường nhánh bê tông đi liên thôn X là 6,8m, cách đầu thi là 1,35m.
    • Tử thi được đánh số (3) trên sơ đồ hiện trường: Tử thi được xác định là Lê Thị L2 sau khi xảy ra tai nạn tử vong tại hiện trường, vị trí tử thi nằm trên phần đường phải hướng M - H, tư thế nằm ngữa, đầu quay hướng M, chân quay hướng đi H, đầu cách mép đường chuẩn là 0,4m, dưới đầu có nhiều máu, chân trái cách mép đường chuẩn là 1,05m.
  • Lấy điểm mốc là cọc tiêu số 9/2 bên trái đường hướng Mương M-H làm chuẩn để đo đến tâm trục bánh trước và sau xe mô tô biển số 86B3 - 493.82 lần lượt là 31,2m và 32,2m.

Các biên bản khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông do Công an huyện H lập ngày 30/01/2023 đối với xe mô tô biển số 86B3-493.82 và 86B3-955.02 được thể hiện như sau:

  • * Xe mô tô biển số 86B3 - 493.82:
  • Yếm chắn gió bên phải bị bể nứt dài 22cm; Hệ thống đèn chiếu sáng phía trước bị bung mất; Gương chiếu hậu bên trái bị bung mất; Mặt nạ phía trước bị bung mất; Yếm chắn gió bên trái bị bể nứt kích thước (8x28)cm; Ba ga phía trước bằng kim loại bị cong vênh có hướng từ trước ra sau, từ phải qua trái; Dè chắn bùn bánh trước bị vỡ hoàn toàn; Chắn ba cong vênh có hướng từ trước ra sau, từ phải qua trái; Hai phuộc trước bị cong có hướng từ trước ra sau, từ phải qua trái; Bánh xe trước bị cong vênh biến dạng và gãy một số căm xe; Đầu cần số phía trước bên trái bị cong có hướng từ trước ra sau; Gát chân sau bên trái bị bung mất.

  • * Xe mô tô biển số 86B3 - 955.02:
  • Ốp nhựa đầu xe phía trước bị vỡ kích thước (7x20)cm; Gương chiếu hậu bên phải bị bể kính ốp nhựa; Gương chiếu hậu bên trái bị đẩy lệch khỏi vị trí ban đầu; Yếm chắn gió bên phải bị bung rời khỏi vị trí ban đầu và bị bể nứt dài 11cm; Đ xi nhan bên trái bung rời khỏi vị trí ban đầu và vỡ ốp nhựa kích thước (17x5)cm; Yếm chắn gió bên trái bị bể nứt kích thước (13x27)cm; Mũi dè chắn bùn phía trước bánh trước bị bể vỡ nứt kích thước (16x32)cm; Chắn ba bánh xe trước bị đẩy cong từ trước ra sau và từ phải sang trái làm bánh xe trước áp sát vào lốc máy; H3 phuộc trước bị cong có hướng từ phải sang trái; Vành (niềng) xe bên trái bánh trước bị bể kích thước (4x32)cm và bị cong vênh, săm (ruột) bánh trước có vết thủng dài làm xì hết hơi.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 103/PY-PC09 ngày 20/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận nguyên nhân chết của ông Đặng Văn S như sau:

Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương sọ não; trán phải biến dạng, sờ nắn có tiếng lạo xạo bất thường; tổ chức dưới da bầm dập, tụ máu lan tỏa, vỡ sập xương sọ trán phải, phức tạp; xuất huyết não; Xây xát da nông vùng giữa trán, gối phải và cẳng chân trái. Nguyên nhân chết: Shock chấn thương nặng không hồi phục do chấn thương sọ não. Nồng độ cồn trong máu của Đặng Văn S là 0,47mg/100ml.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 102/PY-PC09 ngày 20/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận nguyên nhân chết của bà Lê Thị L2 như sau:

Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương vùng cổ: Cổ trái phù nề biến dạng, bầm tụ máu quanh cổ. Gãy trật khớp đốt sống cổ C4-C5 ; Gãy kín cung xương gò má phải; Gãy kín cung xương hàm dưới; Vết thương vùng mu bàn tay phải. Nguyên nhân chết: Shock chấn thương nặng không hồi phục do gãy trật khớp đốt sống cổ C4-C5/ đa chấn thương.

* Tại Công văn số 131/BVBT-KHTH ngày 03/02/2023 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh B, về việc: Cung cấp kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Đỗ Phúc L như sau: Nồng độ cồn trong máu Nguyễn Đỗ Phúc L là 131mg/100ml máu.

Vật chứng thu giữ và kết quả xử lý:

  • 02 xe mô-tô biển số 86B3 - 493.82 và biển số 86B3 - 955.02 cùng với giấy chứng nhận đăng ký của 02 xe mô-tô, sau khi tạm giữ và làm rõ. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H đã ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả lại cho Nguyễn Đỗ Phúc L và ông Đặng Tiến V (con của ông S, bà L2) theo đúng quy định.
  • Riêng, 01 giấy phép lái xe mô-tô hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 19/7/2022 cho Nguyễn Đỗ Phúc L, được chuyển theo cùng hồ sơ vụ án.

Về dân sự:

Tại bản án số 55/2023/HSST ngày 15/5/2023 thì gia đình bị cáo Nguyễn Đỗ Phúc L đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình các bị hại với tổng số tiền 103.000.000đồng. Tại phiên Tòa sơ thẩm ngày 15/5/2023, ông Đặng Tiến V (là con ruột ông S, bà L2) đại diện gia đình các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Tòa án không giải quyết. Đến khi xét xử phúc thẩm đại diện các bị hại yêu cầu bồi thường thêm 150.000.000 triệu đồng chưa được giải quyết. Hiện nay, Tòa án sơ thẩm giải quyết lại thì phía đại diện hợp pháp của các bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng cộng 288.000.000đồng bao gồm: Chi phí mai táng cho các bị hại, Chi phí cúng kính phục vụ cho đám tang, cúng kính tuần, thất là 168.000.000đồng; Tổn thất tinh thần cho 06 người con là 120.000.000đồng. Bị cáo L đã bồi thường trước đó tổng là 106.000.000đồng, nay tiếp tục yêu cầu bồi thường thêm là 182.000.000đồng nhưng phía đại diện hợp pháp của các bị hại xét thấy hoàn cảnh của bị cáo L khó khăn nên tự nguyện giảm cho bị cáo 100.000.000 đồng, số tiền còn lại yêu cầu bị cáo L tiếp tục bồi thường là 82.000.000đồng. Ngoài ra, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Bị cáo L đồng ý theo yêu cầu của các đại diện bị hại là tiếp tục bồi thường số tiền còn lại 82.000.000đồng.

Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKSHTB ngày 28/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố: Bị cáo Nguyễn Đỗ Phúc L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Đỗ Phúc L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm b, đ Khoản 2 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Nguyễn Đỗ Phúc L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về dân sự: Áp dụng Khoản 2 Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 589, Điều 591, Điều 357 Bộ luật dân sự.

Bị cáo Nguyễn Đỗ Phúc L phải tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại tổng cộng 82.000.000đồng.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo ra ngoài đi làm trả tiền cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với các nhân chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ, được cơ quan điều tra lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, sự vắng mặt của những người trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đỗ Phúc L khai nhận về hành vi phạm tội của bị cáo đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại Tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan trong vụ tai nạn, biên bản khám nghiệm tử thi và các biên bản điều tra là phù hợp. Đủ căn cứ pháp luật để khẳng định: Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 25/01/2023, Nguyễn Đỗ Phúc L có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô-tô biển số 86B3 -955.02 trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà nồng độ cồn trong máu là 131mg/100ml, đi theo hướng P - H, khi đến đoạn Km 02 + 850m đường ĐT 718 thuộc thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận, bị cáo L điều khiển xe mô-tô biển số 86B3 - 955.02 chạy lấn qua phần đường ngược chiều tông vào xe mô-tô biển số 86B3 - 493.82 do ông Đặng Văn S điều khiển chở vợ là bà Lê Thị L2 ngồi phía sau hướng ngược chiều chạy đến trên phần đường bên phải theo hướng H - P gây tai nạn. Hậu quả bà Lê Thị L2 đã tử vong tại chỗ, ông Đặng Văn S được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh B cấp cứu, nhưng do vết thương quá nặng ông S cũng đã tử vong ngay sau đó, bị cáo L bị thương nhẹ.

Hành vi của bị cáo L do không tuân thủ các quy định của pháp luật khi tham gia giao thông đường bộ, điều khiển xe mô tô tuy có giấy phép lái xe nhưng tham gia giao thông đường bộ trong tình trạng có sử dụng rượu, bia nồng độ cồn trong máu là 131mg/100ml đi trong đoạn đường có biển báo nguy hiểm và đi sai phần đường quy định nên đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ 2008, khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia số 44/2019/QH14 ngày 14/6/2019 và khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT – BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông trên đường bộ, hậu quả làm chết hai người. Do đó, đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b, đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo L khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi do bị cáo gây ra, gia đình bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình bị hại, bị cáo có người thân là liệt sỹ, người có công với nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt:

Bị cáo L có giấy phép lái xe được học tập đầy đủ các quy định về Luật giao thông đường bộ nhưng khi tham gia giao thông không tuân thủ triệt để các quy định đó. Cụ thể sử dụng rượu, bia nồng độ cồn trong máu vượt quá quy định, về đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi vi phạm của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng và phạm tội với lỗi vô ý. Nguyên nhân xảy ra tai nạn được xác định do lỗi của bị cáo gây ra. Hội đồng xét xử xét, cần thiết phải lên cho các bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi và hậu quả do các bị cáo gây ra, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, tại phiên Tòa các đại diện hợp pháp của bị hại đều xác định bị hại (Sáu) khi sử dụng xe mô-tô biển số 86B3 - 493.82 không có giấy phép lái xe, đây cũng là phần lỗi của phía bị hại.

Đối với mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định khi lượng hình.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn gia đình bị cáo L đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình các bị hại với tổng số tiền 106.000.000đồng. Tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay, phía đại diện hợp pháp của các bị hại bà L3, ông V, ông H, ông H1, ông T2 và bà Á yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng cộng 288.000.000đồng bao gồm: Chi phí mai táng cho các bị hại; Chi phí cúng kính phục vụ cho đám tang, cúng kính tuần, thất tổng cộng là 168.000.000đồng; Tổn thất tinh thần cho 06 người con là 120.000.000đồng. Quá trình diễn biến tại phiên Tòa, phía đại diện hợp pháp của các bị hại bà L3, ông V, ông H, ông H1, ông T2 và bà Á xét thấy hoàn cảnh của bị cáo L khó khăn nên tự nguyện giảm cho bị cáo 100.000.000 đồng. Do đó, chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường tổng cộng 188.000.000đồng bao gồm: Chi phí mai táng cho các bị hại, cúng kính phục vụ cho đám tang, cúng kính tuần, tổn thất tinh thần. Bị cáo L đã bồi thường trước đó 106.000.000đồng, nay tiếp tục yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm là 82.000.000đồng. Ngoài ra, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Bị cáo L đồng ý theo yêu cầu của các đại diện bị hại là tiếp tục bồi thường số tiền còn lại 82.000.000đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy việc các đại diện hợp pháp của bị hại và bị cáo tự nguyện thỏa thuận như trên là hoàn toàn tự nguyên, phù hợp pháp luật nên công nhận.

[8] Về xử lý vật chứng:

Xe mô tô biển số 86B3 - 493.82 và xe mô tô biển số 86B3 - 955.02 cùng với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện H đã giao trả lại cho bị cáo L và ông Đặng Tiến V là phù hợp với quy định pháp luật nên Tòa không xem xét giải quyết.

Đối với 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 19/7/2022 cho Nguyễn Đỗ Phúc L, gia đình bị cáo đã nhận đầy đủ nên Tòa không xem xét giải quyết.

[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đỗ Phúc L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, đ khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự 2015; Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Khoản 1 Điều 586, Điều 591, Điều 593 và Điều 601 Bộ luật dân sự 2015.

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đỗ Phúc L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Nguyễn Đỗ Phúc L 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và các đại diện hợp pháp của bị hại như sau:

Nguyễn Đỗ Phúc L phải bồi thường cho các đại diện hợp pháp của bị hại gồm bà L3, ông V, ông H, ông H1, ông T2 và bà Á số tiền tổng cộng 188.000.000đồng (Một trăm tám mươi tám triệu đồng) bao gồm: chi phí mai táng, chi phí cúng kính phục vụ cho đám tang, tổn thất tinh thần. Bị cáo L đã bồi thường trước đó là 106.000.000 đồng, số còn lại 82.000.000 đồng (T4 mươi hai triệu đồng) bị cáo tiếp tục bồi thường.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Đỗ Phúc L phải nộp 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.100.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/10/2024). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND huyện HTB;
  • - Công an huyện HTB;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mi Mi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự

  • Số bản án: 122/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger