Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 122/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05 - 9 - 2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Ngọc Mai.
  2. Ông Mai Thương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Liên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Trong ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 306/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 185/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Tuấn A, sinh năm 1988.

Hộ khẩu thường trú: Số B, đường M, khu phố A, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Nơi cư trú: Số C, đường số F, thôn F, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Ông Lê Sỹ T, sinh năm 1989.

Nơi cư trú: Số B, đường M, khu phố A, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa, vắng mặt nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt, vắng mặt bị đơn không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phạm Tuấn A trình bày: Bà và ông Lê Sỹ T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V ngày 27/10/2014, đăng ký kết hôn số 121/2014. Sau khi kết hôn, ông bà sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống gia đình ngột ngạt, không hạnh phúc. Ngoài ra, giữa bà và gia đình chồng cũng phát sinh một số mâu thuẫn về quan điểm sống. Bà xác định không còn tình cảm với ông T mâu thuẫn vợ chồng thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, yêu cầu ly hôn ông T.

Về con chung, ông bà có 01 con chung là Lê Sỹ D, sinh ngày 05/12/2018. Bà yêu cầu được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu D, yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung, ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình tố tụng, bị đơn ông Lê Sỹ T trình bày: Ông thống nhất với bà A về quá trình tìm hiểu, kết hôn, con chung và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Bà A yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý ly hôn do vẫn còn tình cảm với bà A, không muốn con không có cha, mẹ. Trường hợp Toà án giải quyết ly hôn thì ông đồng ý để cho bà A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con Lê Sỹ D, ông sẽ cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ chung, ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về các vấn đề có tranh chấp trong vụ án nhưng không hoà giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là ly hôn, tranh chấp về nuôi con, quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

Về sự có mặt của các đương sự: Nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có tài liệu, chứng cứ thể hiện sự vắng mặt của bị đơn là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.

[2] Nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Bà Phạm Tuấn A và ông Lê Sỹ T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V ngày 27/10/2014, đăng ký kết hôn số 121/2014. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, quá trình chung sống, vợ chồng ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn nên bà A đã yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Qua lời khai của nguyên đơn, bị đơn, thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng ông bà phát sinh là do bất đồng quan điểm, tính tình không hoà hợp dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, hôn nhân không hạnh phúc. Mặt khác, bên cạnh mâu thuẫn với ông T thì bà A còn có một số bất đồng, mâu thuẫn với gia đình bên chồng. Từ những phân tích trên, thấy rằng, mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, vì vậy xử cho bà A ly hôn ông T là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Ông bà có 01 con chung là cháu Lê Sỹ D, sinh ngày 05/12/2018. Bà A và ông T đều thống nhất giao con cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng nên căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu D cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[2.3] Về cấp dưỡng: Bà A yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Ông T cũng đồng ý với mức cấp dưỡng trên. Vì vậy, cần công nhận sự thoả thuận trên, buộc ông T phải cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.

Đối với khoản tiền cấp dưỡng, bà A có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong bản án này.

[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà A là người khởi kiện ly hôn nên phải chịu án phí DSST về ly hôn. Ông T là người phải cấp dưỡng nên phải chịu án phí DSST về cấp dưỡng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 và 85 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • Về hôn nhân: Bà Phạm Tuấn A ly hôn ông Lê Sỹ T.
  • Về con chung: Bà Phạm Tuấn A được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con Lê Sỹ D, sinh ngày 05/12/2018. Ông Lê Sỹ T phải cấp dưỡng nuôi con là 2.000.000 đồng/tháng, cấp dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Đối với khoản tiền cấp dưỡng, bà A có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí DSST:

Bà Phạm Tuấn A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do bà A đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004682 ngày 12 tháng 7 năm 2024. Bà A đã nộp đủ án phí DSST.

Ông Lê Sỹ T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, án phí nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - CCTHADS huyện Đức Linh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND thị trấn Võ Xu;
  • - TAND tỉnh;
  • - Lưu HSVA, QĐ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Ngọc Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 122/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Tuấn A "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" Lê Sỹ T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger