|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 122/2024/HS-ST Ngày: 28 - 10 -2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Khắc Vũ;
Ông Lưu Văn Toan;
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lê Hằng Nga - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Ea H'leo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo tham gia phiên tòa: Ông Phan Đình Toàn - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện Ea H'leo mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 118/2024/HSST, ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 120/2024/QĐXXST-HS ngày 15/10/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị O;
giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20/6/1988, tại tỉnh Đắk Lắk; CCCD số: 0662188013167, cấp ngày 28/6/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ C; Nơi thường trú: Thôn C, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ làm tóc; Trình độ học vấn: 11/12; cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1957; mẹ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1966; chồng: Võ Xuân H, sinh năm 1981; Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E bắt tạm giữ từ ngày 26/6/2024, đến ngày 05/7/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Hoàng Thị Như N, sinh năm 1994. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn E huyện E, tỉnh Đắk Lắk – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Bà Quách Thị Bích L, sinh năm 1972. Địa chỉ: tổ dân phố F, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Bà Nguyễn Hồng T2, sinh năm 1982. Địa chỉ: thôn B, xã D, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Bà Đào Thị Kiều T3, sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn E, tỉnh Đắk Lắk – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Bà Hoàng Thị T4, sinh năm 1979. Địa chỉ: thôn B, xã E, huyện E, Đắk Lắk – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu năm 2021, thấy có nhiều người dân có nhu cầu vay tiền để lo công việc nên Nguyễn Thị O, nảy sinh ý định cho người khác vay tiền với lãi suất cao để kiếm lời. Khi khách có nhu cầu vay tiền thì sẽ liên hệ với O qua số điện thoại 0968.449.xxx hoặc thông qua ứng dụng mạng xã hội Zalo có tên “Vy Oanh". Sau khi thống nhất khoản vay, cách thức vay và lãi suất. Tùy từng trường hợp, O sẽ viết vào hợp đồng đã soạn sẵn nội dung thông tin của bên vay, bên cho vay và số tiền vay, sau đó yêu cầu người vay ký tên, rồi O cất giữ hợp đồng này hoặc thỏa thuận bằng miệng với nhau. Khi đến hạn trả tiền lãi thì người vay sẽ chủ động gặp O để trả tiền mặt hoặc chuyển khoản vào số tài khoản 0109788605, Ngân hàng TMCP Đ và tài khoản số 0968449072, ngân hàng T5 (OCB) mang tên Nguyễn Thị O. Hình thức cho vay là vay đứng (giữ nguyên tiền gốc, trả tiền lãi theo ngày) và vay góp (đóng tiền gốc và lãi theo ngày, thời hạn vay trong vòng 30 ngày); sau khi người vay trả tiền cho O, O lại tiếp tục xoay vòng sử dụng số tiền trên cho người khác vay hoặc cho chính người vừa vay tiền, vay lại số tiền đã vay. Khi cho vay, O thỏa thuận mức lãi suất từ 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày đến 6.666 đồng/1.000.000 đồng/ngày, tương ứng với mức lãi suất từ 109,5 %/năm đến 243,33 %/năm, cao gấp 5,47 lần đến 12,16 lần mức lãi suất cao nhất của Nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Với cách thức như trên, trong thời gian từ tháng 6/2021 đến tháng 6/2024, Nguyễn Thị O đã sử dụng số tiền gốc là 164.800.000 đồng cho 05 người vay tiền, cụ thể như sau:
1. Bà Hoàng Thị Như N vay 03 lần:
+ Lần thứ nhất: Vào ngày 29/6/2021, vay số tiền 10.000.000 đồng, theo hình thức vay trả góp, thời hạn vay 30 ngày, với mức lãi suất là 2.000.000 đồng/30 ngày (lãi suất 243,33%/năm, hằng ngày N phải đóng cho O số tiền 400.000 đồng,thành số tiền 12.000.000 đồng). Tổng số tiền lãi O đã thu của N là 2.000.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 164.383,562 đồng (20%/365 ngày x 10.000.000 đồng x 30 ngày). O đã thu lợi bất chính số tiền là 2.000.000 đồng - 164.383,562 đồng = 1.835.616,44 đồng.
+ Lần thứ hai: Vào tháng 02/2023, vay số tiền 10.000.000 đồng, theo hình thức vay trả góp, thời hạn vay 30 ngày, với mức lãi suất là 2.000.000 đồng/30 ngày (lãi suất 243,33%/năm, hằng ngày N phải trả cho O số tiền 400.000 đồng, thành số tiền 12.000.000 đồng). Từ tháng 02/2023 đến tháng 11/2023, bà N đã vay của O tổng cộng 10 lần (sau khi trả xong gốc và lãi của khoản vay trước thì N mới tiếp tục vay lại, mỗi lần cho vay lại thì O sử dụng số tiền gốc 10.000.000 đồng đã thu được của N trước đó để cho vay). Tổng số tiền lãi O đã thu của N là 20.000.000 đồng (10 lần x 2.000.000 đồng). Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 1.643.835,62 đồng (20%/365 ngày x 10.000.00 đồng x 10 lần). O đã thu lợi bất chính số tiền là 20.000.000 đồng - 1.643.835,62 đồng = 18.356.164,4 đồng.
+ Lần thứ ba: Vào tháng 5/2024, vay số tiền 10.000.000 đồng, theo hình thức vay trả góp, thời hạn vay 30 ngày, với mức lãi suất là 2.000.000 đồng/30 ngày (lãi suất 243,33%/năm, hằng ngày N phải trả cho O số tiền 400.000 đồng, thành số tiền 12.000.000 đồng). Đến đầu tháng 6/2024, sau khi trả xong thì N tiếp tục vay lại của O số tiền 10.000.000 đồng (hình thức và mức lãi suất như trên), O sử dụng số tiền 10.000.000 đồng đã thu của N để cho vay lại. Tổng số tiền lãi O đã thu của N là 3.533.333 đồng (tính đến khi bị phát hiện thì N đang còn nợ O 07 ngày tiền góp x 400.000 đồng = 2.800.000 đồng, trong đó: Tiền gốc: 2.333.333,33 đồng; tiền lãi: 466.666,667 đồng). Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 290.410,959 đồng (20%/365 ngày x10.000.000 đồng x 53 ngày). O đã thu lợi bất chính số tiền là 3.533.333 đồng - 290.410,959 đồng = 3.242.922,04 đồng.
Tổng số tiền lãi O đã thu của bà N là 25.533.333 đồng; Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 2.098.630,14 đồng. O thu lợi bất chính tổng số tiền là: 25.533.333 đồng - 2.098.630,14 đồng = 23.434.702,9 đồng. Bà N đang nợ O số tiền 2.800.000 đồng, trong đó: Tiền gốc 2.333.333,33 đồng; tiền lãi: 466.666,667 đồng.
2. Bà Quách Thị Bích L vay 04 lần:
+ Lần thứ nhất: Vào tháng 6/2021 vay số tiền 2.600.000 đồng với hình thức vay góp, thời hạn vay 30 ngày, với lãi suất 400.000 đồng/30 ngày (lãi suất 187,18%/năm, hằng ngày L phải trả cho O số tiền 100.000 đồng, thành số tiền 3.000.000 đồng). Khi trả hết khoản vay trên, bà L tiếp tục vay thêm của O 02 lần nữa, mỗi lần vay là 2.600.000 đồng, với lãi suất 400.000 đồng/30 ngày. Cả 02 lần vay sau O đều sử dụng số tiền 5.200.000 đồng đã thu của bà L trước đó để cho vay lại. Tổng số tiền lãi O đã thu của bà L là 1.200.000 đồng (03 x 400.000 đồng). Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 128.219,178 đồng (20%/365 ngày x 2.600.000 đồng x 30 ngày x 03 lần). O đã thu lợi bất chính số tiền là 1.200.000 đồng -128.219,178 đồng = 1.071.780,82 đồng.
+ Lần thứ hai: Vào tháng 10/2021 vay của O số tiền 5.200.000 đồng, theo hình thức vay góp, thời hạn vay 30 ngày, với lãi suất 800.000 đồng/30 ngày (lãi suất 187,18%/năm, hằng ngày L phải trả cho O số tiền 200.000 đồng, thành số tiền 6.000.000 đồng). Khi đóng hết khoản vay trên, bà L tiếp tục vay thêm của O 03 lần nữa, với mỗi lần vay là 5.200.000 đồng cũng với lãi suất 800.000 đồng/30 ngày. Cả 03 lần vay sau O đều sử dụng số tiền 5.200.000 đồng đã thu của bà L trước đó để cho vay lại. Tổng số tiền lãi O đã thu của bà L là 3.200.000 đồng (04 x 800.000 đồng). Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 341.917,808 đồng (20%/365 ngày x 5.200.000 đồng x 30 ngày x 04 lần). O đã thu lợi bất chính số tiền là 3.200.000 đồng - 341.917,808 đồng = 2.858.082,19 đồng.
+ Lần thứ ba: Vào tháng 02/2022 vay của O số tiền 10.400.000 đồng, theo hình thức vay góp, thời hạn vay 30 ngày, với lãi suất 1.600.000 đồng/30 ngày (lãi suất 187,18%/năm, hằng ngày L phải trả cho O số tiền 400.000 đồng, thành số tiền 12.000.000 đồng). Khi đóng hết 30 ngày của khoản vay trên thì bà L tiếp tục vay thêm 02 lần nữa với mỗi lần vay là 10.400.000 đồng, với lãi suất 1.600.000 đồng/30 ngày. Cả 02 lần cho vay sau, O đều sử dụng số tiền 10.400.000 đồng đã thu trước đó của bà L để cho vay lại. Tổng số tiền lãi O đã thu của bà L là 4.800.000 đồng (03 x 1.600.000 đồng). Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 512.876,712 đồng (20%/365 ngày x 10.400.000 đồng x 30 ngày x 03 lần). O đã thu lợi bất chính số tiền là 4.800.000 đồng - 512.876,712 đồng = 4.287.123,29 đồng.
+ Lần thứ tư: Vào tháng 5/2022 vay của O số tiền 13.000.000 đồng, theo hình thức vay trả góp, thời hạn vay 30 ngày, với lãi suất 2.000.000 đồng/30 ngày (lãi suất 187,18%/năm, hằng ngày L phải trả cho O số tiền 500.000 đồng, thành số tiền 15.000.000 đồng). Khi trả hết 30 ngày của khoản vay trên thì bà L tiếp tục vay thêm 04 lần nữa với mỗi lần vay là 13.000.000 đồng cũng với lãi suất 2.000.000 đồng/30 ngày. Cả 04 lần cho vay sau, O đều sử dụng số tiền 13.000.000 đồng đã thu trước đó của bà L để cho vay lại. Tổng số tiền lãi O đã thu của bà L là 10.000.000 đồng (05 x 2.000.000 đồng). Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 1.068.493,15 đồng (20%/365 ngày x 13.000.000 đồng x 30 ngày x 05 lần). O đã thu lợi bất chính số tiền là 10.000.000 đồng - 1.068.493,15 đồng = 8.931.506,85 đồng.
Tổng số tiền lãi O đã thu của bà L là 19.200.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 2.051.506,85 đồng. O thu lợi bất chính tổng số tiền là 19.200.000 đồng - 2.051.506,85 đồng = 17.148.493,2 đồng. Bà L đã trả đủ tiền gốc và lãi cho O.
3. Bà Nguyễn Hồng T2 vay 02 lần:
+ Lần thứ nhất: Vào tháng 3/2022, vay của O số tiền 15.000.000 đồng theo hình thức vay đứng, với lãi suất thỏa thuận là 3.000 đồng/1.000.000 triệu/01 ngày (lãi suất tương ứng 109,5%/năm), khoản vay này bà T2 đã trả tiền lãi được 150 ngày, với số tiền lãi đã thu là 6.750.000 đồng (3.000 đồng x 150 ngày x 15.000.000 đồng); Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 1.232.876,71 đồng (20%/365 ngày x 15.000.000 đồng x 150 ngày). O đã thu lợi bất chính số tiền là 6.750.000 đồng – 1.232.876,71 đồng = 5.517.123,29 đồng.
+ Lần thứ hai: Vào tháng 9/2022, vay của O số tiền 10.400.000 đồng theo hình thức vay góp, thời hạn vay 30 ngày, với mức lãi suất là 1.600.000 đồng/30 ngày (lãi suất tương ứng 187,18 %/năm), hằng ngày bà T2 phải trả cho O số tiền 400.000 đồng. Khi trả hết 30 ngày của khoản vay trên, bà T2 tiếp tục vay thêm 21 lần nữa với mỗi lần vay là 10.400.000 đồng cũng với lãi suất 1.600.000 đồng/30 ngày. Cả 21 lần cho vay sau, O đều sử dụng số tiền 10.400.000 đồng đã thu trước đó của bà T2 để cho vay lại.
Đến ngày 25/6/2024, bà T2 còn đang nợ lại Oanh 04 ngày tiền gốc và lãi chưa đóng với số tiền 1.600.000 đồng (trong đó: Tiền gốc là 1.386.666,7 đồng; tiền lãi là 213.333,3 đồng). Tổng số tiền lãi O đã thu của bà L là 34.986.666,7 đồng (1.600.000 đồng x 22 lần - 213.333,3 đồng). Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 3.738.301,37 đồng (20%/365 ngày x 10.400.000 đồng x 656 ngày). O đã thu lợi bất chính số tiền là 34.986.666,7 đồng - 3.738.301,37 đồng = 31.248.365,33 đồng.
Như vậy, với việc cho bà T2 vay những khoản vay nói trên thì O đã thu của bà T2 tổng số tiền lãi là 41.736.666,7 đồng; Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 4.971.178,08 đồng. O thu lợi bất chính tổng số tiền là 41.736.666,7 đồng - 4.971.178,08 đồng = 36.765.488,62 đồng. Bà T2 còn nợ O 1.386.666,7 đồng tiền gốc và 213.333,3 đồng tiền lãi.
4. Bà Đào Thị Kiều T3 vay 03 lần:
+ Lần thứ nhất: Vào ngày 27/4/2022, vay của O số tiền 2.600.000 đồng theo hình thức vay góp, thời hạn vay 30 ngày, với mức lãi suất 400.000 đồng/30 ngày (lãi suất tương ứng 187,18 %/năm), hằng ngày bà T3 phải trả cho O số tiền 100.000 đồng. Khi trả hết 30 ngày của khoản vay trên thì bà T3 tiếp tục vay thêm 09 lần nữa với mỗi lần vay là 2.600.000 đồng cũng với lãi suất 400.000 đồng/30 ngày. Cả 09 lần cho vay sau, O đều sử dụng số tiền 2.600.000 đồng đã thu trước đó của bà T3 để cho vay lại. Tổng số tiền gốc 10 lần bà T3 vay của O nêu trên là 26.000.000 đồng, số tiền lãi O đã thu của bà T3 là 4.000.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 427.397,26 đồng (20%/365 ngày x 2.600.000 đồng x 30 ngày x 10 lần). O đã thu lợi bất chính số tiền là 4.000.000 đồng - 427.397,26 đồng = 3.572.602,74 đồng.
+ Lần thứ hai: Tháng 01/2023, vay của O số tiền 3.000.000 đồng theo hình thức vay đứng, với lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng /01 ngày, (lãi suất tương ứng 182,5%/năm), khoản vay này bà T3 đã trả tiền lãi được 390 ngày, với số tiền lãi đã thu là 5.850.000 đồng (5.000 đồng x 390 ngày x 3.000.000 đồng). Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 641.095,89 đồng (20%/365 ngày x 3.000.000 đồng x 390 ngày). O đã thu lợi bất chính số tiền là 5.850.000 đồng - 641.095,89 đồng = 5.208.904,11 đồng.
+ Lần thứ ba: Tháng 2/2023, vay của O số tiền 2.600.000 đồng theo hình thức vay góp, thời hạn vay 30 ngày, với lãi suất 400.000 đồng/30 ngày (lãi suất tương ứng 187,18 %/năm), hằng ngày bà T3 phải trả 100.000 đồng. Khi trả hết 30 ngày của khoản vay trên thì bà T3 tiếp tục vay thêm 11 lần nữa với mỗi lần vay là 2.600.000 đồng cũng với lãi suất 400.000 đồng/30 ngày. Cả 11 lần cho vay sau, O đều sử dụng số tiền 2.600.000 đồng đã thu trước đó của bà T3 để cho vay lại. Tổng số tiền gốc 12 lần bà T3 vay của O nêu trên là 31.200.000 đồng, số tiền lãi O đã thu của bà T3 là 4.800.000 đồng. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 512.876,712 đồng (20%/365 ngày x 2.600.000 đồng x 30 ngày x 12 lần). O đã thu lợi bất chính số tiền là 4.800.000 đồng - 512.876,712 đồng = 4.287.123,29 đồng.
Tổng số tiền lãi O đã thu của bà T3 là 14.650.000 đồng; Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 1.581.369,9 đồng. O đã thu lợi bất chính số tiền là 14.650.000 đồng - 1.581.369,9 đồng = 13.068.630,1 đồng. Bà T3 đã trả đủ tiền gốc và tiền lãi cho O.
5. Bà Hoàng Thị T4 vay 02 lần:
+ Lần thứ nhất: Vào ngày 05/3/2024, vay của O số tiền 50.000.000 đồng theo hình thức vay đứng, với mức lãi suất là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày (lãi suất tương ứng 182,5%/năm), khoản vay này bà T4 đã trả tiền lãi được 90 ngày, với số tiền lãi đã thu là 22.500.000 đồng (5.000 đồng x 90 ngày x 50.000.000 đồng); Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 2.465.753,42 đồng (20%/365 ngày x 50.000.000 đồng x 90 ngày). O đã thu lợi bất chính số tiền là 22.500.000 đồng – 2.465.753,42 đồng = 20.034.246,6 đồng.
Theo hợp đồng vay thì bà T4 còn nợ lại Oanh 20 ngày tiền lãi (từ ngày 06/6/2024 đến ngày 25/6/2024), với số tiền là 5.000.000 đồng; tuy nhiên, O đã thống nhất với bà T4 là sẽ cho bà T4 và không lấy nữa.
+ Lần thứ hai: Vào tháng 4/2024, vay của O số tiền 20.000.000 đồng, theo hình thức vay đứng, với mức lãi suất là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày (lãi suất tương ứng 182,5%/năm), khoản vay này bà T4 đã trả tiền lãi được 30 ngày, với số tiền lãi đã thu là 3.000.000 đồng (5.000 đồng x 30 ngày x 20.000.000 đồng); Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767,123 đồng (20%/365 ngày x 20.000.000 đồng x 30 ngày). O đã thu lợi bất chính số tiền là 3.000.000 đồng - 328.767,123 đồng = 2.671.232,88 đồng.
Theo hợp đồng vay thì bà T4 còn nợ lại O 30 ngày tiền lãi (tháng 6/2024 chưa đóng), với số tiền là 3.000.000 đồng; tuy nhiên, O đã thống nhất với bà T4 là sẽ cho bà T4 và không lấy nữa.
Tổng số tiền lãi O đã thu của bà T4 là 25.500.000 đồng; Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 2.794.520,5 đồng. O đã thu lợi bất chính số tiền là 25.500.000 đồng – 2.794.520,5 đồng = 22.705.479,5 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Nguyễn Thị O đã tự nguyện trả lại số tiền thu lợi bất chính cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan sau: Trả lại cho bà Hoàng Thị Như N, số tiền 23.434.703,2 đồng; bà Hoàng Thị T4, số tiền 22.705.479,5 đồng; bà Nguyễn Hồng T2, số tiền 36.765.488,7 đồng; bà Đào Thị Kiều T3, số tiền 13.068.630,1 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ tài sản và đồ vật gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu hồng phấn, số IMEI: 351942837746369, gắn sim số 0968449072; 01 hợp đồng vay tiền đề ngày 05/3/2024, số tiền 50.000.000 đồng giữa bên cho vay là Nguyễn Thị O và bên vay là Hoàng Thị T4; 01 hợp đồng vay tiền đề ngày 29/6/2021, số tiền 10.000.000 đồng giữa bên cho vay là Nguyễn Thị O và bên vay là Hoàng Thị Như N; 01 quyển vở ô li học sinh, bìa màu trắng, bên ngoài có in dòng chữ “ABCD”, bên trong tại trang số 20, 21 có ghi các chữ và số.
Tại Bản Cáo trạng số 113/CT-VKS-HS, ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'leo truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Ea H'leo để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thị O, về tội: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Kết quả tranh luận tại phiên toà sau khi phân tích chứng cứ buộc tội, tính chất mức độ hành vi tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị O phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị O từ 07 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách bằng hai lần mức án đã tuyên.- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự, xử phạt bổ sung bị cáo với số tiền từ 30.000.000 đồng. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP, ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự về việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, đề nghị:
Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước 161.080.000 đồng tiền gốc bị cáo sử dụng để cho vay và 13.497.205 đồng tiền lãi theo quy định của Nhà nước (20%/năm), mà bị cáo đã thu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Truy thu số tiền gốc bà Hoàng Thị Như N còn nợ bị cáo chưa trả 2.333.333,33 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
Truy thu số tiền gốc bà Nguyễn Hồng T2 còn nợ bị cáo chưa trả là 1.386.666,7 đồng để sung ngân sách Nhà nước.
Chấp nhận việc bị cáo đã trả lại số tiền thu lợi bất chính cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Hoàng Thị Như N 23.434.703,2 đồng; bà Nguyễn Hồng T2 36.765.488,7 đồng; bà Đào Thị Kiều T3 13.068.630,1 đồng; bà Hoàng Thị T4 22.705.479,5 đồng.
Truy thu số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo đã thu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (người vay) để trả lại cho người này, gồm: Trả cho bà Quách Thị Bích L số tiền 17.148.493,1 đồng;
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu hồng phấn, số IMEI: 351942837746369, là công cụ, phương tiện Nguyễn Thị O sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với thẻ sim số 0968449072, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 hợp đồng vay tiền đề ngày 05/3/2024, số tiền 50.000.000 đồng giữa bên cho vay là Nguyễn Thị O và bên vay là Hoàng Thị T4; 01 hợp đồng vay tiền đề ngày 29/6/2021, số tiền 10.000.000 đồng giữa bên cho vay là Nguyễn Thị O và bên vay là Hoàng Thị Như N; 01 quyển vở ô li học sinh, bìa màu trắng, bên ngoài có in dòng chữ “ABCD”, bên trong tại trang số 20, 21 có ghi các chữ và số, đây là chứng cứ, có giá trị chứng minh hành vi phạm tội nên cần lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì về tội danh, mức hình phạt và biện pháp tư pháp mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị Như N, Nguyễn Hồng T2, Đào Thị Kiều T3, Hoàng Thị T4, Quách Thị Bích L đều có đơn xin vắng mặt. Trong quá trình điều tra và truy tố đã có lời khai của những người này nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3]. Về nội dung: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2021 đến tháng 6/2024, Nguyễn Thị O đã sử dụng số tiền gốc 164.800.000 đồng để cho 05 người vay tiền, dưới hình thức cho vay tiền đứng hoặc vay tiền góp, với lãi suất từ 109,5%/năm đến 243,33%/năm; tổng số tiền lãi bị cáo đã thu là 126.620.000 đồng, trong đó số tiền lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước (20%) tại thời điểm cho vay là 13.497.205 đồng; Nguyễn Thị O đã thu lợi bất chính số tiền là 113.122.795 đồng.
Tại Điều 201 Bộ luật Hình sự quy định:
- “1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm;
- 2. Phạm tội mà thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”.
Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị O đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ.
Xét thấy, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được hành vi cho người khác vay tiền với lãi suất cao, vượt quá quy định của Nhà nước nhằm thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính và các quan hệ dân sự thông thường, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, nhưng do hám lợi và ý thức xem thường pháp luật, nên bị cáo đã cố ý thực hiện. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, trả lại số tiền thu lợi bất chính cho bà Hoàng Thị Như N 23.434.703,2 đồng; bà Nguyễn Hồng T2 36.765.488,7 đồng; bà Đào Thị Kiều T3 13.068.630,1 đồng; bà Hoàng Thị T4 22.705.479,5 đồng, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, ngoài ra bị cáo có cha đẻ từng tham gia quân đội; có ông ngoại là liệt sĩ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có nơi cư trú ổn định rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình bị cáo, cũng đảm bảo tính giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét mức hình phạt chính mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
Đối với hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 BLHS, khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP, ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự về việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Xử phạt bổ sung bị cáo với số tiền 30.000.000 đồng.
[5]. Về xử lý vật chứng:
Số tiền gốc 161.080.000 đồng bị cáo sử dụng cho vay và 13.497.205 đồng tiền lãi theo quy định của Nhà nước (20%/năm) bị cáo đã thu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cần truy thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền nợ gốc mà những người có quyền, nghĩa vụ liên quan chưa trả cho bị cáo gồm: bà Hoàng Thị Như N 2.333.333,33 đồng; bà Nguyễn Hồng T2 1.386.666,7 đồng, đây là số tiền sử dụng vào việc phạm tội nên cần truy thu buộc những người này nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.
- Việc bị cáo đã trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan số tiền thu lợi bất chính, cụ thể như sau: Trả lại cho bà Hoàng Thị Như N, số tiền 23.434.703,2 đồng; bà Nguyễn Hồng T2, số tiền 36.765.488,7 đồng; bà Đào Thị Kiều T3, số tiền 13.068.630,1 đồng; bà Hoàng Thị T4, số tiền 22.705.479,5 đồng là tự nguyện nên chấp nhận.
Đối với số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo đã thu của bà Quách Thị Bích L là 17.148.493,1 đồng cần buộc bị cáo trả lại cho bà L.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu hồng phấn, số IMEI: 351942837746369, là công cụ, phương tiện Nguyễn Thị O sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với thẻ sim số 0968449072, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 hợp đồng vay tiền đề ngày 05/3/2024, số tiền 50.000.000 đồng giữa bên cho vay là Nguyễn Thị O và bên vay là Hoàng Thị T4; 01 hợp đồng vay tiền đề ngày 29/6/2021, số tiền 10.000.000 đồng giữa bên cho vay là Nguyễn Thị O và bên vay là Hoàng Thị Như N; 01 quyển vở ô li học sinh, bìa màu trắng, bên ngoài có in dòng chữ “ABCD”, bên trong tại trang số 20, 21 có ghi các chữ và số, đây là chứng cứ, có giá trị chứng minh hành vi phạm tội nên cần lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
[6]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị O phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị O phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị O 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 14 (mười bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã hưởng án treo.
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 BLHS; Khoản 3 Điều 3 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP, ngày 20/12/2021; Phạt bổ sung Nguyễn Thị O 30.000.000đ.
- Các biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP, ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự về việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Truy thu sung ngân sách Nhà nước 161.080.000 đồng tiền gốc bị cáo sử dụng cho vay lãi nặng và 13.497.205 đồng tiền lãi theo quy định của Nhà nước (20%/năm) mà bị cáo đã thu của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền nợ gốc mà những người đã vay chưa trả cho bị cáo O, gồm: bà Hoàng Thị Như N, số tiền 2.333.333,33 đồng; bà Nguyễn Hồng T2, số tiền 1.386.666,7 đồng.
Chấp nhận việc bị cáo đã trả lại số tiền thu lợi bất chính cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cụ thể như sau: Trả lại cho bà Hoàng Thị Như N, số tiền 23.434.703,2 đồng; bà Nguyễn Hồng T2, số tiền 36.765.488,7 đồng; bà Đào Thị Kiều T3, số tiền 13.068.630,1 đồng; bà Hoàng Thị T4, số tiền 22.705.479,5 đồng.
Buộc bị cáo phải trả lại cho bà Quách Thị Bích L số tiền thu lợi bất chính là 17.148.493,1 đồng.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu hồng phấn, số IMEI: 351942837746369, là công cụ, phương tiện Nguyễn Thị O sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy đối với thẻ sim số 0968449072.
Lưu hồ sơ vụ án đối với 01 hợp đồng vay tiền đề ngày 05/3/2024, số tiền 50.000.000 đồng giữa bên cho vay là Nguyễn Thị O và bên vay là Hoàng Thị T4; 01 hợp đồng vay tiền đề ngày 29/6/2021, số tiền 10.000.000 đồng giữa bên cho vay là Nguyễn Thị O và bên vay là Hoàng Thị Như N; 01 quyển vở ô li học sinh, bìa màu trắng, bên ngoài có in dòng chữ “ABCD”, bên trong tại trang số 20, 21 có ghi các chữ và số, là chứng cứ của vụ án.
(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Ea H'Leo).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị O phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Long |
Bản án số 122/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự)
- Số bản án: 122/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn THị O thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
