Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 122/2024/HNGĐ-ST

Ngày 15 - 10 - 2024

“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thu Thúy
  2. Bà Hồ Thị Lan

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lý – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 10 năm 2024 tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc "ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 214/2024/QÐST-HNGĐ ngày 29 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Phạm Văn D, sinh năm 1981; nơi cư trú: tổ D, khu T, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.

2. Bị đơn: Chị Đàm Thị P, sinh năm 1984; nơi thường trú: tổ D, khu T, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: tổ C, khu C, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện ngày 22/3/2024, bản tự khai ngày 27/6/2024, nguyên đơn anh Phạm Văn D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh tự nguyện đăng ký kết hôn với chị Đàm Thị P vào ngày 09/7/2014 tại Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H (nay là Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H), tỉnh Quảng Ninh. Trước khi kết hôn anh và chị P chưa ai có vợ có chồng và có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 04 tháng. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về lối sống và cách sinh hoạt, chị P mâu thuẫn với gia đình nhà chồng dẫn đến hai vợ chồng cãi vã về nhiều vấn đề khác trong cuộc sống, không thể tìm được tiếng nói chung để cùng đi đến cách giải quyết. Khi mâu thuẫn xảy ra thì anh chị có tìm những biện pháp khắc phục nhưng không được. Từ năm 2020, anh và chị P đã sống ly thân, không ai còn quan tâm đến ai. Đến nay, anh thấy mâu thuẫn giữa anh và chị P đã trầm trọng, không thể khắc phục và hàn gắn được, bản thân anh không còn tình cảm với chị P nên đề nghị tòa án giải quyết cho được ly hôn chị P.

Về con chung: Anh và chị Đàm Thị P có 01 (một) con chung là Phạm Tú L, sinh ngày 05/5/2016. Anh đề nghị khi ly hôn chị P là người nuôi con chung và tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 1.800.000 đồng.

Về tài sản chung: Anh và chị Đàm Thị P tự thỏa thuận về tài sản chung, anh và chị P không có nợ chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

2. Tại bản tự khai ngày 05/7/2024, bị đơn - chị Đàm Thị P trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: về thời gian, điều kiện, hoàn cảnh kết hôn giữa chị và anh D như anh D đã trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị sống chung với nhau đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, kinh tế nên dẫn đến hay xảy ra cãi vã, sứt mẻ tình cảm. Khi mâu thuẫn xảy ra thì anh chị có tìm nhiều biện pháp khắc phục nhưng không được. Từ năm 2020, chị và anh D đã sống ly thân và không có khả năng hàn gắn. Hiện tại, chị thấy mâu thuẫn của chị và anh D đã rất trầm trọng, không thể khắc phục được, chị đồng ý ly hôn với anh D.

Về con chung: về con chung của chị với anh D như anh D đã trình bày là đúng sự thật. Chị đồng ý với quan điểm của anh D về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung, chị là người trực tiếp nuôi con chung Phạm Tú L, sinh ngày 05/5/2016, anh D sẽ cấp dưỡng nuôi con chung 2.500.000đ/tháng.

3. Tại phiên hòa giải ngày 04/9/2024, anh Phạm Văn D và chị Đàm Thị P đã thỏa thuận: về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn D và chị Đàm Thị P thuận tình ly hôn; về con chung: Anh Phạm Văn D và chị Đàm Thị P có 01 (một) con chung là Phạm Tú L, sinh ngày 05/5/2016. Anh Phạm Văn D và chị Đàm Thị P thống nhất thỏa thuận: Chị Đàm Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung Phạm Tú L, sinh ngày 05/5/2016 đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi); anh D cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.500.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng từ tháng 9/2024 cho đến khi con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Dũng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở; về tài sản chung: Anh Phạm Văn D và chị Đàm Thị P tự thỏa thuận về tài sản chung, anh D và chị P không có nợ chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết; về án phí: Anh Phạm Văn D chịu toàn bộ án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Ngày 11/9/2024, chị P có đơn thay đổi thỏa thuận nêu trên, yêu cầu tăng mức cấp dưỡng nuôi con chung từ 2.500.000 đồng/tháng lên 3.000.000 đồng/tháng.

4. Xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện: Anh D1 và chị P là công dân của tổ D, khu T, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Mâu thuẫn cụ thể của anh chị địa phương không nắm được. Anh D1 và chị P sống ly thân nhiều năm và có 01 con chung là Phạm Tú L, sinh năm 2016 hiện đang sống với chị P.

5. Xác nhận đại diện tổ C, khu C, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh được biết: Chị P và anh D1 có nhà ở địa phương. Chị P hiện đang sống tại tổ C, khu C, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh cùng con gái là Phạm Tú L, không thấy anh D1 đến ở cùng chị P.

6. Trong quá trình giải quyết vụ án, tòa án tiến hành lấy lời khai của cháu Phạm Tú L, sinh ngày 05/5/2016 là con chung của chị P và anh D1. Cháu L có nguyện vọng được ở với chị P.

7. Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên quan điểm như trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, về con chung giao con chung cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Về mức cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Dũng đề nghị Tòa án giải quyết mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

8. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự cơ bản đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho anh Phạm Văn D được ly hôn với chị Đàm Thị P; về con chung: giao con chung Phạm Tú L, sinh ngày 05/5/2016 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, anh D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.500.000 đồng/tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình “về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn có nơi cư trú tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Chị Đàm Thị P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa anh Phạm Văn D và chị Đàm Thị P là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của anh D, Hội đồng xét xử thấy: mâu thuẫn giữa hai vợ chồng anh D và chị P là do bất đồng quan điểm sống, kinh tế. Theo xác nhận của hai bên đương sự thì vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã dẫn đến sứt mẻ tình cảm. Anh D1 và chị P đã sống ly thân nhau, khi ly thân mỗi người sống một nơi. Anh D1 và chị P đều xác định mâu thuẫn của vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm dành cho nhau không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Anh D1 và chị P cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Phạm Văn D và chị Đàm Thị P.

[3] Về con chung: Anh Phạm Văn D và chị Đàm Thị P có 01 (một) con chung là Phạm Tú L, sinh ngày 05/5/2016. Anh D1 và chị P cùng thống nhất giao con chung cho chị P trực tiếp nuôi con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi).

Hội đồng xét xử thấy rằng: Anh D1 và chị P thỏa thuận được với nhau về việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của con chung, phù hợp với nguyện vọng của con chung được ở với chị P nên Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các đượng sự giao con chung Phạm Tú L, sinh ngày 05/5/2016 cho chị P trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: tại đơn khởi kiện ngày 22/3/2024, nguyên đơn anh Phạm Văn D tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung 1.800.000 đồng một tháng. Tại phiên hòa giải ngày 04/9/2024, anh D và chị P thỏa thuận với nhau về mức cấp dưỡng, anh D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.500.000 đồng một tháng.

Ngày 11/9/2024, chị P có đơn đề nghị thay đổi thỏa thuận về mức cấp dưỡng nuôi con chung từ 2.500.000 đồng một tháng lên thành 3.000.000 đồng một tháng.

Tại phiên tòa, anh D đề nghị Tòa án giải quyết mức cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy, về mức cấp dưỡng các đương sự không thỏa thuận với nhau, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, anh D đề nghị tòa án giải quyết về mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; chị P không có mặt tại phiên tòa để trình bày quan điểm về vấn đề này. Căn cứ vào khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định: “...Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”; Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CPDanh mục địa bàn vùng I, vùng II, vùng III, vùng IVquy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định 74/2024/NĐ-CPmức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc tại tỉnh Quảng Ninh như sau: “Vùng I: Lương tối thiểu theo tháng là 4.960.000 đồng, lương tối thiểu theo giờ là 23.800 đồng. Áp dụng đối với: Các thành phố H, U, M và các thị xã Q, Đ”. Do vậy, buộc anh D cấp dưỡng nuôi con chung 2.500.000 đồng một tháng là có căn cứ, phù hợp với khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Thời hạn cấp dưỡng kể từ tháng 10/2024 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).

[5] Về tài sản chung: Anh Phạm Văn D và chị Đàm Thị P không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về nợ chung: Anh Phạm Văn D và chị Đàm Thị P không có nợ chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về án phí: Nguyên đơn và bị đơn thuận tình ly hôn trước khi mở phiên tòa sơ thẩm thì các bên đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định (mỗi bên phải chịu 25% mức án phí quy định). Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng.

[8] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Đối với ý kiến của kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 26; điểm a khoản 5, điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Phạm Văn D và chị Đàm Thị P.

2. Về con chung: giao con chung Phạm Tú L, sinh ngày 05/5/2016 cho chị Đàm Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi).

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Phạm Văn D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Phạm Tú L 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 10/2024 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).

Sau khi ly hôn, anh Phạm Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Phạm Văn D lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Đàm Thị P có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Đàm Thị P không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Phạm Văn D có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Anh Phạm Văn D tự nguyện nộp cả 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000879 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Anh D1 còn phải nộp 150.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Phạm Văn D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn chị Đàm Thị P có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP Hạ Long;
  • - Chi cục THADS TP Hạ Long;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND phường Hoành Bồ, TP. Hạ Long;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HNGĐ-ST ngày 15/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 122/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn D - Đàm Thị P ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger